Ví von cũng lắm dạng nằm trong thơ

Posted: 03/12/2011 in Biên Khảo / Phê Bình, Đàm Trung Pháp

Đàm Trung Pháp


Thiếu nữ, chim và hoa hồng – Dương Tuấn Kiệt

Tài liệu giáo khoa tại các quốc gia sử dụng tiếng Anh phân biệt hai phương cách ví von trong ngôn ngữ. Cách thứ nhất là sự ví von gián tiếp giữa hai yếu tố qua môi giới của các chữ hoặc nhóm chữ dùng để so sánh như like, as, than, seem, similar to. Cách ví von gián tiếp này được mệnh danh là simile (ví von). Cách thứ hai so sánh trực tiếp, không cần môi giới chi cả, mang tên là metaphor (ẩn dụ). Theo các định nghĩa này, câu thơ dưới đây của Robert Burns là một ví von:

O my love’s like a red, red rose!

Ôi, người yêu tôi như một bông hồng thật đỏ!

Trong khi đó, hai câu thơ sau đây của Sir Walter Raleigh là một ẩn dụ:

But love is a durable flame
In the mind ever burning.

Nhưng tình yêu là lửa lâu dài
Trong tâm tư luôn luôn bừng cháy.

Trong phạm vi nhỏ hẹp của bài này, tôi xin chia xẻ với quý bạn đọc một số mô thức để thể hiện ví von trong thi ca của vài ngôn ngữ khác nhau. Đề tài ẩn dụ sẽ được trình bầy trong một bài viết khác.

Thông thường, sự ví von được coi như một lượng giá tương đương giữa yếu tố được đề cập đến (A) và yếu tố ví von (B), theo mô thức A ngang B. Nhưng cũng có những ví von dựa trên các mô thức A hơn B, A kém B, hoặc A hơn tất cả.

Mô thức căn bản A ngang B phổ cập nhất, như thấy trong câu ca dao lục bát “Nhớ ai bổi hổi bồi hồi / Như đứng đống lửa, như ngồi đống than” mà trong đó câu lục là yếu tố A và câu bát là yếu tố B với hai ví von.

Lý Bạch mở đầu bài “Xuân Tứ” bằng cách ví von mầu cỏ yên khi mùa xuân về như tơ xanh:

Yên thảo như bích ti.

Cỏ yên như tơ xanh.

Trong bài thơ vẽ lên một mùa xuân diễm lệ đang dừng gót trên một mặt hồ tại đất Hàng Châu, Bạch Cư Dị mở đầu bằng cách so sánh mùa xuân với một bức tranh:

Hồ thượng xuân lai tự họa đồ.

Xuân về trên hồ tựa bức tranh.

Heinrich Heine ví von nét yêu kiều của một bông hoa biết nói với một bông hoa thật như thế này:

Du bist wie eine Blume
So hold und schoen und rein.

Em trông như một đóa hoa
Ôi bao duyên dáng, mặn mà, băng trinh.

Nữ nhạc sĩ Consuelo Velázquez, tác giả bài ca “Bésame mucho” nóng bỏng, đã mạnh bạo đề nghị người bạn trai hãy hôn nàng như thể đêm nay là lần cuối cùng họ hôn nhau trong đời:

Bésame, bésame mucho
como si fuera esta noche la última vez!

Hãy hôn em, hôn em cho đắm đuối
như thể tối nay đêm cuối cuộc đời!

Một William Wordsworth đang chán chường thế sự đã ví von sự lãng du cô đơn của mình như một áng mây trời:

I wandered lonely as a cloud
That floats on high o’er vales and hills.

Lang thang cô độc như một áng mây trời
Ta lờ lững trên núi đồi cùng thung lũng.

Trên đường đi thăm mộ người con gái yêu thương mới qua đời trong một tai nạn thảm khốc, một Victor Hugo cô đơn, buồn tủi chẳng để ý chi đến ngoại cảnh. Như thầm thì nói chuyện với con dưới mộ, thi hào đã ví từ nay ngày đối với mình sẽ như đêm tối:

Je marcherai, les yeux fixés sur mes pensées,
Sans rien voir au dehors, sans entendre aucun bruit,
Seul, inconnu, le dos courbé, les mains croisées,
Triste, et le jour pour moi sera comme la nuit.

Cha sẽ đi, mắt tập trung vào suy nghĩ,
Không nhìn quanh, chẳng nghe ngóng điều chi,
Cô đơn, lạc lõng, lưng cúi, đôi tay khoanh chặt,
Sầu bi, ngày với cha sẽ như đêm tối mất thôi.

Để mô tả tiếng đàn Thúy Kiều gẩy cho Kim Trọng nghe sau khi nàng đã cùng chàng thề nguyền, Nguyễn Du giáng xuống một chuỗi ví von đắc địa :

Trong như tiếng hạc bay qua,
Đục như tiếng suối mới sa nửa vời,
Tiếng khoan như gió thoảng ngoài,
Tiếng mau sầm sập như trời đổ mưa.

Để giới thiệu một giai nhân chẳng phải là người trong cõi chúng ta, Đinh Hùng sử dụng một lúc hai ví von tráng lệ cho “Kỳ Nữ”:

Em rực rỡ như muôn ngàn hoa sớm,
Em đến đây như đến tự thiên đường.

Mô thức A ngang B cũng có thể được thể hiện một cách tân kỳ hơn. Chẳng hạn trong tiếng Việt, nếu A có trạng từ chỉ số lượng “bao nhiêu” thì B có trạng từ chỉ số lượng tương đương “bấy nhiêu” đáp lại, như trong câu ví von dễ thương của một tình yêu nơi thôn quê thuở trước làm ấm lòng người nghe không ít:

Qua đình ngả nón trông đình,
Đình bao nhiêu ngói, thương mình bấy nhiêu!

Mô thức A hơn B được thấy rõ rệt khi William Shakespeare so sánh sự yếu đuối của mình với một giọt lệ đàn bà:

I am weaker than a woman’s tear.

Tôi yếu đuối hơn một giọt lệ đàn bà.

Một khách tình si nói tiếng Pháp có thể sử dụng cả hai mô thức A hơn BA kém B để thú nhận điều mỗi ngày gặp người yêu là chàng càng yêu nàng hơn, hơn hôm qua nhưng lại kém ngày mai:

Chaque jour je te vois et je t’aime davantage,
beaucoup plus qu’hier mais bien moins que demain.

Càng gặp em anh càng yêu hơn nữa,
hơn qua nhiều nhưng kém hẳn ngày mai.

Vị thế “độc tôn” trong mô thức ví von A hơn tất cả đã được William Wordsworth sử dụng để đề cao vẻ đẹp của một kiều nữ bí mật: Nàng như một bông đổng thảo bên cạnh tảng đá rêu phong, ít người nhìn thấy. Nhưng nàng đẹp lắm, này nhé:

A violet by a mossy stone
half-hidden from the eye
fair as a star, when only one
is shining in the sky.

Bông đổng thảo kề bên tảng đá
nửa khuất che cả mắt thế gian
đẹp như sao, khi chỉ một
long lanh sáng trên trời cao thẳm.

Một lối ví von nữa, có tính cách lan rộng (Homeric simile), được căn cứ vào mô thức A ngang B nhưng rồi chỉ B được phát triển thêm chi tiết. Nguyên Sa đã sử dụng lối ví von này để so sánh đôi mắt của người tình với một vì sao vô cùng đặc biệt:

Tôi muốn ví mắt em như một vì sao
chưa có ở trên trời
một vì sao ngủ muộn hơn sao hôm
dậy sớm hơn sao mai
mà lòng tôi vẫn nhìn
chưa bao giờ chớp mắt
như em vẫn nhìn
nụ cười của em
trong mắt tôi!

Ngoài những lối ví von hiền lành vừa kể còn có những lối ví von táo bạo hơn trong thi ca. Trong những ví von loại này, B là yếu tố táo bạo gây ra những ấn tượng khó quên cho người đọc, như trong hai thí dụ dưới đây.

Trong một bài thơ lạnh lùng đến rợn người, Keith Douglas đã nói lên cái chết thảm thê của một thiết giáp binh người Đức trong thế chiến thứ hai qua một ví von táo bạo. Trong chiếc chiến xa đã bị phá hủy, người ta tìm thấy tấm hình của người yêu anh ấy. Bên dưới chữ ký trên tấm hình tặng anh, nàng còn nắn nót viết thêm chữ “Vergissmeinnicht” (tên một loài hoa trong tiếng Đức có nghĩa đen là “đừng quên em nhé”) để nhắc nhở người lính trẻ ấy hãy nhớ nàng mãi mãi. Nhưng đây là sự thực phũ phàng:

But she would weep to see today
how in his skin the swart flies move;
the dust upon the paper eye,
and the burst stomach like a cave.

Nhưng nàng sẽ khóc ngất hôm nay khi thấy
bầy ruồi đen bâu kín da chàng;
bụi phủ đầy trên con mắt giấy,
còn dạ dầy banh như một cái hang.

Bài viết ngừng tại đây với một chuỗi ví von tân kỳ táo bạo, nhưng cũng dễ thương làm sao của Nguyên Sa:

Hôm nay Nga buồn như một con chó ốm
như con mèo ngái ngủ trên tay anh
đôi mắt cá ươn như sắp sửa se mình
để anh giận sao chả là nước biển!

Đàm Trung Pháp
Nguồn: Tác giả gửi

Tài liệu tham khảo

Cuddon, J.A. (1991). A dictionary of literary terms and literary theory. Oxford, England: Basil Blackwell Ltd.

Felleman, H. (1936). The best loved poems of the American people. New York: Doubleday.

Flores, A. (1998). Spanish poetry. Mineola, NY: Dover Publications.

Mathieu, G., & Stern, G. (1987). Introduction to German poetry. New York: Dover Publications.

Morner, K., & Rausch, R. (1991). NTC’s dictionary of literary terms. Chicago: National Textbook Company.

Nguyên Sa (2000). Thơ Nguyên Sa toàn tập. Irvine, CA : Đời.

Packard, W. (1989). The poet’s dictionary. New York: Harper & Row, Publishers.

Pompidou, G. (1961). Anthologie de la poésie francaise. Paris : Librairie Hachette.

Trần Trọng San (1993). Thơ Đường. Scarborough, Canada: Bắc Đẩu.

Đã đóng bình luận.