Hai lối mộng

Posted: 12/05/2012 in Phạm Khắc Trung, Tùy Bút / Tản Mạn / Ký Sự

Phạm Khắc Trung

Tôi đã từng học lậu môn Việt Văn lớp 11 với thày Tạ Ký gần một năm trời, được thày ký tên đề tặng tập thơ “Sầu ở lại”. Sau này lên đại học, thỉnh thoảng tôi còn ghé Chợ Đũi ngồi uống bia đấu hót, nghe thày đọc thơ. Gắn bó đến vậy, dĩ nhiên tôi đã đọc đi đọc lại tập thơ của thày nhiều lần, đa phần đã gần như thuộc.

Những năm học trung học đệ nhị cấp, tôi không chải chuốt nượp nà ra dáng tài tử điện ảnh như bạn Đặng Hồng Điệp, hay đĩnh đạc kiểu công tử con nhà giàu như bạn Lê Trung Tín, nhưng cũng không xuề xòa, bụi đời quá đáng như một số anh em khác. Tôi thích mặc quần màu xậm (đen, xanh đen hoặc nâu đen), áo trắng ngắn tay bằng vải Oxford bỏ trong quần, chân mang đôi giầy Bata vải bố trắng, không vớ, không cài giây. Cho chút bụi!

Lên đại học tôi vẫn giữ nguyên lối trang sức cũ, chỉ điểm thêm mái tóc phủ tai hơi dài. Đi học, tôi ôm theo quyển 1 và 2 in chung (do tôi mua), bộ “Si tình kiếm sĩ” của Nam Kim Thạch. Tôi thích nhân vật Tiểu Phi có lối si mê và dại gái từa tựa như tôi, nhưng tôi ôm theo với mục đích chọc ghẹo những sinh viên ưa làm ra vẻ, bởi cái tựa đề “sến”, và tấm hình bìa cải lương hết biết của quyển này.

Một sáng kia, sinh viên chúng tôi ngồi quây quần bên GS Huỳnh Văn Tòng trong quán nước trước trường. GS Tòng là Phó Khoa Truyền Thông Đại Chúng, trong khi tôi học Kinh Tế Quản Trị nên chính ra không dính dáng gì, tôi học thày duy nhất một tín chỉ “Lịch sử báo chí” ở học kỳ 2 năm thứ nhất thôi. Thày dân Nam bộ, người xuề xòa, hiền hòa, dễ thương và rất thẳng tính. Tôi đã thân tình với thày từ những ngày đầu bên trường cũ, mỗi khi thày xuống lớp ra về, thày lại nhờ tôi và người bạn ra đẩy chiếc xe nổ máy cho thày. Ngày nhóm học tập “Tố Vương” tổ chức sinh hoạt trại tại Hội Sơn, thày đã khen tôi “có khiếu”, giỏi điều động sinh hoạt… Tuy nhiên, thày có vẻ bực dọc khi thấy đi đâu tôi cũng ôm kè kè quyển “Si tình kiếm sĩ” bên người, nhưng thày chưa có cơ hội “giũa”.

Ngồi kế bên tôi hôm ấy, thày cầm quyển “Si tình kiếm sĩ” dơ lên quay qua quay lại, khinh mạn ngắm nghía rồi nhăn mặt nói như chửi vào mặt tôi, “Tôi không ngờ sinh viên mà lại đi đọc quyển sách rẻ tiền này!” Một sinh viên nghe thế, làm ra vẻ ta đây, anh chìa quyển Thiền Luận vô mặt tôi thốt, “Mày nên đọc quyển này nè, hay lắm!” Tôi gạt tay anh ra lơ đãng nói rằng, “Trước khi đọc thấy núi là núi, thấy sông là sông. Đọc xong thấy núi không còn là núi, thấy sông không còn là sông. Đến chừng ngộ ra thấy núi lại hoàn núi, thấy sông lại hoàn sông. Vậy thì đọc làm gì cho mất công?” GS Tòng nhướng mắt kiến lên nhìn tôi chăm bẳm, thày cười ha hả khen, “Chí lý! Chí lý lắm!” Tôi bèn quay qua GS Tòng phân bua về quyển chưởng, “Theo thày một quyển sách thế nào mới giá trị? Về mặt thương mại, phải chăng là quyển sách bán chạy nhất? Về mặt sở thích, em bảo đảm với thày quyển này thích hợp cho mọi hạng người, từ ông đạp xích lô cho đến vị bác sĩ, ai đã đọc thảy đều say mê, khó buông xuống được. Bây giờ em mời thày cầm quyển này về đọc thử, rồi thày trò mình sẽ bàn luận về nhận định của thày sau?”

Sáng hôm sau tôi vừa dựng xong chiếc xe, đã nghe tiếng GS Tòng gọi tôi ơi ới hỏi, “Có quyển tiếp không?” Tôi chạy ra tiệm mướn sách gần đó, trên đường Nguyễn Huỳnh Đức, gần góc đường Trương Minh Ký, mướn luôn hai bộ “Si tình kiếm sĩ” và bộ tiếp theo là “Long Hổ phong vân” giao cho thày. Vài ngày sau thày đọc xong, tôi chuyển qua mướn sách Kim Dung cho thày đọc lần lượt các bộ: Lục Mạch Thần Kiếm, Võ Lâm Ngũ Bá, Anh Hùng Xạ Điêu, Thần Điêu Đại Hiệp, Cô Gái Đồ Long, Tiếu Ngạo Giang Hồ, Lộc Đỉnh Ký. Rồi mới trở về đọc Cổ Long và Nam Kim Thạch… Từ đó về sau, mỗi khi thày trò chúng tôi gặp nhau, lại mang chuyện kiếm hiệp ra so sánh luận bàn về thế sự, chuyện thế thái nhân tình.

Nếu căn cứ theo lối “bói Kiều”, thì tập thơ “Sầu ở lại” và bộ “Si tình kiếm sĩ” đã ám vào số phận của tôi. Có điều, lúc Tiểu Phi biết người yêu “đu dây”, Tiểu Phi đã xuống tay giết người yêu rồi thề sẽ không yêu ai, và không sử dụng kiếm nữa. Còn tôi thì… đâu có ngu, đi tù bỏ mẹ!

Ngày ấy nàng yêu tôi tha thiết, mong cùng tôi xây dựng chuyện lâu dài. Tết Quý Sửu (1973), nàng đòi tôi chở nàng đi Lăng Ông cầu nguyện. Nàng tung tăng tíu tít như đứa con nít mới tập đi, lăng xăng thắp nhang cầu nguyện cho hai đứa nên chuyện vợ chồng. Hết gieo sâm rồi kiên nhẫn ngồi chờ đến phiên đoán quẻ, miệng hí hửng cười tươi nghe người luận quẻ tương lai, mắt say đắm nhìn tôi mỗi khi người đoán quẻ nhắc chuyện vợ chồng… Trên lối về đi ngang hàng câu đối Tết, nàng ôm chặt cánh tay tôi, đứng chăm chú nhìn ông Đồ già ngồi viết câu đối. Dựa đầu vào vai tôi, nàng ngước đuôi mắt nhìn tôi cười nũng nịu, “Ổng viết chữ gì thế?” Tôi hóm hỉnh cười trả lời rằng, “Ổng viết chuyện chúng mình!” Thế là nàng vùng vằng, nhất định kéo tay tôi, đòi mua cho bằng được…

Nàng thông minh và lí lắc, tính tôi thích châm chọc giỡn đùa, nên hai đứa có chuyện nói cười suốt ngày không chán. Một hôm mới lên xe, ngồi sau lưng tôi nàng âu yếm kể:

− Cuối tuần nhìn bà nội gội đầu cho ông, thấy thương hết sức…

Tôi ngắt lời nàng:

− Ông n..à..o..o?

Nàng bẹo vào bụng tôi, nhăn nhó:

− Thì ông của Yến chứ ông nào!

Tôi cũng làm bộ khó chịu:

− Ai chả biết ông của Yến! Nhưng ông nội hay ông ngoại?

Hiểu ra, nàng cười ngoặt nghẹo, hai tay ghì chặt bụng tôi. Rồi nàng há miệng cắn nhẹ vào vai tôi, nói:

− Trung… này! Hihi… Thiệt hết ý luôn! Hihi… Đừng chọc cười nữa! Để yên Yến kể cho nghe.

− Sa..o..o?

− Cuối tuần nào bà cũng gội đầu cho ông. Nhìn hai ông bà già âu yếm lo cho nhau, thấy thương lắm cà! Mỗi lần thấy vậy, Yến lại nhớ đến Trung, mong sau này sẽ được gội đầu cho Trung mãi mãi.

Tôi thấy ấm bụng, vui mừng bảo:

− Vậy Trung sẽ tắm lại cho Yến, mà không phải mỗi tuần một lần, Trung sẽ tắm bẩy lần mỗi ngày cho sạch!

Yến ôm chặt bụng tôi, nàng ép chặt cổ vào vai tôi cười khúc khích:

− Trung khôn thấy mồ à, luôn giành phần hơn, không ai hơn Trung được!

Bỗng dưng nàng cắn thật mạnh vào vai tôi đau điếng. Tôi la toáng lên. Nàng lấy tay xoa chỗ cắn, miệng nũng nịu:

− Hihi! Yêu nhau lắm cắn nhau đau!

Rồi ghé sát miệng vào tai tôi nói:

− Cắn thật đau cho Trung nhớ mà giữ lời…

Tôi bồi hồi bảo:

− Chỉ sợ Yến ở dơ không chịu tắm đấy thôi!

Vẫn xít xoa dấu cắn trên vai tôi, nàng khúc khích cười:

− Không có đâu! Yến thích…

Tính nói ra nhưng tôi thụt lại, nàng cũng ngập ngừng… rồi bỏ qua không hỏi tôi muốn nói gì. Chắc trong đầu nàng cũng đang nghĩ bậy như tôi, chứ dễ gì chịu để yên, không bắt tôi nói những điều đang nghĩ? Tôi ngoảnh mặt lại tính dòm xem má nàng hây hây đỏ thế nào, dè đâu lại chạm má vào môi nàng, nàng chu mỏ hôn lên thật mạnh, và lòng tôi ngây ngất hương say, “Yêu yêu yêu mãi thế này! Tôi như một kẻ sa lầy trong yêu” (Lòng yêu đương, Nguyễn Bính).

Một hôm nàng rủ tôi đi “boom” thì tôi từ chối, tôi nói với nàng rằng, “Đất nước mình còn nghèo, người dân còn cơ cực, Trung chưa thể an vui hưởng thụ một mình. Hơn nữa, Trung nghe lũ bạn kháo chuyện với nhau, hóa ra chúng chỉ lạm dụng cơ hội để va chạm và cọ quẹt, chứ không vì nghệ thuật?” Nàng cố bào chữa, “Nhưng chỉ hai đứa mình ôm nhẩy với nhau thôi!” Tôi dứt khoát, “Thì mình đã chẳng ôm nhau đây sao? Mình yêu nhau minh bạch, đâu cần phải tìm chỗ tối tăm?” Từ đó nàng không bao giờ đề cập chuyện nhẩy đầm với tôi nữa, nhưng thỉnh thoảng vẫn phá lệ đi “boom”. Tuy không vui nhưng tôi chẳng cằn nhằn, tôi nghĩ mỗi người cũng cần có một chút tự do riêng tư tối thiểu, đi hay không là do ý thức của nàng!

Tôi học kiểu tín chỉ quanh năm không nghỉ hè để rút ngắn thời gian. Hè 74, tôi hạn chế giờ giấc vui chơi cho cá nhân mình, ngoài giờ học, tôi lang thang trong các tiệm sách, cố lắng quên nàng thì nỗi nhớ lại đến quắt quay. Sự thể như vầy, nàng đã rớt 2 kỳ thi Tú Tài đôi năm trước, năm nay tôi muốn nàng ở nhà học bài, thi đậu cho xong Trung học, còn dành thời gian học Đại học. Nàng ở nhà học bài thì tôi cũng không đi chơi riêng, tôi muốn chia sẻ với nàng trong mọi tình huống. Một buổi trưa nàng viết giấy nhắn tôi, “Nhớ quá! Muốn tìm gặp mặt!” Tôi đến chở nàng ra Ngã Sáu uống nước dừa xiêm, rồi chạy một vòng quanh thành phố nói chuyện… Tôi dặn nàng, “Hãy rán hy sinh ở nhà ôn bài, đợi thi xong rồi tha hồ hai đứa rong chơi bù lại!” Nàng hiểu rõ vì tôi lo cho tương lai hai đứa, nên cảm động cúi đầu “dạ” khẽ nghe thật dễ thương, tôi trở về trong nỗi nhớ niềm thương, yêu biết mấy, vừa chia tay đã nhớ!

Mấy hôm sau ông anh họ nàng đi phép ghé nhà tôi, nhờ tôi chở về nhà nàng giúp. Vừa ngừng xe trước cửa nhà nàng, ngay đúng lúc chiếc xe Honda 70 đỏ bỏ nàng xuống phía xa rồi quẹo vào đường Nguyễn Duy Dương mất hút. Bẽn lẽn chạm mặt tôi trong tình trạng éo le khốn khó, nàng mới đi tắm biển hoặc hồ bơi dưới nắng suốt ngày, nên chân tay mặt mày bị nắng ăn đỏ ké! Giận tím gan nhưng tôi lặng yên không cằn nhằn lấy một lời, tôi suy nghĩ và ngầm hiểu: Hai đứa chúng tôi ở hai đầu lối mộng, bởi đi ngược chiều nhau trên cùng một tuyến đường, nên thời gian qua đã giáp mặt gặp nhau, tưởng cùng đồng hành nhưng không phải, rồi đây hai đứa sẽ tiếp tục đi tới, tương lai mỗi lúc một cách xa. Đây là đỉnh điểm mà Tiểu Phi xuống kiếm, còn tôi thì… xin đọc tiếp sẽ biết ở hồi sau! Phần nàng, lại rớt thêm 2 khóa!

Bạn bè thân nghĩ rằng tôi sống ở trên mây, tưởng tôi đắm đuối không hay biết, nên gọi tôi là “Ông Đồ già gàn dở”, lại thường tìm cách nói cạnh nói mé, cố tập cho tôi quen phản ứng để chuẩn bị đối phó với những tình huống bất ngờ. Thương nhất là Như Mai em gái Quế, hơn một lần Mai lo lắng thăm dò tôi, “Mai hỏi câu này anh Trung trả lời thiệt nha: Nếu vì một lý do nào đó mà chị Yến bỏ anh đi lấy chồng, anh sẽ xử trí ra sao?” Tôi vừa cười vừa nghêu ngao hát, “Nếu biết rằng em đã lấy chồng / Anh dzìa lấy dzợ thế là xong!” Mai vẫn hồn nhiên kể, “Má nói chỉ sợ anh Trung ôm lựu đạn đi ăn cưới!” Tôi ngắt mạnh tai Mai hỏi, “Bộ Mai nghĩ anh Trung khùng sao cà?” Mai ôm tai kêu đau rồi xuống giọng ân cần, “Cả nhà đều thương và lo lắng cho anh Trung, sợ anh Trung vì quá yêu mà gây nông nổi!”

Tháng 06/75, tôi thản nhiên chấp nhận đề nghị chia tay của nàng, không đôi co, không tranh luận, làm nàng chưng hửng bẽ bàng. Cái biến cố 30/04 đã làm đảo lộn những toan tính trong tôi, nàng không hiểu rằng khi sự vật đã đến giới hạn, phải đổi chiều là định luật tự nhiên, nên tôi dửng dưng coi việc chia tay là chuyện chẳng đặng đừng, “Tâm tình: lỗi một đường tơ / Thế tình: loạn giữa hai bờ lợi danh / Nhân tình: khi rách, khi lành / Thì trang tình sử cũng đành dở dang” (Thì trang tình sử…, Tạ Ký). Từ đó nàng và Đức, chủ nhân chiếc xe Honda 70 đỏ (sau này sát nhập vào học chung lớp với tôi 2 học kỳ đầu), ra mặt công khai cho đến cuối năm 76, nàng mới chia tay Đức, lên xe hoa về với anh chàng kỹ sư cán bộ nọ, đã đính hôn nhau từ độ hè 75.

Mấy tuần sau đám cưới nàng, tôi có ghé qua nhà thăm gia đình Quế. Má Quế nghe tiếng tôi, bà chạy xuống an ủi, “Dzậy mới phải chớ con! Con gái thiếu đống!” Mai cười tươi nhìn tôi hóm hỉnh, “Hồi đó nghe anh Trung nói Mai hổng dám tin!”

Tết Đinh Tỵ (1977) tình cờ đi ngang Lăng Ông, thấy mấy ông Đồ già vẫn ngồi viết chuyện chúng tôi, xót xa tôi đề đại bài thơ “Ông Đồ già” lưu niệm:

Xuân nào…
Đi Lăng Ông cầu nguyện,
Gặp ông Đồ già
Với hàm râu lưa thưa
Tay ông run rẩy
Mực Tàu vung vẩy
Trên nền giấy đỏ soan
Em bấm tay tôi hỏi chữ gì?
“Ông viết chuyện đôi ta!”
Em vùng vằng đòi mua cho được.
Bao năm rồi,
Nay tình cờ đi qua
Vẫn với ông Đồ già
Ngồi viết chuyện đôi ta
“Ai người mua chuyện đôi ta?”

Bác Vĩnh Thao, người bạn thơ lớn tuổi hơn tôi nhận định, “Bài thơ lí lắc như tính nết hai người, tuy không đặc sắc nhưng là cái chén ngọc làm từ trái tim của Trương Chi, phải đợi đến khi Mỵ Nương đọc, nhỏ giọt nước mắt xuống thì trái tim mới tan biến mất!”

Phạm Khắc Trung
Nguồn: Tác giả gửi

Đã đóng bình luận.