Thơ: ý và tứ – xác và hồn

Posted: 23/05/2012 in Biên Khảo / Phê Bình, Phạm Đức Nhì

Phạm Đức Nhì

Phân biệt Ý và Tứ

Ý: Điều tác giả muốn nói đến

Tứ: Cách để tiếp cận, diễn đạt ý

Khi tác giả chọn cách nói trực tiếp, nói thẳng vảo điều muốn nói, bài thơ có ý và tứ giống nhau. Ý là tứ, tứ là ý, ý với tứ là một.

Thí dụ:

Anh Lái Đò của Nguyễn Bính

Ý và Tứ là một: Anh lái đò nói về mối tình tuyệt vọng của mình.

Hồ Trường của Nguyễn Bá Trác

Ý và Tứ là một: Hào khí của một sĩ phu trước cảnh đất nước điêu linh

Khi tác giả không muốn nói trực tiếp, không muốn nói thẳng vào điều muốn nói mà mượn một hình ảnh khác, một sự kiện khác để thố lộ lòng mình, bài thơ có ý và tứ khác nhau. Ý là điều muốn nói; tứ là hình ảnh mượn để thố lộ lòng mình.

Thí dụ:

Ông Đồ Già của Vũ Đình Liên

Tứ: Ông đồ ngồi bên phố viết câu đối thuê cho khách du xuân. Nay xuân đến, không thấy ông đồ nữa, nhiều người tiếc nhớ.

Ý: Tác giả muốn nói đến nền nho học đang lụi tàn.

Hổ Nhớ Rừng của Thế Lữ

Tứ: Lời con hổ trong vườn bách thú tiếc nhớ những ngày còn là chúa sơn lâm, tự do vùng vẫy nơi rừng sâu núi cao- giang sơn của mình.

Ý: Tác giả mượn lời con hổ để nói đến hào khí, ước mơ của chính mình.

Phần Xác Của Thơ: Kỹ Thuật Thơ Ca

Các công việc chọn thể thơ, chọn cách gieo vần (hoặc không vần), chọn chữ, câu để tạo hình ảnh, âm thanh cần thiết, chọn các biện pháp tu từ… đều để phục vụ cho mục đích chính là thể hiện tứ thơ, để dàn trải tứ thơ trên trang giấy thành bài thơ. Tất cả những kỹ năng ấy được gọi là KỸ THUẬT THƠ CA. Gọi là kỹ thuật thơ ca là vì những thứ ấy có thể học hỏi được, tập luyện được. Cũng giống như một thiếu niên vào trường Năng Khiếu Bóng Đá, ngoài phần rèn luyện thể lực, sẽ được học kỹ thuật dừng bóng, đi bóng, lừa bóng, sút bóng, ném biên, đội đầu, tranh bóng, xâm nhập, cản phá, phối hợp với đồng đội để thực hiện những ý đồ chiến thuật cụ thể do huấn luyện viên đưa ra.( Nếu là thủ môn thì học thêm kỹ thuật bắt bóng.). Và nếu chăm tập luyện thì sẽ có kỹ thuật cá nhân điêu luyện, thực hiện được những miếng phối hợp chiến thuật một cách nhuần nhuyễn. Nhưng nếu chỉ có phần kỹ thuật thì các trận đấu bóng đá sẽ rất tẻ nhạt. Cái phần hồn của của trận đấu là sự ngẫu hứng của cầu thủ. Khi bị dẫn trước một bàn, các cầu thủ vùng lên quyết gỡ hòa; khi khán giả hoan hô vang dậy cầu trường, các cầu thủ cao hứng, bừng lên, phô diễn tài năng của mình trên sân cỏ. Lúc đó, giữa các cầu thủ sẽ có sự ăn ý đến kỳ lạ; hình như có một ma lực nào đó nối kết họ với nhau; hình như sau gáy mỗi cầu thủ đều có thêm đôi mắt. Không cần nhìn cũng có đường chuyền rất vừa tầm cho đồng đội. Chỉ cần xoay nhẹ mình đúng lúc là có thể vô hiệu hóa sự cản phá của hàng phòng ngự đối phương, rồi trong cái nháy mắt ấy tung cú sút bay vào góc thượng khung thành, chỉ cách ngón tay của thủ môn gang tấc. Đường chuyền ấy, cái xoay mình ấy, cú sút ấy đã tạo nên cái gọi là nghệ thuật bóng đá, đã làm mê say biết bao nhiêu khán giả mộ điệu. Trong thơ ca cũng vậy. Một chuyên viên thảo chương về điện toán nào đó thật tài giỏi, dựa vào sự hiểu biết về kỹ thuật thơ ca, có thể một ngày nào đó tạo ra một software mà nếu đưa vào đó dữ kiện cần thiết sẽ cho ra những bài thơ tương ứng với dữ kiện đưa vào. Đó là những bài thơ có xác mà không có hồn. Cho nên muốn tạo được một bài thơ hay, ngoài việc nắm vững kỹ thuật thơ ca, chọn ý hay, tứ lạ, còn phải biết cách tìm bắt hồn thơ.

Có kỹ thuật thơ ca vững vàng mà thiếu hứng, thiếu hồn thì bài thơ tẻ nhạt

Có hứng, có hồn mà kỹ thuật thơ ca yếu kém thì bài thơ sẽ non nớt làm bực mình người đọc – giống như hai đội bóng cấp làng xã trong trận chung kết; cầu thủ hào hứng, quyết thắng, khán giả hoan hô, cổ vũ muốn vỡ cầu trường nhưng trọng tài thường phải thổi phạt những lỗi sơ đẳng, khán giả phải xem nhiều pha chận bóng hụt, những cú sút “trật búa”, những lần để mất bóng lãng nhách….

Tìm Hồn Thơ

Thử tưởng tượng chúng ta đang được xem một trận đấu bóng đá (soccer) đỉnh cao. Ở đẳng cấp này các cầu thủ đều có kỹ thuật cá nhân điêu luyện. Đón bóng, chận bóng (bổng hay sệt) đều gọn gàng; đi bóng nhanh, che bóng kín, giữ bóng và kiểm soát bóng chặt chẽ; cầu thủ đối phương khó mà chạm vào bóng được nếu không chấp nhận phạm lỗi. Toàn đội lên xuống nhịp nhàng; các đường chuyền chính xác, vừa tầm, như cầm bóng đặt vào chân đồng đội của mình; thủ môn bắt bóng dính, phá bóng giỏi, phản ứng nhanh, ra vào hợp lý. Khán giả không phải xem những cú chận bóng …hụt, mất bóng lãng nhách hoặc “gởi thơ nhầm địa chỉ” (đưa bóng vào chân đối phương.)

Tình trạng của hai đội là “được ăn cả, ngã về không”; chỉ có thắng, không có hòa; hòa là chết. Lúc ấy, với kỹ thuật cá nhân nhuần nhuyễn, đấu pháp nhịp nhàng hợp lý, các cầu thủ sẽ không còn toan tính câu giờ, giữ miếng mà sẽ đem hết toàn lực tấn công hoặc xả thân phòng thủ. Với thế trận như vậy huấn luyện viên nào khơi được lòng quyết thắng, sự hứng khởi nơi cầu thủ và nếu may mắn có được một pha đi bóng ngoạn mục, một đường chuyền khôn ngoan, đẹp mắt được khán giả rầm rộ vỗ tay cổ vũ các cầu thủ sẽ bừng lên, sẽ bị cuốn vào cơn hứng khởi của cầu trường và sẽ đá xuất thần, có hồn. Trận đấu sẽ không còn ở mức thể lực, kỹ thuật mà đã được nâng lên một tầm cao mà những người yêu bóng đá đều mong đợi: Nghệ Thuật Bóng Đá.

Bước qua lãnh vực thơ ca, giả sử bạn được cầm trong tay một bài thơ ở trên mức “thường thường bậc trung”. Hình thức không khô cứng, gò bó như các thể thơ truyền thống; trong âm điệu, nhịp điệu có vị ngọt của thơ ca ở mức độ vừa phải – không nhạt thếch nhưng cũng không ngọt lợ – đủ mạnh để làm thuốc dẫn đưa người đọc theo dòng cảm xúc của tác giả. Nội dung thì tứ thơ, ý thơ, cảm xúc đều mới lạ, phản ảnh được mạch sống đương đại. Tác giả không để lộ một sơ sót nào trong kỹ thuật thơ ca để ảnh hưởng đến việc thẩm định giá trị bài thơ. Lúc ấy mọi con mắt sẽ đổ dồn vào cái cốt lõi của bài thơ: cái chân tình mà tác giả muốn truyền đến người đọc. Thơ là tiếng lòng, tiếng nói của con tim không qua sự gạn đục, khơi trong của lý trí. Bởi vậy người đọc sẽ đọc kỹ, sẽ xoi mói để xem lời thơ ấy có thực sự là tiếng lòng không? (Thật ra, nếu bài thơ được viết trong lúc cao hứng, đầy ắp cảm xúc thì hơi thơ sẽ tỏa ra nóng hổi, người đọc sẽ cảm thấy ngay.) Và sẽ dựa vào kết quả của sự tìm tòi ấy để đánh giá bài thơ. Những nhà thơ có kinh nghiệm ngoài việc nhuần nhuyễn kỹ thuật thơ ca còn rất chú tâm đến việc bày tỏ lòng mình một cách chân thật.

Và rất nhiều người đã mượn cái miệng của con trẻ để nói hộ những điều họ muốn nói trong thơ. Nói đến trẻ con là nói đến sự ngây thơ, trong trắng, thật thà; trẻ con không biết nói dối; những điều trẻ con nói không có những toan tính vị kỷ của lý trí chen vào. Hơn nữa, lý trí của trẻ con chưa đủ phát triển để có thể rào đón, tránh né, nói chỉ những điều có lợi cho mình. Có người bảo tôi “nếu giữ tâm hồn được ngây thơ, trong trắng như trẻ thơ mà lại có kinh nghiệm sống đầy ắp, kỹ thuật thơ điêu luyện trong tay chắc là làm thơ sẽ hay lắm.” Tôi đồng ý ngay. Với tôi, lý trí là kẻ thù số một của thơ ca. Chả thế mà những nhà thơ Siêu Thực đã xử dụng rất nhiều thủ pháp để đánh bật lý trí ra khỏi tâm hồn trong lúc đang chế tạo thơ ca. (Nhưng khi những mảng tâm tư, tình cảm từ trong vô thức được moi ra trải trên trang giấy, lý trí sẽ len lỏi vào, nhúng tay vào công việc sắp xếp lại thứ tự những mảng tâm tư, tình cảm đó, và sẽ “xúc phạm” đến cái Chân Thật làm nên hồn thơ.) Chỉ có cách, theo tôi, kiên nhẫn tích tụ kinh nghiệm sống, miệt mài rèn luyện kỹ thuật thơ ca và chờ đến lúc cảm xúc trong lòng sôi lên phủ mờ lý trí. Chính lúc đó, nếu phóng bút sẽ tạo được những câu thơ có hồn. Khoảnh khắc đó đến bất chợt và ra đi rất nhanh không một lời từ giã. Tìm hồn thơ là lắng nghe lòng mình (hoặc tìm cách khuấy động lòng mình) để bắt gặp cái khoảnh khắc “lên cơn” đó. Và khi đã “lên cơn” thì đừng chần chờ, phải hối hả viết ngay. Bởi khi đã bình tâm suy nghĩ thì hào khí ngất trời cũng xẹp dần như bong bóng bị xì hơi để nghĩ đến miếng cơm manh áo, vợ (chồng) đẹp, con khôn. Khi lý trí đã trụ được ở trong lòng thì đau thương chất ngất cũng nguôi ngoai, hận thù đằng đằng cũng lắng xuống, tình yêu cháy bỏng cũng nguội dần đi. Lúc ấy dù kinh nghiệm sống có phong phú đến đâu đi nữa, kỹ thuật thơ ca có điêu luyện đến đâu đi nữa, cái mớ chữ nghĩa được viết ra cũng không còn hơi sức để lay động lòng người.

Trong kinh thánh Chúa Giê-Su đã từng nói: “Này ta bảo thật cùng các ngươi, nếu không trở lại như con trẻ thì sẽ không vào được nước trời đâu.” Ngài cũng muốn nhấn mạnh đến sự chân thật. Người đời, trong đó có cả các thi sĩ, thường gian dối. Cầm bút lên là đã muốn vơ cái hay, cái đẹp về mình. Nhà thơ nào cũng vỗ ngực là yêu nước, thương dân, hiếu thảo với cha mẹ, tình nghĩa với anh chị em, chung thủy với vợ (chồng), hết lòng vì con, tốt bụng với bạn bè. Ngay cả khi kể lể một vài điều “không tốt” về mình cũng là muốn chứng tỏ mình thành thật. Có nhiều mức độ dối trá trong thơ:

Có người vì ham quyền hành, lợi lộc đã nói dối lộ liễu trong thơ; vừa liếc mắt vào cái “tâm sự” của “hắn” bày tỏ trên trang giấy, không cần suy luận hoặc kiểm chứng, người đọc đã biết là tên này xạo, vì nó rõ ràng ràng như 2 với 2 là 4. Nhưng vì ham sống sợ chết, mê bả vinh hoa phú quý, mê mồi danh lợi nên hắn cũng cố bôi mặt, nhắm mắt mà viết. Chỉ cần một, hai câu thơ kiểu này hắn sẽ trở thành trò cười cho thiên hạ suốt đời.

Có người cố che đậy sự dối trá của mình, hoặc trong thơ hứa một đàng, ngoài đời làm một nẻo, vô phúc bị đọc giả kiểm chứng, khám phá, vạch ra. Lúc ấy thì ôi thôi ê mặt. Không những bài thơ dối trá bị tẩy chay mà cả những bài thơ khác (cùng tác giả) có khi cũng bị “văng miểng”.

Một số đông khác không nói thật lòng mình nhưng lại khéo léo luồn lách, che dấu nên đọc giả không có bằng chứng để vạch trần sự dối trá; tuy nhiên trong lòng họ đã gợn lên một chút nghi ngờ. Trong lãnh vực pháp luật, không đủ bằng chứng buộc tội một nghi can thì nghi can đó phải được coi là vô tội. Còn trong thơ ca, đọc giả đã nghi ngờ sự thật lòng của tác giả thì bài thơ coi như “đi đoong”, hết đời, không còn giá trị.

Có bài thơ từ đầu đến cuối đều rất thật, không có chi tiết nào, điểm nào dối trá nhưng lại được viết trong lúc “tỉnh” quá, không có dấu hiệu đặc biệt nào để người đọc cảm được sự chân thật của tác giả, không có dấu hiệu đặc biệt nào để người đọc biết là tác giả đang “lên cơn”. Chân tình trong thơ phải được bày tỏ (show) chứ không phải chỉ cần nói đến (tell). Thơ loại này đem phân tích thì không thấy cái sai, cái dở nhưng đọc lên thấy thiếu cái hơi nóng của cảm xúc, thiếu cái hồn thơ.

Cuối cùng, chỉ có một số rất ít nhà thơ đặt bút làm thơ trong lúc “lạc thần trí”, trong lúc lý trí bị khối cảm xúc đầy ắp trong tâm hồn che phủ. Dòng thơ trải trên giấy chính là dòng cảm xúc, và chỉ có cảm xúc, cuồn cuộn từ trong lòng tác giả tuôn ra. Nếu chọn được thể thơ thích hợp tâm hồn đọc giả sẽ bị cuốn theo cái dòng cảm xúc đó, sẽ cảm nhận ngay tấm chân tình của nhà thơ. Và đọc giả sẽ tự nhủ “ta đã bắt gặp hồn thơ của tác giả”. Lúc đó, bài thơ đã đạt được mục đích cao đẹp của thơ ca: là nơi gặp gỡ của những tâm hồn đồng cảm.

Theo tôi, nhà thơ nên nỗ lực học hỏi để mở rộng tri thức về thơ ca, chuyên cần tập luyện để nhuần nhuyễn kỹ thuật thơ ca, sống và chiêm nghiệm để bồi đắp kho kinh nghiệm sống. Và sau cùng, kiên nhẫn, chăm chú chờ đợi để có thể chộp được cái khoảnh khắc quý báu khi hồn thơ chợt đến. Tìm hồn thơ cũng giống như tìm gặp Thiên Chúa, phải chăm chú lắng nghe lòng mình, bởi ngài đã nói “Ta đến như kẻ trộm; phước cho kẻ nào luôn luôn tỉnh thức.” Chỉ đúng lúc bắt được hồn thơ – vâng, chỉ có cái khoảnh khắc ngắn ngủi đó – phóng bút mới có thể dâng hiến cho đời một bài thơ đích thực.

Phạm Đức Nhì
Nguồn: Tác giả gửi

Đã đóng bình luận.