Lý Thừa Nghiệp, lung linh hoa tạng hát một khúc thiền ca

Posted: 15/01/2012 in Biên Khảo / Phê Bình, Ngô Nguyên Nghiễm
Thẻ:

Ngô Nguyên Nghiễm


Nhà thơ Lý Thừa Nghiệp

Thời gian bước đi thần tốc với những biến dịch trọng đại suốt đời sống con người không ngờ trước dược. Thấm thoát, đã hơn 30 năm đằng đẵng trôi qua, đến giữa mùa thu 2005, tôi mới diện kiến lại nhà thơ Trầm Mặc Nghệ Thế. Mọi sự thay đổi chóng vánh, trước thế sự, trước tâm linh, làm ngơ ngác bước đi của bao nhiêu tâm thức, dù đã được định vị trong sự khai nguyên của đức tin và trầm lặng đời người. Tôi mang trong trí nhớ, nhân dáng lãng bạt đầy trực tính của một nhà thơ đồng bằng Nam bộ này.

Ở thời buổi dầu sôi lửa bỏng của chiến tranh, Trầm Mặc Nghệ Thế đã chất trên vai áo nét sống cho thơ đầy bản lĩnh khuynh khoái, phiêu du, đầy ngã chấp của một bản thể rặc tính bản địa sông nước đồng bằng. Bên cạnh, những bằng hữu thân quen tài hoa của vùng châu thổ biên cương, Trầm Mặc Nghệ Thế là một cây bút sánh vai cùng những nhân tài bấy giờ như: Phù Sa Lộc, Lâm Hảo Dũng, Lê Trúc Khanh, Tô Nhược Châu, Phạm Trích Tiên, Trần Kiêu Bạt, Nguyễn Cát Đông, Lê Triều Điển, Hạc Thành Hoa, Nguyễn Thành Xuân, Trịnh Bửu Hoài, Lưu Nhữ Thụy, Yên Bằng, Nguyễn Tôn Nhan, Lưu Vân, Chu Ngạn Thư… Trong giai đoạn, tại Sóc Trăng thập kỷ 60-70, của thế kỷ XX, sự nở rộ của phong trào văn nghệ địa phương, có thể kể, ngoài Tiếng Động Mùa Hạ của Trần Như Liên Phượng, Lan Sơn Đài, Triều Uyên Phượng…khi có thêm một Cung Thương Miền Nam, với Lâm Hảo Dũng, Mạc Huyền Thương ( Trần Phù Thế), Nguyễn Lệ Tuân, Triệu Ngoc, Lưu Vân, Trần Biên Thùy và nhóm Hồn Trẻ Hai Mươi của Vũ Ngọc Dức, Trương Thanh Thùy, Phù Sa Lộc, Trầm Mặc Nghệ Thế, Võ Minh Đường…là ba kỳ công đóng góp nhiều dấu ấn cho nghệ thuật, tạo được cho hướng tiến văn học Sóc Trăng thêm tài hoa, lịch lãm. Nhà văn hóa văn học kỳ cựu như Nguyễn Tử Quang, và lớp kế thừa là những bút nhóm kể trên, đã lập dựng được nền văn nghệ với nhiều văn nghệ sĩ nổi danh trong và ngoài nước.

Tôi biết Trầm Mặc Nghệ Thế qua một số bài vở đăng trên Khơi Dòng, Tham Dự… tuyển tập Lá, và các tạp chí văn nghệ Sài Gòn…Đó là cách thức giao duyên sơ khởi, của những người làm văn nghệ trẻ đương thời, gặp gỡ nhau qua văn kỳ thinh bất kiến kỳ hình. Dĩ nhiên giai đoạn cùng cực của đất nước, sự giao tế chỉ trông mong tương ngộ bằng cách giao lưu trên sách báo, điều đó cũng làm mãn nguyện lúc ban đầu, bằng sự tương giao cách cảm. Biết tên tuổi nhau, khi kỳ duyên gặp gỡ, tay bắt mặt mừng đã xem như tri kỷ ngàn đời. Hơn nữa, tôi và Trầm Mặc Nghệ Thế còn có chung một tri kỷ tài hoa, kỳ dị và lãng bạt không ai bằng là nhà thơ Trần Kiêu Bạt. Ngôi nhà của Bạt, là một tụ điểm văn nghệ đầy sinh khí diệu kỳ, cho tất cả bằng hữu bốn phương. Mỗi lần, cất bước về đây, hầu như mọi gánh ưu phiền, xa xứ, xa quê được gói trọn lại trong hành trang, để được xem lãng tử quy cố hương. Hai tính nết của Trần Kiêu Bạt và Trầm Mặc Nghệ Thế giống nhau ở chỗ, đầy vẻ kiêu hùng, lãng đãng của những tâm hồn phóng khoáng, tạo dựng một sự vững bền, kiên định và khôn ngoan dù là với xã hội hay văn học. Nhưng tính bộc trực của hai nhà thơ dù ít nhiều có dáng dấp tương đồng nhưng Trần Kiêu Bạt có vẻ khu trú thầm lặng, nhốt gió trong lòng hơn một hình ảnh tương giao Trầm Mặc Nghệ Thế. Năm đó, Trần Kiêu Bạt và Trầm Mặc Nghệ Thế đã có vai trò ngang ngửa nhau trên văn đàn và lòng tin yêu của bạn bè, hai chàng rực rỡ với hình ảnh sáng hóa, tài hoa và lãng tử. Chính vậy, sự tương đồng làm tình bạn của nhau thắt chặt như huynh đệ chi giao, kính yêu và tôn trọng trong mọi tình tiết, giao thiệp, luận đàm, sáng tác…

Tôi nhớ ngày 19.01.1974, lúc Lê Trúc Khanh xây dựng một chương trình cho quán cà phê Về Nguồn tại 93 Tạ Thu Thâu- Cần Thơ, vói sự trợ giúp của Nguyễn Cát Đông và tôi, chủ yếu tạo nơi sinh hoạt cho anh em trẻ ở Cần Thơ và Miền Tây. Năm đó, tôi có chuyển khoảng 2000 đầu sách, tác phẩm tự lực của anh em văn nghệ trẻ khắp miền về triển lãm chung tại đây. Ngoài ra, chương trình có giới thiệu hội họa, điêu khắc, nhiếp ảnh, hoa giấy, tranh thêu Bích Đàn…Phần đông tôi vay mượn nhiều nơi, để giúp phong phú thêm chương trình khai mạc Về Nguồn. Trong đó, ngoài tranh Lê Triều Điển, còn có 2 bức tranh sơn dầu của Hoàng Thụy Kha (Trần Bất Bạt) : ÂmThanh Trong Động Đá , Hoàng Hôn. Hai tác phẩm biểu hiện hai trạng thái âm dương khác biệt. Bức Hoàng Hôn, từng nét sơn dầu rực đỏ màu lửa trên một khung trời hoàng hôn nghiêng ngả, hai bành bạch tượng của hai vị nữ anh hùng dân tộc Trưng Trắc, Trưng Nhị vùng dậy trước hàng loạt mũi tên độc của quân xâm lược Trung Quốc Mã Viện. Còn bức tranh Âm Thanh Trong Động Đá, lại mang mang một sự trầm lặng âm thanh của một người cổ đại với cây đàn đá, trong một huyệt động, âm sắc chan hòa trong màu tĩnh lặng… Tất cả 2000 quyển sách, tôi để lại cho Lê Trúc Khanh mượn phuc vụ người đọc một thời gian, chỉ đưa về những mô hình văn nghệ khác để hoàn trả các tác giả. Ngày về Sài Gòn kiểm tra lại thiếu 2 bức tranh của Hoàng Thụy Kha, tôi tìm tòi mãi mới ghi nhận mập mờ, còn bỏ sót lại nhà Trần Kiêu Bạt. Tức tốc, bay về Cần Thơ, ghé ngang tư gia của Bạt, thì thấy vỏn vẹn trên vách treo một bức Hoàng Hôn. Tính lãng bạt và bất cần đời, hào phóng trong mọi tình tiết, là cái nhu cầu hình như cần thiết của người miền Nam chăng? Trần Kiêu Bạt cho hay Trầm Mặc Nghệ Thế ghé chơi ngay buổi trà dư tửu hậu của cuộc triển lãm, đã hỏi Trần Kiêu Bạt và được tặng bức Âm Thanh Trong Động Đá. Hai bức tranh, tương phản gam màu, hai ý nghĩa cùng cực của cuộc sống, mà lại tương sinh tương khắc vô cùng, chính vậy với bản chất trực tính, lăng ba vi bộ như Trầm Mặc Nghệ Thế tại sao lại thích ứng với bức tranh tĩnh lặng đầy thiền vị như vậy?

Từ năm 1974, tôi bẵng đi tin tức của Trầm Mặc Nghệ Thế, một phần chiến cuộc càng lúc càng gay go, mà mọi ngã đường đều cạm bẫy lưu thông khó khăn. Bước du hành từ Sài Gòn về Cần Thơ cũng phải mất một ngày trời, và di chuyển từng giai đoạn, từng chuyến xe, tiêu tốn thời gian hơn…Vì vậy, ở các tỉnh lân cận, không nằm trên trục lộ thường ít có dịp bay ngang. Lúc này, chỉ có Cần Thơ, Long Xuyên và Châu Đốc là lộ trình chính, nên ở Cần Thơ thường xuyên gặp gỡ Lâm Hảo Dũng, Trần Kiêu Bạt, Minh Nguyễn, Nguyễn Đông Vũ, Lê Triều Điển, Trần Hoài Thư, Nguyễn Thành Xuân, Ưu Thức ( Đặng Thư Cưu), Lê Trúc Khanh, Huyền Vân Thanh, Trần Kiên Thảo…

Cách biệt khoảng thời gian gần 30 năm, thời gian so với vô thường chẳng có bao nhiêu, nhưng với một đời người như đã đánh mất khoảng nửa cuộc sống. Thắm thoát đó, mà diệu vợi với khoảng cách không- thời gian, nhưng Trầm Mặc Nghệ Thế vẫn an ủi khi gặp bạn ở Sydney: Mặt đất này đâu có chi lớn rộng/ Đi man thiên rồi cũng gặp một ngày. Chính vậy, năm 2005, khi Vũ Ngọc Đức ghé tư gia thông báo Trầm Mặc Nghệ Thế muốn gặp mặt bạn bè sau những năm cách biệt, làm chùn lòng người xa xứ. Bỗng nhiên, hào khí lãng tử một thời bùng cháy trở lại trong tôi, khi ngồi tưởng tượng lại bóng dáng của một chàng làm thơ đầy phong cách kiêu bạt, chí khí vững vàng như núi, tình nghĩa anh em càng làm nao nức buổi hẹn hò. Dáng dấp của Trầm Mặc Nghệ Thế điềm đạm và trầm tĩnh hơn ngày nào, khoác trên vai đãi nhật bình, tư thái đầy vẻ thiện căn, làm tan biến ảnh tượng của những ngày thanh niên tung hoành giữa cõi man thiên. Sự đổi khác một con người từ tư hướng, quan niệm và lẽ sống trong đạo và đời. Tư thái sau thiên niên kỷ mới, mà lần gặp gỡ đầu tiên này sau bao năm cách biệt, Trầm Mặc Nghệ Thế đã giũ bỏ bút hiệu xa xưa, trở lại nguyên hình một cơ địa nguyên khai Lý Thừa Nghiệp, như một hành giả và trên vai một sơ nguyên lưu trú từ hàng năm tịnh trí. Anh tặng tôi thi phẩm Bóng Nước Xao, in tại Australia năm 2005. Sau nhiều năm tôi hân hạnh đọc thêm nhiều tác phẩm của Lý Thừa Nghiệp và nhiều CD phổ nhạc, đầy công phu và tài lực. Sự hy sinh của một người làm văn nghệ, cũng là một lẽ sống cho người, cho mình và góp phần xây dựng một nền văn hóa văn học quê hương. Đến nay, thi phẩm Bóng Nước Xao, Lung Linh Hoa Tạng, Tuyển Tập 6 Nhà Thơ Úc Châu…định hình, đã đẩy bóng dáng người thơ đi qua cánh cửa chân không, đạo pháp một cách màu nhiệm. Nhập vai người thừa hành, đi tìm ý chỉ, thơ Lý Thừa Nghiệp đã khoác một lớp áo thiền vị, thắm dẫm ý hơn lời. Chiều sâu của ngôn từ, dù có thanh thoát hơn trong từng thi tập mới nhất, nhưng tụ chung cái thành công của nhà thơ nào cũng vậy, tạo lập cho văn thể một sáng tạo thế giới riêng biệt, từ ngôn từ đến ý từ,và định được lực từ, cho đến một tha tâm thông trên đường quảng bá tư tưởng, vạch một sinh lộ trong 84000 lối đi mà đấng chí tôn đã hướng chỉ. Bởi sinh tử còn vay mượn, thì sự luân hồi làm sao giải thoát, cho nhập được chân nguyên. Phật tâm làm sao tỏ thì y bát vẫn là vận dụng của phù du nhân thế. Cuộc hồi sinh chỉ được phối lực của tâm và trí, mà con đường đạo hạnh dẫn lưu hành giả bước đi trên chánh pháp lưu truyền, tạo lập một hướng hoằng dương minh triết, tương khai đạo vị. Xá lợi tích lũy hằng năm, hằng kiếp mà lửa tam muội tụ thành từ não cân vị pháp, mới từ trong vô lượng đất lành/ dậy lên sắc tướng âm thanh chập chùng/ cuộc sinh tử đó khôn cùng/ mênh mang nhân ảnh bụi hồng mù bay. Bước qua hằng vạn mê đồ, có lẽ nhà thơ đã tĩnh tọa được ý nghĩa chân như, tâm thức lắng đọng trong từng sát na nghiệp lực, đẩy khỏi hồn những căn thức chập chùng ảo vọng của đời người. Cái mê, tỉnh cũng chỉ phù du nhưng bước chân tha nhân vẫn chưa định hướng thì mê lộ là lẽ thường hằng. Và khi biển vỗ không ngừng/ Xô tôi nhân quả với từng sát na/ Bến bờ nào đã trôi xa/ Dòng sinh tử thổi bão qua mịt mù/ Bạc đầu ngồi đếm Xuân Thu/ Trường thi một cõi mơ hồ như sương.

Cái tịnh không của thiền vị còn mờ nhạt trong thi tập Bọt Nước Xao, vì còn nhiều cảm tính nhân thế, đầy rẫy những tàn phai, gió rét , sương giăng… mà bao nỗi hư hao, gởi theo gió rét thổi vào hư vô. Thật ra, biểu tượng của thi ca, thì đây là một hình ảnh tuyệt vời của sáng hóa, đưa đẩy cái băng hoại tử sinh hữu hình tràn ngập tan biến với vô hư chân không vô ngã… Sự bày tỏ của nhà thơ trước những chuyển biến trên bước đi giữa con đường đạo pháp, vẫn còn những chân giá trị theo từng bậc thang, từng cuộc đất duyên ngộ bước qua, sự tìm tòi lẽ đạo là điểm chánh của thi tập. Bao nhiêu duyên nghiệp phù thế, từ cảm nhận lúc hóa duyên, từ hình ảnh bạn bè, mẹ già, cảnh trí thiên nhiên, những mùa hoa nở, những trang kinh… để đợi giờ hóa sinh, thì đó là hình thức của một pháp môn Tiệm ngộ mà đến giờ khai thị trên trang kinh, sẽ nở sen vàng:

Hừng đông trời mờ tỏ
Vạn pháp trắng hư không
Trong tâm thể tinh ròng
Sen đã hồng bát nhã

Thật vậy, vạn pháp quy tông, bức ngưu đồ đã chuyển hóa cùng cực mà mùa hoa vàng vô lượng tinh khôi trong thái dương sẽ nở vĩnh viễn giữa trọn một mùa hoa. Cái ảo diệu của đạo pháp, là chân không, cái vĩnh viễn vẫn bình yên, là cánh đồng sen phật pháp vô lượng vô biên… như chính nhà thơ chiêm nghiệm trong cơn gió mới thổi suốt mùa thiền định. Thi tập Lung Linh Hoa Tạng có một sắc thái vượt thoát, và cởi bỏ những ràng buộc của vật thể, đưa ý nghĩa chân như rực rỡ suốt cuộc hành trình:

Ngồi dưới một vầng trăng
Nghe sương rơi âm thầm
Trăm năm trò hư ảo
Sao lạnh tràn thân tâm

Chong mắt nhìn hư không
Bốn phương trắng cõi lòng
Vạn pháp hề! như nhứt
Trăm sông rót một dòng

Sự cảm nhận, nhập thể vào bản chất vi diệu của trung đạo phải là sự đồng hóa tinh anh, hòa chung một không khí, một hợp lưu, sát na từng vi tế hóa hiện để không có sự thải trừ vì dị thể, chẳng tương giao. Đi vào đạo vị là sự trang nghiêm hóa hiện, như: cây xanh từ vô thỉ, vẫn điềm nhiên ra bông.

Trên đường thi ca, có nhiều thi nhân vận dụng chiêu pháp của Thơ để phổ biến đạo pháp. Trường hợp thi hóa kinh Phật của Phạm Thiên Thư qua mấy quyển Kinh Hiền, Kinh Thư , Kinh Ngọc…vận dụng thi ca chuyển luân cho bảy bộ kinh Đại Thừa: Kim Cang, Hiền Ngu, Pháp Cú…để kinh Phật đi thẳng vào hồn người. Trường hợp của Vũ Anh Sương cũng thế, nhưng chính cái trích lược kinh Phật để thi hóa thành thơ là việc làm không nên…Riêng dụng tâm của thiền vị, đạo pháp tự tâm sinh pháp, tự pháp sinh thi, như trường hợp của các nhà thơ qua các thời kỳ thì thi ca hòa quyện trong từng giác ngộ của đẳng cấp từng người. Thơ Lý Thừa Nghiệp có cái chánh đạo như vậy. Tôi đồng ý với nhà nhận định Vĩnh Hảo: “Dòng thơ Lý Thừa Nghiệp là dòng sông cuồn cuộn chảy ngang trần gian thống khổ. Ngôn từ lúc sôi nổi, lúc thâm trầm; tứ thơ lồng lộng, bát ngát. Dòng sông này cưu mang tất cả bẩn đục của cuộc đời, nâng lên thành những bọt sóng lao xao, thi vị hóa và tịnh hóa chúng bằng sự cảm nhận sâu sắc nguyên lý vô thường, khổ, không. Hai cõi thơ nhìn theo thể cách của Hoa Nghiêm, tương thông và dung nạp nhau một cách tuyệt vời; và nói theo thể điệu của thi ca, là một kết hợp thơ mộng, hài hòa, ý vị của một thi phẩm đẹp từ cấu trúc đến nội dung.(California, 24.4.2007)

Khép lại bài viết, sự tán thán cho bước đường tu tập của nhà thơ dĩ nhiên là tạo dụng một hướng đi cho thi ca tải đạo, lập trình một hạnh quả tinh ròng trên bước thiền hành, chống gậy vàng bước qua cõi vô hư: Đường xa chân có mỏi/ Hát một khúc thiền ca/ Dựa lưng cùng đêm tối/ Khép cánh cửa ta bà…

Ngô Nguyên Nghiễm
Viết tại Thư Trang Quang Hạnh
Nguồn: Tác giả gửi

Đã đóng bình luận.