Khuất Đẩu
Tặng TTM
1.
Những tiếng rít chói tai.
Những tiếng nổ rách tọat.
Một tia sáng lạnh buốt bay phớt qua đầu anh.
Sao mà nhanh và ngọt như con dao trên tay của cô gái xứ dừa Tam Quan khi chặt cho anh một trái dừa.
Ngọt đến tê mê.
Ngọt vì nước dừa và vì dôi mắt biếc.
Rồi lặng im.
Pháo kích và phản pháo kích.
Máy bay trực thăng đưa anh ra hạm đội Bảy. Đúng như một trái dừa chặt khéo: một miếng vỏ sọ bay mất để lộ chất xám như đậu hũ vừa múc ra chén. Nhũng sĩ quan quân y Hoa Kỳ đã khéo léo khâu kín bằng lớp da đầu còn lại.
Anh sống. Như một phép lạ.
Rồi người ta đưa anh vào đất liền, an dưỡng, chờ lắp một miếng vỏ sọ bằng plastic.
Khoác lên người bộ đồ màu xám nhẹ tênh của bệnh viện, anh có cảm giác như không mặc gì trên người. Cứ như lúc mới sinh ra, trần trụi và mong manh. Anh đột nhiên nhớ mẹ đến muốn khóc. Nhớ, không phải vì thèm một bát cháo thơm ngon do mẹ nấu. Nhớ, cũng không phải vì thấy thiếu một bàn tay thô ráp và run rẩy sẽ lén đặt lên trán. Mà nhớ, vì suýt chút nữa anh đã chết mà không được gặp mẹ. Ý nghĩ ấy khiến anh bàng hoàng. Nó làm anh buốt nhói tưởng chừng miếng da đầu trên đỉnh sọ bục ra và óc não có thể trào ra như nước mắt.
Mình nhớ ra rồi. Lúc ấy mình đang ngủ. Trời cao nguyên se lạnh. Một giấc ngủ thật ngon. Nhưng những tiếng nổ lớn đánh thức mình dậy. Mình chỉ kịp tung chăn chạy ra ngoài vừa lăn vào hố cá nhân thì nó đã lao đến như một cái phãn phát bờ, thiếu một chút nữa là làm bay mất đầu mình. Và khi ấy tội nghiệp cho mẹ biết chừng nào. Lúc tiễn con đi, tròn trịa lành lặn. Giờ đón con về, dầu một nơi mình một ngã.
2.
Sáng nay, anh được bác sĩ cho phép đi dạo. Quân y viện nằm dưới những hàng dương vi vút. Lá dương như mưa nhỏ rải đầy trên lối đi. Tiếng sóng vỗ mơn man khi trầm khi bổng. Nắng lấp loáng trên những mái lầu của trường trung học. Yên bình quá. Cứ như một buổi sáng thức dậy muộn ở quê nhà. Chim hót trên những cây cau mà lá óng ánh bạc như những lưỡi kiếm. Xa thật rồi những ụ súng làm bằng bao cát, những hố cá nhân ngập nước mưa, những bao gạo sấy, những tiếng thét gào cùng những tiếng rên la trong tiếng đạn réo.
Bỗng dưng trong cái tĩnh lặng ngọt ngào ấy có tiếng kẻng. Không giục giã, hối thúc, không cuống quýt như tiếng kẻng tập họp mà thong thả reo vui như tiếng chuông nhà thờ trong chiều chủ nhật. Tiếng kẻng tan trường mà từ lâu anh đã quên.
Liền đó, anh thấy những bộ đồ xám mỗi lúc mỗi nhiều thêm trên những hành lang, những thương binh xanh rớt ốm o đầu và tay hãy còn quấn băng, những người cụt một chân chống nạn, có cả những người cụt cả hai chân ngồi xe lăn…Bọn họ rời bỏ cái giường lạnh lẽo hôi mùi cồn, lặng yên như nín thở để đợi chờ.
Chờ gì? Anh chưa kịp nghĩ ra thì như một con sóng thần tiên, con sóng trắng nhưng không phải bạc đầu, không từ biển đông mà từ ngôi trường kia ùa ra đường. Em tan trường về/ đường mưa nho nhỏ*. Đường không mưa nên càng đẹp hơn. Tiếng guốc khua trên đường, tiếng áo quần lụa bạch bay trong gió nghe xôn xao và vui ấm. Anh hiểu vì sao họ quên đau nhức, khập khiễng gắng gượng bước ra để được nhìn, được nghe và được thở. Anh cũng thở căng lồng ngực cái mùi hương dịu ngọt ấy và thầm cảm ơn mảnh đạn đã không cứa sâu hơn vào đầu mình. Tim anh như rung lên khi thấy thấp thoáng trong màu trắng bềnh bồng, những mái tóc đen ướt như vừa mới gội, những đôi mắt bối rối đến ngẩn ngơ.
Cho đến khi những con sóng xinh đẹp êm ái đó qua đi, trả lại cái thường hằng của tỉnh lẻ, anh và nhiều người khác nữa vẫn chìm ngập trong một cơn mê y như những người vừa hít thuốc phiện. Không ai tham lam mong hết những tà áo đó là của riêng mình, nhưng ai cấm họ mong được một, chỉ một thôi dể mai xa lắm trên đường biên giới/ còn một chút gì để nhớ để quên*
Từ đó, anh chôn chân bên hàng rào, ngày hai buổi đón chờ cái giây phút tan trường, như đêm tối chờ bình minh. Anh thấy mình mỗi ngày mỗi khỏe hơn. Cái vết lõm trên đỉnh đầu không làm anh lo sợ nữa. Một đôi khi anh lấy tay ấn nhẹ, tuy có cảm giác sập sình như đặt tay lên thóp của một đứa bé, nhưng anh không thấy đau. Anh thường hay mỉm cười và đôi khi nói một mình, nhưng anh không tưng tửng như nhiều người e ngại. Anh chỉ cần lắp một miếng plastic là có thể bình thường trở lại đời sống. Trong khi chờ đợi ngày ra hội đồng miễn dịch, anh lặng lẽ thưởng thức cái vẻ đẹp không một chút nhục cảm sáu ngày trong một tuần, bình yên diễu hành trước mặt anh mà không hề biết tới súng đạn.
Trong đám bồ câu trắng nói tiếng người ấy, cũng như bao thương phế binh khác, anh vẫn thầm chọn cho mình một con chim bé nhỏ. Em tuy mới mười lăm*, có lẽ như thế, vì vẻ rụt rè, vì dáng đi e ấp, vì chiếc áo đơn sơ, vì đôi guốc mộc không tô vẽ và vì nhiều thứ khác nữa mà trái tim anh mách bảo. Cô bé ôm cặp đến trường mà anh có cảm giác như đang bước vào một ngôi nhà làm bằng ánh sáng. Ngôi nhà của tương lai không tiếng đạn bom chỉ có tiếng cười của người già và tiếng khóc của trẻ sơ sinh.
Nhưng kìa, sao nàng ngập ngừng không tiếp bước? Nàng ngồi thụp xuống như dẫm phải gai. Những tà áo trắng chụm lại. Lanh canh những tiếng cười khúc khích. Rồi như những con thiên nga nâng đỡ một con bị nạn, cô bé được các bạn vừa che chở vừa dìu dặt mang đi. Thắm thiết trên nền trắng như mây, anh trông thấy giữa hai chân nàng một vệt đỏ như mảnh vỡ của mặt trời.
3.
Anh không bao giờ quên được cái sắc đỏ ấy, tự nó không một chút xấu hổ vì thẹn thùng, một sắc đỏ rất đáng tự hào vì hàm chứa một nguồn sống mênh mang. Cũng là máu nhưng không phải như máu của chính anh và đồng đội đã đổ ra trên những ngọn đồi tơi tả. Lại càng không phải là máu`của những người bên kia chiến tuyến. Những dòng máu tương tàn, đỏ bầm, đỏ khé như dung nham tràn tới đâu là hủy diệt tới đó.
Sau cái tháng tư tro bụi ấy, anh cũng như bao nhiêu người tàn phế khác bị đuổi ra khỏi quân y viện.
“Nơi đây không phải là chỗ của chúng mày”
“Thế chỗ chúng tôi ở đâu?”
“Ở địa ngục”.
Địa ngục, đúng rồi, anh lẩm bẩm. Bước chân ra khỏi cổng, anh trông thấy rợp trời một sắc đỏ như trong những chiều nắng quái.
Đỏ trước nhà, đỏ trên đường phố, đỏ trên cánh tay, trên ve áo.
Đỏ nằm im trên những bức tường dài.
Đỏ chạy đi trên những chiếc xe đò.
Đỏ trên miệng khi hô khẩu hiệu.
Đỏ trong hồn khi nói như vẹt.
Đỏ trong từng ngõ ngách khiến anh ngộp thở. Miếng da đầu kéo căng như mặt trống ếch. Anh nghe long bong, long bong. Nhưng khắp nơi lại rền vang muôn năm, muôn năm.
Long bong, long bong!
Muôn năm, muôn năm!
Thôi, mình điên rồi, anh nghĩ.
Nhưng điên mà biết suy nghĩ là chưa điên.
Vậy là gì?
Là tưng tửng thôi.
Tưng tửng là gì?
Là muốn điên lúc nào thì cứ điên.
Vậy hả? Vậy cho tôi xin chiếc quần vấy máu kinh nguyệt của em. Tôi sẽ kiếm cán làm cờ. Tôi cũng có sắc đỏ của tôi.
Thế rồi anh kiếm đâu ra một chiếc quần trắng. Bạn anh cụt tay liền tháo băng ra, nện xuống một cái cộp như đóng dấu. Một vệt tròn tóe máu tươi. Anh đã có lá cờ của mình, hiu hiu tự đắc bước đi trước đám phế binh què cụt. Bọn họ trở lại cái quân y viện nằm đối mặt với trường nữ trung học
Xung phong!
Anh vừa hô vừa cầm cờ chạy lên trước. Những người sau cầm nạng giơ lên. Cuộc chiến đấu ngu xuẩn diễn ra chưa được dăm phút đã bị dẹp tan. Ai đã què thì bị què hơn. Ai đã cụt lại phải cụt thêm một khúc nữa. Bọn họ bị vứt lên xe như rác rưởi trong thành phố. Xe bịt bùng chạy vút qua một đỉnh đèo. Bọn họ bị ném xuống một vạt rừng khô cháy ở một tỉnh khác.
Trừ anh, kẻ cầm đầu tay chân lành lặn. Anh bị khép tội chống phá cách mạng. Một ngày đẹp trời nào đó sẽ đem ra xử bắn.
4.
Giờ là mùa đông năm bảy lăm, một mùa đông mà cái rét lạ lùng như tràn tới từ đất bắc, lạnh đến nỗi có người gọi đùa là cái lạnh thống nhất. Anh bị giam trong một cái nhà xí bỏ hoang. Nhà xí có chừa mấy viên gạch không xây trên cao để thông hơi. Suốt ngày anh đu mình lên để được nhìn bên ngoài.
Bên ngoài có mấy cây bàng đứng thành hàng. Những cây bàng đầy lá xanh lốm đốm những vết đục của lũ sâu róm. Trong rét mướt chúng càng trở nên xấu xí dơ bẩn.
Bây giờ biết tìm đâu ra một tà áo trắng. Và đến bao giờ mới nghe được một tiếng guốc khua. Mẹ thà coi như là hạt bụi/ em thà coi như hơi rượu cay!*
Nhưng rồi mùa đông cũng sắp qua đi. Trời đã xanh và nắng đã ấm. Cái phút giờ chờ đợi ngày bị bắn cũng không còn làm anh mệt mỏi. Có gì đâu, cứ như đêm ấy cái lưỡi hái sắc lạnh kia hạ thấp hơn một chút.
Đầu anh đã không còn tưng tưng buốt nhức nữa. Chỉ vì anh không còn chết ngộp trong cái màu đỏ bầm đỏ khé kia. Anh bắt đầu ngâm thơ và hát.
Tiếng anh vang xa.
Người ta quát: câm!
Thế là anh hát thầm.
Cũng lại cấm vì thấy môi anh động đậy.
Anh cười, thì tao hát trong hồn, làm gì được tao.
Như để âm thầm hát cùng anh, những cây bàng trong một ngày cuối đông bỗng dưng tinh tươm, sạch làu và đỏ. Một sắc đỏ dị thường, nửa như da cam nửa như gấc chín, tươi hơn màu máu, mặc dù tươi để rồi lìa cành. Những cây bàng vì thế bỗng trở nên đẹp như những dũng sĩ khoác áo choàng đỏ đứng canh riêng một góc trời.
Anh sững sờ nhìn ngắm, quên mất cái đói cái lạnh.
Thực ra cây bàng đối với anh đâu có gì xa lạ. Lúc nhỏ anh đã từng lấy lá kết thành mũ đội đi nghênh ngang, đã từng đập trái để tìm ra chút béo ngọt. Mẹ anh vẫn thường dúi vào tay anh gói xôi đựng trong lá bàng. Anh cũng thường cùng chúng bạn tranh nhau nhặt lá bàng khô để mẹ đun bếp. Lớn lên khi đi học, anh đã hơn một lần bịn rịn chia tay ai đó dưới gốc bàng. Lúc ấy trông lên không thấy trời, chỉ thấy lá bàng xanh mướt kết thành từng tầng lên tận ngọn, lọc cái nắng cháy bỏng của ngày hè trở nên trong và dịu như mật. Nhưng cái sắc đỏ như hôm nay, lần đầu anh mới nhận ra. Cái sắc đỏ tươi thắm ấm áp ấy sao bỗng dưng bừng lên cùng một lúc như những cây bàng cùng cháy lên một lượt.
Các thứ lá ổi, lá xoài, lá mận…đều úa vàng xem ra rất mỏi mệt, rất bệnh hoạn. Chỉ riêng có lá bàng là đỏ một cách khỏe mạnh hiên ngang. Lá bàng đỏ như uống hết cái nắng của mùa đông.
Đỏ như ráng chiều.
Đỏ như máu trinh nữ.
Đỏ đẹp để rồi chết.
Còn mình thì sao?
Khuất Đẩu
08/10/10
* Mượn thơ của Vũ Hữu Định, Phạm Thiên Thư, Thâm Tâm, Nguyễn Nhược Pháp



















