Trần Ngọc Hưởng
Qua ải Chi Lăng
Nhớ Nguyễn Du trên đường qua Quỷ Môn Quan
“… Mười tám Chi Lăng, Liễu Thăng thất thế
Hai mươi Mã Yên, Liễu Thăng cụt đầu…”
Cáo Bình Ngô, khí văn hào sảng
Truyền lưu muôn trước thấu muôn sau
Hai dãy tường thành bày thế trận
Một miền tử địa Quỷ Môn quan
Ngàn năm nhớ mãi lời thơ giặc
“ Thập khứ” ai hay… “cửu bất hoàn”
Người xưa lướt gió ghì cương ngựa
Trước ải Chi Lăng ngẩng mặt nhìn
Kiếm báu vua Lê sừng sững dựng
Một hòn núi hiểm dưới trời xanh
Mã Yên tượng núi đang quỳ gối
Nhân dáng cụt đầu: Đá Liễu Thăng
Gợi nhớ một thời tên tướng giặc
Đầu rơi hổ đói hết hung hăng
Mây mù vần vũ giăng mưa bụi
Gió lật từng trang lạnh cổ thi
Rượu lẻ đôi chung lòng đủ ấm
Đêm nao ngủ đỗ quán biên thuỳ
Bên kia phên dậu đâu là bạn
Mà cạn chén đầy rót chén vơi
Có phải quanh đây là trận mạc
Mà nghe tanh tưởi máu xương người
Đá dựng gió va như sóng vỗ
Xé lòng muôn dặm khách về Nam
Trăng tà vượn hú trơ đầu bạc
Ngại chuyện đón đưa việc phải làm…
Bỗng nghe núi Tản bừng linh khí
Sóng Bạch Đằng reo tiếng Biển Đông
Cả tiếng gầm vang ngàn hải đảo
Định phân cương thổ giống Tiên Rồng…
Biển đảo quê hương
Ba ngàn cây số biển
Đất nước ta bao đời
Hai ngàn đảo lớn nhỏ
Chịu sóng giữa trùng khơi
Dầm mình trong giông bão
Chẳng một phút bình yên
Nắm xương khô cắm mốc
Đảo bắt đầu có tên
Tiền nhân thời mở cõi
Đã miễu lập, bia đề
Bãi san hô, doi cát
Đảo đá ngầm… thành quê
Những Tốc Tan, Tiên Nữ
Những Vĩnh Lạc, Cam Tuyền
Song Tử Tây, Nam Yết
Chữ Thập và Châu Viên…
Những Đá Đông, Duy Mộng
Những Sinh Tồn, Gạc Ma
Trường Sa, Hoàng Sa ấy…
Dấu vết xưa chưa nhoà
Gửi đến quân hải tặc
Âm vang sóng Bạch Đằng
Truyền thống dân tộc Việt
Lời Hịch Tướng Sĩ văn…
Bao lớp người trấn thủ
Nối nhịp tim đất liền
Cùng chen vai bám giữ
Đất hương hoả tổ tiên
Trần Ngọc Hưởng
Nguồn: Tác giả gửi



















