Đôi điều trông thấy | Viết chơi cho có | Nước bốn ngàn năm đêm một giấc

Posted: 04/06/2012 in Nguyễn Tân Trãi, Thơ

Nguyễn Tân Trãi


Bè nuôi cá của người Trung Quốc trên vịnh Cam Ranh – Ảnh: Nguyễn Chung

Người Tàu nuôi cá ở Cam Ranh [1]
Phải đến mười năm cá mới tanh!
Báo chí đổ xô làm phóng sự
Công An được hỏi, đứng làm thinh!

Người Tàu đào thiếc ở Lâm Đồng [2]
Phải để bảy năm mới động rừng!
Báo chí đổ xô làm phóng sự
Công An chạy đến…đuổi hàng rong!

Hai tin mới nhất trong ngàn tin
Dân biết từ lâu, dám giật mình?
Mỗi cựa quậy đều…theo luật định
Thà lơ khỏi cái tội “ninh tinh”!

Hỡi ơi chừ thấy thơ chàng Chế [3]
Rất dễ thương vì quá dễ thương!
“Bên kia biên giới” anh em cả
“Bên này biên giới”…cũng Quê Hương!

Bốn biển năm châu chỉ một nhà
Cái tình hữu nghị chẳng chi xa
Chỉ người một nước là xa cách
Sống…bởi làm người? Chết…hóa ma?

[1] Bài báo Yêu cầu báo cáo khẩn về việc người Trung Quốc “đóng bè” trên vịnh Cam Ranh đăng trên Thanh Niên Online
[2] Bài báo Đâu là “ngành chức năng”? đăng trên Thanh Niên Online
[3] Thơ Chế Lan Viên:
Bên kia biên giới là nhà
Bên nay biên giới cũng là Quê Hương!

 

Viết chơi cho có

Hôm nay Thứ Sáu. Cuối tuần rồi. Còn một ngày còn thở giốc hơi. Chiều vuốt tóc lên cho trán mở, cầm lên vạt áo chậm mồ hôi…

Thêm một tuần qua nữa một tuần. Bao nhiều tuần chất tháng thành năm? Biển dâu đổi một đời cơm áo. Nước mắt lau mờ mấy cố nhân?

Đời có gì hơn ly rượu nhạt? Có gì hơn nữa bạn bè xa! Người đầu non với người thiên cổ, ai cũng đìu hiu bóng nguyệt tà!

Rồi mai Thứ Bảy, chuông Chùa đổ, chuông giáo đường vang nát trái tim. Câu nguyện không thành, tâm cứ nguyện, biết đâu kiếp khác mình là chim…

Đời chim không có chi ràng buộc, có thể rừng cây trụi hết cây, có thể gió bay bay hết tổ, cái còn duy nhất: Nhớ Thương Ai!

Một tuần tôi hỏi Thơ sao khóc? Ông Tú Xương cười nước mắt sa, thời của ông thì Non Nước Mất, thời tôi đù Mẹ tiếp đù Cha…

Cả nước vinh danh tiếng chửi thề, ai còn mặt mộc với chân quê? Ai nào mở miệng câu Xin Lỗi, ai đã ra đi đã trở về?

Thơ có bài làm không bố cục. Đời bao mơ ước hóa tang thương. Tôi buồn ngồi viết chơi cho có một chút tâm tình gửi khói sương…

 

Nước bốn ngàn năm đêm một giấc

Đêm.  Tôi uống thuốc ngủ.  Lịm một giấc thật dài.  Sáng.  Tiếng động bên tai, giật mình:  gần đứng bóng!.Tiếng vang là gió lộng.  Trời đang mùa bão dông…

Tôi ngó ra con sông.  Nước ngập bờ, sóng vỗ.  Ban ngày trời vẫn dỗ giấc ngủ của con cầu.  Sông không biết nông sâu.  Không đò ngang đò dọc.  Xe đi đường cao tốc.  Vút qua như thời gian…

Đêm của tôi, Việt Nam.  Ngày của tôi:  nước Mỹ.  Tôi lùi một Thế Kỷ, ca tụng hoài Quê Hương:  quên hết nỗi chán chường, ai ai đều thấy đủ đau khổ như Chúa khuyên (*).  Đêm là đêm, là đêm, ông Tú Xương từng nói:  “Thiên hạ có khi đang ngủ cả, tội gì mà thức một mình ta?”.  Hai câu thơ xót xa hay tự mình “kế hoạch”?  Con thằn lằn trên vách, thức, tặc lưỡi, buồn hiu…

Đêm, với tôi, sau chiều, là một ngày trọn vẹn.  Sinh ra trong cuộc chiến, sống suốt  đời điêu linh.  Chán chường hay bất bình…hãy như dòng nước chảy về chân mây ra bể về mãi mãi Thiên Thu…Sống, mình biết ngậm cười, chết sẽ không đau khổ?  Chúa, giàu còn mang khố, ta nghèo có sơ mi!  Phật, một lòng từ bi, tại sao ta phẫn nộ?  Trường Đại Học, kìa, Mở!  Đâu có ai chịu vào!  Đất nước ta Đẹp Giàu,  cứ van xin, khấn vái…

Thời nào cũng Thời Đại!  Buồn ơi là buồn ơi!  Ngô Tổng Thống muôn đời, chỉ chín năm “đổi ngựa” (**). Hồ Chủ Tịch nằm đó, cái mồ…mới muôn năm?  Tôi hỏi tôi, tôi câm; hỏi người thân, nhíu mặt:  “Quý gì hơn Phân Bắc, không bao giờ đổi mùi!”.

Thôi thì đành cạn lời!  Kệ con sông cứ chảy.  Sư Tam Tạng phơi giấy mà cứ ngỡ phơi Kinh!  Một việc rất vô tình tạo nên Kinh Vô Tự!  Đêm, tôi uống thuốc ngủ.  Ngủ say, không giật mình.  Ông Tản Đà bất bình, kệ ông, ông cứ nói:  “Nước bốn ngàn năm chưa thức tỉnh, dân hăm nhăm triệu vẫn còn mê!”

Nguyễn Tân Trãi
Nguồn: Tác giả gửi

(*) “Chớ lo lắng chi về ngày mai, vì ngày mai sẽ tự lo lắng cho ngày mai.  Sự khó khăn ngày nào đủ cho ngày nấy”, “Take therefore no thought for the morrow: for the morrow shall take thought for the things of itself. Sufficient unto the day is the evil thereof.” – Câu 34, Ma-thi-ơ 6,7.

(**) Tháng 8, 1963, cử Cabot Lodge sang Sài Gòn làm Đại Sứ , Tổng Thống Kenedy nhắn nhủ:  “Đã tới lúc phải thay Ngựa giữa dòng!”.  Đầu tháng 11, 1963, Tổng Thống Ngô Đình Diệm chịu án tử thê thảm ngay trước cửa nhà thờ Cha Tam ở Chợ Lớn!

Đã đóng bình luận.