Trang Châu
Trân thu xếp giấy tờ trên bàn viết rồi rời sở làm đúng 12 giờ trưa. Thường thường Trân là người sau cùng rời sở đi ăn. Cử chỉ có vẻ canh giờ để đi ăn trưa của Trân mới bắt đầu có hai tuần nay. Đi ngang qua bàn cô thư ký cũng đang chuẩn bị đi ăn, Trân đưa tay chào:
– Bon appétit, Sylvie.
Cô thư ký nhìn Trân :
– Bon appétit ông Trân. Hai tuần nay ông đi ăn đúng giờ hơn thường lệ.
Trân hơi giật mình trước sự để ý giờ giấc anh đi ăn trưa của Sylvie. Anh liền trả lời cho vỡ lẽ :
– Tôi mới tìm được một tiệm ăn Việt Nam, đồ ăn rất ngon nhưng phải đi sớm hơn một chút không thôi hết chỗ phải chờ lâu.
Câu trả lời của Trân có vẻ giải tỏa được thắc mắc của Sylvie. Cô cười nói :
– Tôi rất thích món chả giò. Chờ hôm nào lảnh lương tôi sẽ xin ông địa chỉ của tiệm ăn Việt Nam đó.
Trân không để ý xem câu nói của Sylvie có phải là là một lời ướm để được Trân mời nàng đi ăn không. Về làm giám đốc chi nhánh ngân hàng nầy đã hơn một năm, Trân luôn luôn giữ thái độ cởi mở nhưng đứng đắn với nhân viên mà ba phần tư là phái nữ. Biết Trân chưa có gia đình nên mấy nữ nhân viên còn độc thân hay dành cho anh, khi một ánh mắt, khi một nụ cười có vẻ không nằm trong giao tế bình thường. Nhưng Trân cứ đóng vai độc thân nhưng không chắc là người đang sống cô độc. Anh ăn mặc hợp thời trang, tỏ vẻ yêu đời và thuờng tỏ ra cuối tuần anh có nhiều sinh hoạt giải trí.
Trân đậu xe rồi thong thả bước vào tiệm ăn Chez Kim. Điạ điểm nầy trước kia là một tiệm Dunkin Donut. Nhờ vậy tiệm có bãi đậu xe rộng rãi và có lẽ nhờ vậy, dù mới khai trương đâu được hơn một tháng tiệm Chez Kim đã có đông khách vào buổi trưa. Các món ăn của Chez Kim trên trung bình theo khẩu vị của một thực khách Việt Nam như Trân, nhưng ưu điểm ở đây là món ăn gọi không phải chờ lâu. Đến ăn ở Chez Kim, Trân chỉ gọi một trong hai món, hoặc bún chả giò hoặc bún bò Huế. Một chút gợi nhớ Sàigòn nơi Trân sinh trưởng và Huế, thành phố quê hương của cha mẹ Trân, một nơi mà Trân chưa có dịp một lần về thăm. Thật ra món ăn Trân thích nhất là phở, nhưng phở ở đây thường quá nên có lúc Trân nghĩ đùa, phở nấu cỡ nầy chỉ hợp với khẩu vị tây đầm mà thôi.
Trong khi chờ món ăn ra, Trân đảo mắt quan sát tiệm. Tiệm có chừng 100 chỗ ngồi, đã đầy cỡ ba phần tư khách, chung chung nửa Việt nửa ngoại quốc. Tiệm nằm kề hai mặt đường, có cửa kính nên ngồi trong nhìn ra thấy người đi lại và xe cộ chạy. Vừa nhìn ra ngoài Trân thấy một cô đầm đẩy cửa bước vào tiệm. Cô đứng lại ở phía trong cửa vào, đưa mắt nhìn quanh rồi không đợi hầu bàn lại mời, cô chọn bàn ngồi đối diện với Trân. Hầu bàn đến, Trân thấy cô ta chọn món ăn rất nhanh, có vẻ như là một khách quen của quán. Một lát hầu bàn mang ra một đĩa giá với hai múi chanh. Cô đầm lấy giấy lau nỉa muỗng. Tiếp đến cô với tay lấy chai tương đen rồi chai tương ớt xịt xịt lên đĩa giá, xong cô vắt chanh vào. Tiếp đến cô lấy muỗng nỉa xới trộn đĩa giá sống như người ta trộn xà lách. Rồi cô ta thủng thỉnh lấy nỉa châm những cọng giá đưa vào miệng. Trân tò mò quan sát kiểu ăn lạ đời của cô đầm. Bắt gặp cái nhìn chăm chú của Trân, cô ta lắc lắc mái tóc, miệng cười mỉm như ngầm thách thức Trân: “Tôi ăn thế đấy, anh có thấy bực mình không ?”
Hầu bàn mang tiếp cho cô đầm một tô phở. Cô đưa mũi hít hơi nóng bốc lên, rồi lấy tiêu rắc vào tô phở xong lấy muỗng múc húp từng đợt nước phở như người ta ăn xúp. Thỉnh thoảng cô lấy nỉa xăm một miếng thịt ăn thêm. Ăn hết thịt và nước phở, cô đầm lấy nỉa xoăn xoăn những sợi phở giữa lòng chiếc muỗng thành một nùi rồi ăn như ăn spaghetti. Trân theo dõi cách ăn của cô đầm thấy vừa tức cười vừa có một chút gì ngộ nghỉnh dễ thương. Cô ăn phở mà như ăn cơm tây với ba phần rõ rệt : xà lách, xúp và món ăn chính. Trân thấy cô đầm nầy có vẻ hay hay, nhan sắc lại không tệ nên muốn làm quen. Làm việc chung lâu ngày với người bản xứ, Trân cũng lây tính tự nhiên của họ, tự nhiên trong việc tự giới thiệu mình cũng như tự nhiên trong cách làm quen. Anh gọi hầu bàn lại nói nhỏ với anh ta rằng anh sẽ trả tiền phần ăn của cô đầm.
Cô đầm tròn xoe đôi mắt khi người hầu bàn đến ghé tai nói nhỏ với cô ta, tay chỉ về phía Trân. Trân mỉm cười gật đầu chào rồi anh rời chỗ ngồi đi lại bàn cô đầm lịch sự gật đầu chào cô một lần nữa và mở lời :
– Thấy cô ăn thức ăn Việt Nam theo kiểu tây phương, tôi ngạc nhiên một cách thích thú. Hân hạnh được mời cô tô phở và mong được làm quen với cô.
Nói xong Trân móc túi lấy tấm danh thiếp đưa cho cô đầm và nói:
– Tôi là Trân, tôi làm việc ở ngân hàng Royale.
Cô đầm cầm tấm danh thiếp liếc nhanh rồi đứng dậy vui vẻ bắt tay Trân.
– Tôi là Martine. Cũng hân hạnh được biết ông. Cám ơn ông đã trả phần ăn của tôi. Tôi cũng làm ở ngân hàng, ngân hàng Nationale, nhưng không được ở vị trí giám đốc chi nhánh như ông.
Trân đáp nhũn nhặn:
– Chúng ta cùng trong một ngành là quí rồi. Cô có ăn trưa thường xuyên ở đây không ?
– Thỉnh thoảng thôi.
– Tôi mong lần tới gặp cô, tôi sẽ được ngồi cùng bàn.
Martine nhìn Trân, chớp mắt rồi đáp nhỏ:
– Rất hân hạnh. Bây giờ xin phép từ giã ông để về sở.
Ngay từ lúc bắt tay, Trân thấy Martine hợp nhãn mình. Cao nhưng không quá cao để đàn ông Việt Nam mặc cảm khi đi cạnh. Tóc, mắt nâu, mũi dọc dừa , môi đầy, răng trắng đều và ngực gợi. Martine hầu như có tất cả để được gọi là một người đẹp. Nhưng điều làm Trân vừa lòng hơn tất cả là Martine có vẻ dịu dàng.
Ăn trưa với Martine ba buổi, ăn tối với nàng hai lần, tiếp đến là nụ hôn đầu tiên trao nhau. Sau nụ hôn đó, tự nhiên Trân nghĩ đến chuyện lập gia đình. Nghĩ đến không biết có phải anh đã gặp được người đàn bà ưng ý hay vì cái tuổi 30 lập gia đình là vừa, nếu không muốn nói là đã vài năm muộn, vì theo mẹ anh, tuổi lý tưởng nhất của con trai để lấy vợ là 27. Có lần bà cụ cằn rằn Trân:
– Lấy vợ trể sẽ gặp cảnh cha già con muộn không hay.
Trân không gặp sự chống đối nào phía mẹ anh khi anh đưa Martine về giới thiệu. Bà cụ còn lộ vẻ bằng lòng khi thấy Martine chắp tay cúi đầu nói “Thưa bác” bằng tiếng việt. Cả Trân cũng ngạc nhiên không biết Martine học lời chào kính bằng tiếng việt ở đâu. Hỏi, nàng nói một cô bạn gái người việt làm chung sở dạy nàng nói tiếng Việt. Gần đến ngày cưới, gặp mẹ Trân, Martine đổi cách xưng hô. Nàng nói “thưa mẹ” và xưng “con”.
Mẹ Trân khen:
– Con Martine không những đẹp mà còn ngoan, lễ phép, con chọn khéo đó.
Con đầu lòng của hai người là con trai. Mẹ Trân hết sức vui mừng. Nhìn đứa bé bà tiên đoán :
– Con lai nửa âu nửa á, lớn lên đẹp khiếp lắm.
Martine muốn đặt cho con trai một cái tên Việt Nam gần gần cái tên Alain. Trân đặt tên Việt Nam cho con là Ánh. Khi thằng bé được 6 tháng, Martine đề nghị mỗi tuần 3 ngày mang gởi con cho bà nội. Nàng nói với chồng :
– Để bà nội dạy cho nó nói tiếng Việt. Em muốn con em nói tiếng Việt giỏi. Tiếng Pháp, tiếng Anh mình khỏi lo, trường học, bạn bè nó sẽ dạy cho nó . Còn tiếng Việt, chỉ có anh và bà nội dạy cho nó thôi. Anh thì quá bận. À anh nói khéo để mẹ nhận tiền giữ trẻ nhé, nói với mẹ mình được trừ thuế để mẹ được yên tâm.
Mẹ Trân khi biết ý định của con dâu đầm thì hoan hỉ nhận lời ngay. Bà còn vui vẻ nhận giữ cháu cuối tuần mỗi khi vợ chồng Trân phải đi dự tiệc. Martine nói tiếng việt mỗi ngày một sõi. Mẹ Trân đi khoe với người quen :
– Con dâu đầm nhà tôi thiệt có nết, dâu Việt Nam chưa dễ gì bằng nó.
Martine tập ăn đồ Việt Nam khá mau. Trân lại không biết ăn mắm nên Martine không phải thực tập món ăn khó nuốt nầy. Nàng yêu cầu mẹ Trân chỉ cho nàng cách làm chả giò, gỏi cuốn, nem nướng. Martine nói với Trân :
– Gia đình em, phía cha phía mẹ gì cũng có người mập phì, làm phát sinh ra nhiều thứ bệnh như cao máu, tim mạch và tiểu đường. Anh thấy không, nhờ ăn cơm Việt Nam mà giờ nầy em còn giữ được đường nét như khi mới gặp anh.
Vừa nói Martine vừa xoay tròn người trước mặt chồng. Trân vòng tay ôm vợ, kề má âu yếm hỏi :
– Vì muốn giữ eo hay vì yêu mà em lấy chồng Việt Nam.
– Cả hai, nhưng yêu trước eo sau. Em nghe nói trong đạo Phật có thuyết luân hồi. Em nghĩ, kiếp trước em là một cô gái Việt Nam nào đó không lấy được người mình yêu mà hiện thân bây giờ là anh, nên Thượng Đế cho đầu thai vào một cô gái da trắng là em để được sum vầy với anh.
Trân tròn mắt nhìn vợ :
– Em rành cả đến đạo Phật nữa cơ à ! Rành vừa vừa thôi cưng, rành quá có lúc xin cạo đầu đi tu thì cha con anh ai lo đây ?
Học được cách nấu phở của mẹ chồng, Martine biểu diễn nấu phở cho Trân ăn. Tuy chưa bằng mẹ nấu nhưng Trân thấy cả một trời cố gắng hội nhập của Martine. Trân nghĩ Martine phải yêu anh lắm mới tận tụy như vậy. Càng nghĩ Trân càng quí nể vợ. Khi Martine mang cho Trân tách trà, anh với tay níu đầu vợ xuống, gắn một nụ hôn thật lâu trên môi nàng. Trân thì thầm :
– Anh thật diễm phúc có một người vợ như em.
Martine trở về chỗ ngồi đối diện với chồng. Nàng nhìn Trân không chớp mắt rồi nói giọng nghiêm trang :
– Hôm nay em thú thật với anh một điều : Có một lần em không thành thật với anh. Có một lần em phạm tội, một tội nhỏ thôi. Anh còn nhớ hôm lần đầu anh gặp em ở quán ăn, anh có thấy em ăn phở một cách không giống ai không ? Em đóng kịch đấy, cốt cho anh chú ý em đó thôi. Và anh đã mắc bẫy.
Trân cười to:
– Trời đất!! Tội gì mà đáng yêu thế! Thì ra em chú ý tới anh trước đó rồi à?
Martine gật đầu :
– Ngay từ buổi đầu tiên anh đến ăn ở tiệm Chez Kim. Lần đó anh ngồi quay lưng lại với em nên không thấy em. Nhưng em để ý anh ngay khi anh bước vào tiệm. Hôm đó anh là người việt nam duy nhất thắt cà vạt, mặc áo veston. Ăn mặc chỉnh tề như thế vào một buổi trưa chắc chắn phải là người làm việc ở một văn phòng gần đâu đây. Với lại mặt mày anh không tệ nên em chú ý cũng là chuyện thường tình. Mà chắc gì chỉ mình em chú ý anh hôm ấy. Em thích người đàn ông có nụ cười ở trong đôi mắt. Anh còn có một dáng đi khá đặc biệt : người hơi khom đằng trước, hai cánh tay khuỳnh ra trong giống dáng đi của con tinh tinh.
– Con tinh tinh là con gì?
– Là con khỉ đột đó!
Trân sặc ra cười rồi nói:
– Mẹ anh cũng nhận xét về dáng đi của anh. Bà cụ nói anh có dáng đi của người làm cách mạng.
– Làm cách mạng? Nghĩa là sao?
– Lúc đầu anh cũng không hiểu, hỏi thì mẹ anh giải thích rằng có một ông lãnh tụ một đảng cách mạng, vào tù ra khám nhiều lần, chống thực dân Pháp, chống cộng sản, có dáng đi như thế. Mẹ anh nói thầy tướng nói người có dáng đi đó là loại người lì.
Martine tủm tỉm:
– Còn anh, anh nghĩ gì về dáng đi của anh?
– Anh à? Nói theo kiểu người bình dân việt nam, anh có dáng đi lui cui.
Nói xong Trân chóng cằm ngắm Martine một lúc rồi hỏi:
– Em làm vợ anh, làm dâu mẹ anh bốn năm rồi, có điều gì em không bằng lòng anh, không bằng lòng mẹ anh không?
Martine có vẻ như chờ đợi câu hỏi nầy từ lâu nên nàng trả lời không một chút đắn đo :
– Em hoàn toàn không có gì phải phật lòng hết, với anh cũng như với mẹ anh. Lấy anh là một chọn lựa lớn nhất đời em, chọn màu da và chọn cách sống. Nhưng tình yêu em dành cho anh quá lớn nên những thử thách kia gần như vô nghĩa. Chọn cách sống là chọn giữa lối sống cá nhân và lối sống gia đình. Kéo anh về phía em, em nghĩ một lúc nào đó anh sẽ không hòa nhập được, sẽ cảm thấy cô đơn dù có em bên cạnh, và anh sẽ tìm về lối sống của anh, coi gia đình là trọng, lúc đó có thể em mất anh. Cho nên em chọn lối sống của phía anh, ngoài chồng, con, em còn mẹ chồng, họ hàng nhà chồng và xa hơn nữa, rộng hơn nữa là xã hội của chồng. Em cho đó là cái giá phải chăng phải trả để có và giữ hạnh phúc cho em. Em đã lên thư viện tìm hiểu về phong tục tập quán Việt Nam, em đã tự đi học tư tiếng Việt. Em đã làm theo lời khuyên mà em thấy chí lý của chị bạn người Việt cùng sở. Chị ấy nói : “ Khi còn là người yêu, mình nên chờ đợi được yêu, nhưng khi đã là vợ rồi mình phải làm ngược lại nghĩa là yêu trong thế chủ động, và chủ động khó nhất nhưng hửu hiệu nhất là hy sinh ”. Khi mới gặp anh, em ăn phở theo kiểu tây phương. Khi là vợ anh rồi, em không những biết ăn phở kiểu Việt Nam mà còn biết nấu phở kiểu Việt Nam nữa.
Trang Châu
Nguồn: Tác giả gửi



















