Đặng Kim Côn, đèn trăm năm hắt bóng ngàn trùng

Posted: 24/12/2011 in Biên Khảo / Phê Bình, Ngô Nguyên Nghiễm
Thẻ:

Ngô Nguyên Nghiễm


Nhà thơ Đặng Kim Côn

Bước vào thế giới sáng tạo của Đặng Kim Côn, nét nhìn chân thật nhất, là sự bộc phát trong ngần trong tư tưởng sáng hóa, nếu không muốn nói có một sự mãnh liệt của tâm và ý hòa quyện với tri thức cần mẫn, tạo dựng một khuôn hình riêng biệt không lẫn vào các khuynh hướng sáng tác của các tác giả khác. Sự chuẩn mực trên ý hướng,  hóa hiện trong tác phẩm, là những ý thức chân thực, nhiều lúc có vẻ bạch hóa ngôn ngữ, khiến thơ văn anh có nét hài hòa của một khóm hoa hướng dương, vàng rực trước tia sáng chiêu dương… Quả thật, cái chân thật được dàn trải trong sáng tác Đặng Kim Côn, không che đậy một ý niệm, bắt chộp những kỷ vãng ngưng đọng lại, giải bày và như một cuộc tình cờ soi rọi xuống chân phương, huyền hóa những tư hướng quan hoài còn đọng sâu thẳm trên dung nhan. Dù thời gian thanh thoát trôi đi, những cái có – không chỉ là những phôi pha, dần dần tan chảy trước khí hậu của đời sống. Nhưng với Đặng Kim Côn, sự nắm bắt ý thức dừng lại và hóa hiện trên tư hướng sáng tạo, cực kỳ thông thái mà vẫn giữ được sự thật của một tâm hồn nghệ sĩ, không thay đổi để làm lệch biến dịch của thiên cổ. Khi tôi đọc ý kiến của Du Tử Lê, về tính định đề trong thơ Đặng Kim Côn, sự thật chưa thấm sâu vào ý hướng mà nhà thơ Du Tử Lê bóc trần trên thể xác thơ Đặng Kim Côn. Vì có lẽ, anh Du Tử Lê nạp đề không phải riêng cho người bạn thơ mình, mà diễn dịch hầu như cho tất cả ý nghĩ được dàn trải trên tư thức cho mọi khuynh hướng thơ khác. Theo Du Tử Lê, là câu thơ tự thân thơ vượt qua được bản chất xóa bỏ không ngưng nghỉ, rất cần mẫn với thời gian!… Anh dùng chữ lạ sẩy chân cho câu thơ trong cõi giới thi ca, thật ra là một cách diễn giải trên quan điểm tư thân, nó tự nhiên hiện ra, như khí trời, như mưa nắng. Chính chữ sẩy chân đã làm đắc địa thêm cho thơ Đặng Kim Côn, vì sự sáng tạo ngôn từ nhiều khi phải kéo dài bao nhiêu đoạn đường năm tháng, để hình thành một chữ hanh thông. Nó vừa như một định mệnh, vừa đánh dấu được mầm móng khai sinh của một hóa hiện trên cõi đời này, mặc nhiên, không định trước được, mà cái có – không trong vũ trụ này, hay cái sáng tạo của người nghệ sĩ, hình như đột biến từ mầm móng bí tử, được hoàn chỉnh từ ADN trên những vòng xoắn định vị cho một hình hài. Hình hài đó là thi ca, cũng có thể là cái khác, nhưng tụ chung những vật chất hữu cơ không thể đi từ chuyển biến của vụn vặt, mà hóa thành. Hóa thành từ bản chất vô ngã, tượng hình theo cơ duyên nghiệp lực, hiển hiện phong phú hình hài thơ, theo từng cấp bậc vô niệm trong lành của nhà thơ…

Cách đây mấy năm, tình cờ tôi theo dõi được dòng thơ Đặng Kim Côn trên Văn Chương Việt, thì sự ngộ nghĩnh mà tôi chợt bắt gặp, là trong thơ anh mang đầy rẫy lý triết, soi rọi, xốc vác lại kỷ vãng, và đậm nét ưu tư (ngây thơ!) trên cái ngước nhìn, chiêu niệm lại quê nhà, những hẹn hò, mộng hóa, tháng ngày, trăng vỡ, bụi mờ, mắt cay, núi Nhạn, Đà Rằng, hư vô, hương cau, kim cổ… Tôi hiểu sự chân thành của một tâm hồn thơ, Đặng Kim Côn đang mang nặng những nghĩa tình, mà anh cố gánh vác suốt bao nhiêu năm tháng, lãng bạt, cơ khổ bay đầy trên nếp áo, phủ xuống đời nhà thơ như những hạt lân tinh, làm cháy xém cả linh hồn, đau lòng nên sự bày tỏ hình như được anh dàn trải tận cùng trên giấc thực, cũng như mộng. Chính vậy, Đặng Kim Côn đem tâm tình đặt trọn vẹn trong bản chất, nên sự chân thật trong ngần trong thơ anh đã có những khí lực chan hòa một cách phiêu bồng, hồn nhiên và đa cảm. Hình như, chính vậy nên thơ Đặng Kim Côn bước được một đoạn đường dài, đưa tất cả nghĩa nhân, chân pháp quy về một hướng cho thi ca, bộc lộ được nét nhìn sâu thẳm đầy vẻ sơ nguyên, chân chính. Vì vậy, những giả tạo của những dòng thơ khác, lập dựng trên những tưởng tượng, hình dung, hầu như là những nét ngụy tà, khiến thi ca bước vào một ngõ ngách xảo  biện, vô chân. Chúng ta thấy nhan nhản trên những Webblogs, người ta cố bày biện những hình thức và sắp đặt cho thơ một bước đi bằng những chân lý bịa đặt. Thơ phải đi thẳng vào hồn người, lập dựng một thế giới quan riêng biệt, mà mỗi thi nhân là một vì sao riêng lẻ, chân thật với tâm thức và sáng hóa. Sự nhào nắn ngôn từ là một điều không nên, vì ngôn ngữ chỉ là một hình tượng bịa đặt của văn minh, chỉ những phát khởi từ sự sống của tâm huyết và trí lực mới là hạt ngọc xá lợi, rực rỡ vĩnh hằng.

Tôi có đọc bài thơ Ném viên sỏi xuống hồ Tiểu Thúy của nhà thơ Đặng Kim Côn, cách đây có lẽ gần hai năm trên Văn Chương Việt, tôi thắc mắc hoài hai câu thơ: Ta muốn nhảy xuống hồ tự tử / Nhưng hồ nhỏ quá, e hồ đau… Sau này, khi tình cờ một nhà thơ thân quen, chuyển tôi 3 tác phẩm của Đặng Kim Côn, thì thi phẩm Để Trăng Khuya Kịp Rót Đầy Sớm Mai, có bài phỏng vấn của Lương Thư Trung, thì tôi mới hiểu ra tại sao Đặng Kim Côn có hai câu thơ lạ như vậy.(*). Quả tình, sự chân thật của người cầm viết, bao giờ cũng là một giá trị nghệ thuật siêu tuyệt, phải tôn trọng sự thật, dù anh đang nắm quyền tạo hóa, sinh tử cho bài thơ. Thì cái chân lý muôn đời vẫn là ý thức sáng tạo, đưa đẩy hình thành từ cái tử vô hình thành một hiển hoa le lói ánh chiêu dương. Cái tâm vẫn là chủ đề chính cho người thơ, từ đó phát sinh ngoại hướng, dù ở phương nào, đông – tây – nam – bắc, nhưng hoa đã nở, thì dù ở góc cạnh nào cũng là một thai sinh toàn vẹn của một định kiếp, thụ hưởng bao khí lực của tứ đại, đất – nước – khí – lửa, hòa quyện với một tâm linh. Tất cả những sáng tác của Đặng Kim Côn, rải đầy sự chân thật đó, dù được anh sử dụng như một giải bày từ cuộc đời anh biến thiên qua bao nhiêu ngõ ngách của thế sự, và cuộc tình. Nhưng thơ cũng như bản chất Đặng Kim Côn, sự thật thà hiền dịu đã phủ đầy trên một chân lý thơ riêng anh, mà không  bao giờ Đặng Kim Côn nghĩ rằng thơ anh như vậy. Giống như Lương Thư Trung nhận định: “chẳng những cho người đọc nhận ra cách dùng chữ thật khéo với óc giàu tưởng tượng làm cho thiên nhiên và con người hòa quyện cùng nhau làm thành một  hình ảnh chung đôi không tách rời được; mà ở đó còn cho người đọc cảm nhận chất thơ trong những chữ dùng ấy nó vừa trầm mặc mà trăn trở về nỗi mình, vừa suy tư về thân phận về cuộc đời mà cũng hợp với phong cách một nhà thơ biết dùng thiên nhiên để giải bày, gởi gắm nỗi niềm của con người nữa. Trong thơ văn Trung Hoa, có những bài như Kim Lăng Đồ của Vi Trang trách hàng liễu, rồi Lý Bạch với Nguyệt Hạ Độc Chước; rồi Mạn Hứng của Đỗ Phủ và nhiều lắm, các bậc thi bá đời xưa coi con người và vạn vật chung một thể. Với thơ anh, bóng mình đó mà tưởng bóng ai? Ta đó mà sao ta lại lạ với chính ta? Làm thơ mà đạt đến tâm lý, triết lý đến thế là tuyệt.

Một thoáng ta nhìn ta bỗng lạ
Thăm thẳm đâu từ đáy nước sâu

Sự lạc loài, cô đơn hình như là số phận của thi nhân, những bơ vơ lạc lõng từ tâm thức được chuyển biến thành thực tế, vì vậy, ngôn ngữ thơ mới hình thành, chuyên chở trọn vẹn hồn vô ngã cho từng ý niệm được rải đầy mơ hồ trên cõi thế: “Ta lạc giữa những vòng nước tán / Đi miệt mài không thấy bến bờ”.

Nét cổ phong trong dòng thơ Đặng Kim Côn, vẫn vương vấn những mông lung của khoảng không – thời gian đầy cô đơn quạnh quẽ, nhưng chính vậy, thoảng chút man mác của gió sương, kỷ niệm, những chút hoài cổ trên bóng dáng cố quận, mà anh dốc hết trăm năm cạn một ngày đã làm đậm đặc tiếng thở dài đâu đây…

Sự hoài niệm đã giúp thơ Đặng Kim Côn có một sự rung động, cảm thông vô bờ bến… bao nhiêu chân tướng của ngựa Hồ, chim Việt hiển hiện như một tấm lòng trải suốt đêm trường. Những quá vãng trôi qua suốt đời người, dù rằng kỷ niệm cô đọng khác nhau ở từng cá nhân, nhưng tụ chung trong hành trình nhân sinh, ngõ tới của con người nhiều khi quá diệu vợi, nên có những lúc phải dừng chân, ngồi trên tảng đá xanh, ngoảnh lại nhìn những dấu chân qua. Những thành trụ hoại không ám đầy trong trí nhớ, mà không một loài chim di nào quên bẵng được đường về tổ ấm thu không, lúc hoàng hôn rụng xuống chân mây. “Trời đất thấy ta ngồi trên núi không? / Trái tim như mây chợt sáng vô cùng / Để soi thấy ta ngùi từng lệ nóng / Bay ngút ngàn qua muôn lối mù không”.

Thi phẩm Để Trăng Khuya Kịp Rót Đầy Sớm Mai đong đầy những lời thơ tuyệt diệu, rải rác nhiều câu thơ “sẩy chân” đã giúp sức sáng tạo phong phú được nhân lên một cách thần kỳ, khiến người đọc nhiều phen phải dừng bước, ghé vai nhìn xuyên qua cửa sổ thơ anh, tìm tòi những tia sáng tân kỳ vừa le lói, chiếu thẳng vào sự chiêm nghiệm của tha nhân. Nhiều lúc, Đặng Kim Côn có những dòng thơ như cổ thi “Lững thững ngàn năm Đá Bia mây xám / Vọng phu hề / Khói tỏa sương rơi”. Có lúc dòng thơ chuyển hướng hào sảng, phong lưu, lãng tử giữa cơn say bằng hữu:

Ừ ta nửa gánh giang hồ mỏi
Thân đã mòn như que củi khô
Buông cương chiến mã  chào sông núi
Sông núi buồn không đứng lặng lờ.
(Tuyệt khúc vàng)

Nhưng cũng có lúc,  mang đầy vẻ thơ  ngây với những ngày tháng trôi qua:

Bạn bè bảo mặt mũi gì hoang dã
Nhăn quắc nhăn queo cái sự đời
Ô nhỉ, sao mình không thấy lạ
Cũng mới đây mà đã sáu mươi
(Cũng cảm ơn đời cái bắt tay)

Đặng Kim Côn thành công trên dòng thơ mình như một chất mật ngọt trên vai rộng, phiêu lãng rong ruổi suốt cuộc đời nghiệp chướng sinh tử với thi ca.

Dù hoạt động văn nghệ đã gần 40 năm nay, Đặng Kim Côn cộng tác cũng khá nhiều tạp chí văn chương trước năm 1975, nhưng tác phẩm in thì hầu như còn nằm trong sự thận trọng hay khiêm nhường của nhà thơ. Ngoài tập Để Trăng Khuya Kịp Rót Đầy Sớm Mai và tập truyện Một Ngày Một Ngàn Ngày, do Thư Ấn Quán ấn hành năm 2011, tất cả sáng tác của Đặng Kim Côn còn nằm đầy trên bản thảo. Nhiều lúc, bất chợt nghe vài bài thơ phổ nhạc của Đặng Kim Côn mà ngôn từ của thơ cũng như khí lực của âm nhạc, đều tuyệt vời, khiến có lúc tôi ngồi chỉnh máy Internet nghe vài lần để thẩm thấu cơn khát. Sự say mê nghệ thuật, đã là một sự duyên dáng và đáng yêu của người thưởng thức giống như Bá Nha Tử Kỳ, chỉ cần dịu vợi ở âm hưởng là tràn đầy nghĩa khí tử sinh. Hôm tôi sẵn dịp từ tư gia của nhà thơ Yên Bằng ở Gò Vấp, bỗng nảy thêm ý hướng qua viếng thăm một nhà thơ bằng hữu tận quận 12. Dịp đột khởi tình cờ này, tôi được nhà thơ trao thêm một tập trường ca thể lục bát Dưới Trời Dạ Ngọc vừa được ấn hành, do gia đình tác giả ký tặng. Càng đi sâu vào thi phẩm Dưới Trời Dạ Ngọc, mà Đặng Kim Côn đã sáng tác và hoàn thành cách đây gần 30 năm, trong một hoàn cảnh lắng đọng của cuộc đời và định mệnh, khiến khí lực của thi tập ngun ngút, bừng sáng, và diệu kỳ. Quả thật, Dưới Trời Dạ Ngọc đích thực là một kiệt tác, 860 câu thơ sáu tám dàn trải tuyệt diệu về một chuyện tình và thân phận gian truân của một kiếp người. Thi phẩm tuyệt vời không thua sút thi tập Triều Miên Ngâm Khúc của nhà thơ Trần Tuấn Kiệt khóc con, gồm 990 câu. Theo lời tựa thi phẩm, phát biểu:

Bạn đang cầm trong tay truyện thơ Dưới Trời Dạ Ngọc, tác phẩm được thể hiện bằng thể thơ lục bát truyền thống; nhưng độc đáo và đặc biệt từ nguồn gốc ra đời, cho đến đời sống riêng, cũng như sự ẩn tàng, phát lộ của nó, cho tới ngày đến với người đọc… Không biết từ bao giờ, ông cha đã sáng tạo ra thể thơ lục bát “khuôn vàng thước ngọc”. Đó là thể thơ đã góp phần sản sinh ra những kiệt tác thi ca thấm đẫm hồn Việt như Truyện Kiều của Nguyễn Du, Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu… làm say đắm bao thế hệ người đọc. Người viết lời tựa cho tập thơ này, thật sự may mắn, khi có được toàn bộ bản thảo của truyện thơ Dưới Trời Dạ Ngọc; cũng như việc được gia đình tác giả ủy quyền biên khảo, giới thiệu, sưu tầm, ghi chép câu chuyện tình cảm động, lãng mạn, nhưng đầy éo le và nước mắt của người trong cuộc. Dưới Trời Dạ Ngọc là một câu chuyện tình có thật. Nhân vật chính của tác phẩm hiện đang sống ở thành phố biển Cam Ranh – Khánh Hòa, còn tác giả của nó thì đang ở một nơi xa nghìn trùng… Họ từng yêu nhau say đắm, mối tình của họ lãng mạn biết bao. Nhưng những thăng trầm của lịch sử, những đau thương, mất mát của chiến tranh… đã chia cắt duyên phận họ……

Điều gì đã làm nên một tình thơ huyền dịu đến vậy? Phải chăng đó là tình yêu đích thực được chắt chiu từ niềm đam mê cái đẹp, từ hiện thực khổ đau của thân phận con người sau chiến tranh? Tất cả đã được kết tinh trong tám trăm sáu mưới câu thơ lục bát tài hoa, mềm mại, tinh tế, giàu cảm xúc. Mỗi câu, mỗi dòng dường như được chắt chiu từ những nếm trải của tình yêu, của nước mắt hạnh phúc, đắng cay, và sự trớ trêu của số phận con người, trước những biến động và thăng trầm lịch sử? Chúng tôi cho rằng Dưới Trời Dạ Ngọc là một truyện thơ không chỉ giàu giá trị văn chương, từ cách kể chuyện, kết cấu, nghệ thuật trần thuật, ngôn ngữ, hình tượng, cách tả cảnh, tả tình đạt đến trình độ nhuần nhuyễn; mà còn mang giá trị nhân văn sâu sắc về những thân phận con người vượt qua chiến tranh.”

1-4:
Bể dâu là chuyện đất trời
Lênh đênh, chìm nổi chuyện đời thực, mơ
Trăm năm một đám bụi mờ
Người trăm năm hỏi đâu bờ trăm năm

….

845 – 860
Mai ta về giữa thiên thu
Tìm nhau ngửa mặt gọi nhau cõi nào
Bềnh bồng mây xám lầu cao
Xốn xang trời thẳm thôi chào, thế thôi!
Khi ta không của ta rồi
Ở đâu cũng cuộc dạo chơi nhọc nhằn
Thiêm thiếp nắng, võ vàng trăng
Nhớ nhau khô bấc đèn băn khoăn, nhòa.

Mai em về núi đầy hoa,
Khói hương vời vợi trời xa đất gần
Tàn tro nguội chưa, bàn chân?
Soi từng dạ ngọc trong ngần, tìm nhau
Chân cầu trông con nước mau
Mưa trên hiên cũ đổi màu trời xanh
Phù vân vùn vụt qua mành
Nuốt khô giọt lệ vô thanh xuống lòng!
Trại A30 Tháng Ba/ 1979

Quá trình vịn theo bước chân Thơ, Đặng Kim Côn tạo lập được giữa cuộc hành trình, một bản ngã phong phú, từng giây phút hóa thân một cách diệu vợi cho thơ. Sáng hóa chất đầy trên từng bước thơ rơi như những cánh hoa quỳnh bừng nở trong ngần dưới đường trăng lạnh buốt khuya nay…

Trích TÁC GIẢ TÁC PHẨM NGƯỜI ĐỒNG HÀNH QUANH TÔI tập III
(NXB Thanh Niên – tháng 12/2011)

Ngô Nguyên Nghiễm
Viết tại thư trang Quang Hạnh
(Giữa khuya Rằm tháng 06/2011)
Nguồn: Tác giả gửi

Đã đóng bình luận.