Lại lan man chuyện thơ

Posted: 13/01/2012 in Hà Thúc Sinh, Tùy Bút / Tản Văn / Ký Sự

Hà Thúc Sinh

Có lẽ đời Ðường, Lý Bạch là nhà thơ có cá tính hơn cả, và cá tính nổi bật của ông là thích… ngồi cao! Xem, sống thì cứ bình thường để cho hai cái chân bám sát lấy mặt đất đi. Không, ông nhất định phải leo lên tuốt trên cao để tự so sánh mình với đỉnh núi Kính Ðình cơ!

Chúng điểu cao phi tận,
Cô vân độc khứ nhàn;
Tương khan lưỡng bất yếm,
Duy hữu Kính Ðình san.
(Kính Ðình Sơn – Lý Bạch)

Tạm hiểu:

(Bầy chim bay xa lắc
Nhàn tản một vầng mây
Ngó nhau mà không chán
Chỉ núi Kính Ðình này)

Nhưng dù Lý Bạch có thế nào ông vẫn là người may mắn có tri kỷ. Hỏi xưa nay ngoài… chánh cung hoàng hậu, có đại thần nào lại được ngủ chung giường để lắm phen gác cả hai cái chân lên bụng vua, rồi khi nằm trong thì lấn vua rơi xuống đất, nằm ngoài thì lấn vua dính vào tường? Lý Bạch khi sống ngồi thì trên núi, kê chân thì bụng vua, nói tóm toàn ở chỗ cao nhưng khi ra đi lại thấp hơn mặt đất. Truyền thuyết bảo ông say rượu lọt sông chết đuối, nhưng cao hay thấp, yếu tố có “tri kỷ” phải chăng đã giúp ông rất nhiều hứng khởi trong đời thơ?

Lá đào rơi rắc lối thiên thai,
Suối tiễn oanh đưa những ngậm ngùi.
Nửa năm tiên cảnh,
Một bước trần ai.
Ước cũ duyên thừa có thế thôi.
Ðá mòn, rêu nhạt,
Nước chảy, huê trôi,
Cái hạc bay lên vút tận trời!
Trời đất từ nay xa cách mãi,
Cửa động,
Ðầu non,
Ðường lối cũ,
Nghìn năm thơ thẩn bóng trăng chơi.
(Tống Biệt – Tản Ðà)

Ở một khía cạnh khác cụ Tản Ðà nhà ta còn sống chỗ cao hơn nữa. Mãi tận thiên thai. Nhưng bình nhật cụ vẫn sống hết lòng với những cái thú trần tục cung cấp được cho cụ. Cụ cũng là thi sĩ may mắn có tri kỷ. Trên đường đi nam về bắc đùa với bút chơi với chữ người ta kể rằng có lần cụ vào tá túc một gia đình vốn ái mộ thi tài của cụ từ lâu. Cơm bưng nước rót vào cái thời người khôn của khó chắc cũng có chừng mực về phẩm và vội vã về thời gian, vì thế, đại khái tiết canh thì thiếu húng quế, lòng lợn lại thiếu mùi thiếu hành, mắm rươi lại thiếu ớt cay chẳng hạn. Thế là cụ cạy luôn gạch trong sân nhà người ta lên cốt trồng mấy cái rau thơm cho tiện việc gia dụng. Với cái tâm tình rắc rối như của cụ mà thiếu đi những tri kỷ như vậy, sợ rằng cụ khó lưu lại được một sự nghiệp đa dạng và được lớp sau vốn có cái kiêu của kẻ tây học cảm phục thật lòng. Mở đầu quyển “Thi Nhân Việt Nam” Hoài Chân Hoài Thanh phải trịnh trọng cung chiêu anh hồn Tản Ðà và kết thúc bài cung chiêu bằng câu “Xin tiên sinh hãy khai hội bằng ít bài thơ…” Và hai bài thơ “Thề Non Nước” thuần tuý lục bát Việt Nam và “Tống Biệt” bên trên dù thi phong tân kỳ nhưng ý lời thật cổ của Tản Ðà được chính thức đặt vào vị trí trịnh trọng nhất của quyển biên khảo về thơ của các thi nhân thời tiền chiến phần lớn ảnh hưởng tư tưởng tây phương.

Cho nên người làm thơ viết văn có được một tri kỷ trong đời thì phải bảo là sướng là may. Nhưng tri kỷ chỉ nằm dưới dạng như thế thôi sao? Thật thì không nhất thiết cứ là vua Ðường vì mến mộ thi tài Lý Bạch, đôi khi cho mượn đỡ cả cái bụng để thi sĩ gác chân mới là tri kỷ; không cứ là ông thương gia ái mộ và dung chứa Tản Ðà, cơm rượu ưu ái đãi đằng, và rồi thi sĩ có từ từ giở những cái chướng ra cũng đành bấm bụng làm ngơ mới là tri kỷ; tri kỷ còn nhiều loại khác và đôi khi… cao cấp hơn, nhưng thường loại này chỉ tìm thấy trong chính hàng ngũ thi phú với nhau thôi, và hàng ngũ thi phú này phải có điều kiện chưa thành danh, chưa già, chứ đã thành danh và già rồi thì thường cụ nào cụ nấy cái gì cũng bỏ hòm khoá kín, mấy ai còn hong được ra ngoài cái tâm hào phóng:

Người gõ cửa mới biết
Ngủ quên suốt mùa đông
May thay đời nhiễu sự
Ngáp một tiếng tan buồn

Bạn ta trông bị gậy
Gió lạnh lùa đôi vai
Gót giầy lên tiếng nói:
Ðường xa sợ đi rồi

Súng chàng lên tiếng nói:
Ta chán giết người rồi
Tim chàng lên tiếng nói:
Ta muốn yêu một người

Cổ thụ kia còn mọc
Tặng trời chút lá non
Ta còn cô bạn gái
Xin tặng chàng vui xuân…
(Quà Tặng Mùa Xuân)

Thế đấy, cuối năm lạnh lùng có người lính vốn là một thi hữu từ mặt trận mệt mỏi ghé qua gõ cửa nhà chàng, ngoài cơm bưng nước rót rồi gạo tiền xe pháo, chàng còn tặng luôn cho hắn một cô bạn gái mà vui xuân nữa thì… bộ là chuyện phong thần sao? Thưa không, chuyện thật một trăm phần trăm. Chuyện xảy ra vào năm 1965 ở nhà một thi sĩ nay đã ra người thiên cổ tên là Trần Kiêu Bạt. Người thơ này là một “hào sĩ miền Tây” thứ thiệt. Người viết thời ấy là một kẻ ngồi lẫn lộn trong đám tân khách của chàng, đã chứng kiến việc chàng làm với bạn, lòng cảm kích cái tính tri kỷ lạ đời kia mà viết ra bài thơ trên, rồi ít năm sau cho in nó trong tập Dạo Núi Mình Ta.

Nhắc đến tên thi tập lòng người viết tự nhiên lại bâng khuâng. Chẳng biết kiếp nào mới thấy lại mặt mũi nó sau cái thời tai vạ phần thư! Tháng Tư năm 2005 nhân ghé thăm người bạn tù làm việc ở đài phát thanh SBS/Melbourne tên là Hùng. Nhân trước đó Hùng có đề nghị để đài làm một cuộc phỏng vấn về mấy chuyện văn nghệ văn gừng nhân chuyến người viết được mời hát một vòng Úc châu với chương trình “Hát Cho Mười Ngàn Ngày Nhớ Nhau.” Và Hùng nói sẽ hỏi nhiều về thi tập Dạo Núi Mình Ta. Ngạc nhiên hỏi đào đâu ra cái tập đã cháy từ 30 năm trước ấy mà hỏi nhiều với hỏi ít? Ðáp yên tâm, huynh cứ ghé chơi rồi sẽ thấy nó còn nguyên vẹn hình hài. Hôm đến đài, phân chia chủ khách đâu đó xong, Hùng mới chỉ vào khung cửa bên hông có một nữ lang đang mau mắn tươi cười bước ra, giới thiệu: “Ðây, Phượng Hoàng, người đang có trong tay ấn bản đầu Dạo Núi Mình Ta Thi Tập của hiền huynh đấy, thi tập mà ông Trần Trọng Ðăng Ðàn trong quyển sách có cái tựa dài ơi là dài ‘Văn Hoá Văn Nghệ Phục Vụ Chủ Nghĩa Thực Dân Mới Mỹ tại Nam Việt Nam 1954-1975’ đã xếp nó vào loại văn chương quốc cấm đấy.”

Sau đó chị Phượng Hoàng kể: “Năm ấy sau khi có kết quả (đại học) xong, tôi trở lại quê nhà ở một thành phố miền tây, và khi đi qua một tiệm sách, nghĩ là nên mua một quyển gì đó để đánh dấu ngày mình tốt nghiệp. Tôi vào và thấy một tập thơ có cái tựa hay hay, mở ra đọc nhanh vài bài, thấy lạ quá, thế là quyết định mua ngay. Non mười năm trước đây tôi vượt biên, trong vài quyển sách quyết định đem theo có quyển thơ này của anh!” Chị khe khẽ đọc thuộc lòng cho chúng tôi nghe ít bài chị ưng bụng mà chính tác giả chỉ còn nhớ cái tựa, chẳng hạn “Nghinh Ðịch Hành,” “Hành Quân Qua Bến Phà Mỹ Thuận, Gặp Bạn Ðánh Chén, Say Mèm,” “Tới Bến Phà Vàm Cống, Buổi Chiều”… Sau này người viết cố nhớ lại cuộc đời những nhà thơ kim cổ mình từng đọc qua, thấy dường như chưa ai có được cái vui như cái vui của mình. Xưa sau mấy ai đã có được một tri kỷ mua tập thơ của mình để đánh dấu ngày thành đạt, rồi khi vượt chết vẫn… bảo vệ cho nó sống mà sang tới xứ người? Thật còn gì đáng cảm kích hơn!

Ấy nhưng lại còn có những tri kỷ không chỉ làm mình cảm kích, mà còn làm mình… khó xử làm sao. Thế mới khổ. Xưa các cụ luôn dạy “Ơn ai một đồng một chữ không quên,” huống hồ lắm khi loại tri kỷ này chẳng những giúp cho ta nhiều việc có lợi mà còn giúp thêm cho rất nhiều chữ nhiều ý có lý vô cùng. Họ như những cô giáo tận tụy vậy. Ðã mấy chục năm người viết phải mang ơn một cô giáo gốc Gia Long và Sư Phạm. Cô giáo này xưa hay quan tâm và thẳng thắn đề nghị tác giả nên dùng chữ này, nên tránh chi tiết kia vân và vân vân. “Cụ ơi, lời nhạc đoạn này hỏng 90% rồi cụ ạ… Ái tình gì mà lời lẽ cứ chắc nịch như một cái tam đoạn luận thế này!” hoặc: “Ðoạn mô tả này không được đâu cụ ơi, phụ nữ chúng tôi không nhìn người đàn ông có nhiều hứa hẹn xi măng cốt sắt theo cách ấy.” Hỏi: “Vậy cách gì?” “À, nhìn cách ông ta thận trọng rút ví và mở ví, rồi nhìn cặp lông mày nặng vẻ suy tính khi ông rút ra những tờ giấy bạc thẳng nếp xếp hết sức ngay ngắn trong ví tiền…” hoặc: “Không, đừng đi quá xa vào tâm tình đàn bà kiểu ấy, trật đường rày…” Tên cô giáo này là Nguyễn Tú Anh, bà nội của cháu nội người viết.

Lại mới đây người viết có cơ duyên gặp thêm một cô giáo nữa. Cô này cùng học ở cả hai trường với cô trên, chỉ khác ban. Trước khi hưu cô là giọng đọc truyện “on air” quen thuộc với thính giả Úc châu. Nhân một lần gặp lại cô nơi một toà báo bên Úc, cô nói: “Em là bạn học với các em của anh, và vì thế em cũng hiểu tính anh như các em anh. Văn nghệ mà cứ rắc rối là anh bỏ luôn cho nhẹ mình, không muốn dây vào cho mệt, đúng không? Nhạc thì anh có thu mà truyện và thơ thì lờ đi. Chắc rắc rối? Em muốn thu đĩa một số truyện của anh đấy, anh cho phép không? Lần ấy thật tình người viết lại tưởng cô em nói cho vui, dè đâu chỉ một thời gian ngắn sau đó 2 CDs truyện đầu tiên của người viết được thực hiện một cách hết sức nghệ thuật từ hình thức đến nội dung, nhất là được quảng bá và phát hành rộng.

Cô giáo tên là Trần thị Tuyết Lê, cựu xướng ngôn và biên tập viên đài phát thanh liên bang SBS/Sydney/Úc châu.

Có lần một người bạn hỏi người viết một câu:

“Chơi với ông đã nửa thế kỷ, giờ tôi hỏi thật một thắc mắc đã để lâu trong lòng:

“Thì hỏi đại đi.”

“Sao ông nói to thế, tiếng to quá!”

Trong đời ai tránh được những câu hỏi, nhưng lần ấy quả thật người viết hơi ngỡ ngàng trước câu hỏi bất ngờ của bạn, rồi sau một thoáng suy nghĩ, đã trả lời bạn (khẽ hẳn!) một cách cũng bất ngờ nhưng rất thành thật:

“Ðể biết mình còn sống.”

Sau này đôi khi lan man nhớ đến những tri kỷ mình đã gặp trong đời thơ đời văn, không hiểu sao người viết lại (cứ vô duyên) liên hệ họ với một kiểu… nói to. Quả thế, trong dòng đời trầm lắng luôn có khuynh hướng ru ta vào cõi quên, cõi suy tàn, một tri kỷ nào đó đột nhiên xuất hiện rất giống như một tiếng nói to, một tiếng gọi to rất mực thiết tha, rất mực thật thà và nhờ đó người ta choàng dậy để mừng biết ngòi bút mình còn sống.

Hà Thúc Sinh
Nguồn: Tác giả gửi

Đã đóng bình luận.