Đường bay của chủng tử

Posted: 21/07/2012 in Hoàng Quy, Tùy Bút / Tản Văn / Ký Sự

Hoàng Quy

Rằm tháng bảy. Trăng ở quê tôi vàng óng như tơ rải trên cánh đồng lúa vừa đỏ đuôi. Những ngọn đồi hoa sim thoai thoải, trăng phơi bàng bạt, chảy dài theo dòng sông Thu như dãi lụa Trử La dặt dìu sương phụ. Đêm ấy, tôi quỳ trước chánh điện như đứa con hoang trở về nhà. Tiếng chuông rơi đều theo những giọt nước mắt loang ra rồi chảy vào tâm hồn thơ dại. Mùi trầm nhang phảng phất quyện vào hơi thở, mênh mang tận cùng trời đất…

Mấy hôm nay một cơn lốc vừa thổi qua tâm hồn tôi. Cơn lốc tàn phá miền tĩnh lặng trong tâm thức của đứa con đã từng lang thang qua những vùng lau sậy tri thức…Câu chuyện đã xảy ra hồi cuộc chiến còn đang hổn loạn hơn 40 năm về trước trên thung lủng quê nhà.

Tôi sinh ra và lớn lên trên mảnh đất heo hút dưới chân dảy Trường sơn. Một ngôi làng nhỏ như cái bàn tay. Bốn bề núi dựng. Dòng sông Thu chảy qua, lượn quanh giữa một vùng núi non cách trở. Ngọn đèo Le, truông Phường Rạnh, và ngược dòng Thu Bồn. Chỉ có ba “tuyệt lộ” ấy là con đường huyết mạch của thung lủng Đại Bình, ngày nay là huyện Nông Sơn. Thời thơ ấu, tôi học chữ Nho ở chùa Đại Phước tự. Ngôi chùa tranh vách đất, rộng và tĩnh mịch, với những tượng Phật lớn bằng gỗ, những tượng La Hán và cả hai ông Thiện, Ác sơn son phết vàng đứng trước cửa chùa. Mỗi lần vào lớp hoc, phải đi ngang qua hai vị nầy, trong lòng nơm nớp lo sợ. Lớp học vỏn vẹn chỉ có năm, sáu  đứa học trò ê, a “thiên trời, địa đất, trử cất, tồn còn…” Tôi tập viết những chữ đàu đời trên cuốn tập bằng lá chuối ngổn ngang, cây bút là cây cọ bằng tre vuốt nhọn. Thời ấy, chuyện học hành đơn giản thế đấy!  Nội tôi lập chùa Đại Phước tự , tu hành, tụng niệm và rước thầy đồ về dạy học cho con cháu…Thế rồi, ngôi chùa ấy cũng biến đi theo ngọn lửa của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Những tượng phật ở chùa Đại Phước rồi cũng sơ tán , cũng phai dần trong tâm trí trẻ thơ như những đám mây chiều bàng bạc trên đỉnh núi Chúa, đỉnh núi Cà Tang. Tưởng chừng như thế.

Nhưng, nụ cười trên môi của đức Phật, cứ mơ hồ, ẩn hiên trong tâm hồn. Tôi lại bắt gặp nụ cười  phồn hậu, bao dung, độ lượng ấy trên bức tượng bằng đồng của Ngài  trong chánh điện chùa Đại Bình. Đó là một ngôi chùa nghèo, được xây cất trong khu vườn rợp bóng cây quả. Tôi chưa có một ấn tượng gì về ngôi chùa nầy. Bỡi vì, tôi đã bỏ làng ra đi hơn ba mươi năm. Ba mươi năm lang bạt khắp miền tây sông nước. Mùa thu nầy, tôi quay về làng ngở ngàng, lặng lẻ như bóng chiều chìm khuất trên bến nước sông xưa.

Cuộc chiến tranh tàn khốc vừa đi qua trên quê hương đã để lại vết thương trên vai bức tượng đức Phật. Và câu chuyện huyền nhiệm ấy, người phật tử ở chùa Đại Bình kể cho tôi :” Hơn hai mươi năm, trước 75, bức tượng nầy đã di tản đi khắp bốn ngôi chùa trong huyện Quế Sơn. Sau những ngày chùa Đại Bình được tái thiết, bức tượng ấy lại quay về chùa cũ như một sự nhiêm mầu,,,”

Mấy hôm nay, tôi đi lang thang trên cánh đồng lúa đang chín, mang theo hình ảnh, nụ cười trên môi của đức Phật, với vết đạn của quá khứ xé toạt vai trái của Ngài. Vết thương như một chứng nhân, như một tội đồ của chiến tranh, như một Juda đáng thương. Vết thương nguyên vẹn, một cái lổ thủng bằng ngón tay cái. Máu đã khô từ bao giờ ! – (chỉ là viên đạn và chỉ là bức tượng bằng đồng thôi  mà…) Thế nhưng, tôi cứ bước đi, lang thang khắp đồng ruộng, ven đồi, không biết đi về đâu. Tâm hồn tôi đang rỉ máu, đầu tôi nặng trĩu, những giọt mồ hôi rịn ra trên trán, cay cả đôi mắt. Tôi vẫn chưa tìm ra đường bay của viên đạn. Có lẽ, khi ấy, viên đạn thoát ra từ đầu nòng súng có mang theo chút hận thù, chút ngu muội, và một mớ ma quỷ đen tối làm mờ ám tâm trí đứa con u mê ấy. Bức tượng Phật lớn ở chùa Đại Phước khi về trụ xứ ở chùa nhỏ phía đầu làng cũng cùng chung số phận. Một loạt đạn vô tình hay cố ý của tên tội đồ chiến tranh đã bắn vỡ tan bức tượng thành từng mảnh. Hai người phật tử tội nghiệp ở làng tôi lặng lẻ, lượm từng mảnh gỗ vỡ vụn, đặt vào chiêc chiếu manh, gói lại rồi mang đi chôn ở phía sau vườn chùa, đầy nước mắt…Câu chuyện đau lòng ấy là cả một quá khứ đen tối đã đi qua trên quê hương. Ông Tào, ông Sáu Lại hai người phật tử ấy, nay cũng đã qua đời. Thế nhưng, con cháu của họ vẫn tiếp tục con đường tu học. Có người đang lập chùa, có người đang làm luận án tiến sĩ phật giáo ở nước ngoài…Cái nhân lành ấy đã gieo quả ngọt, thơm ngon như cây trái ở làng Đại Bình. Ba trăm năm qua, từ ngày có làng, cuộc sống ở đây vẫn yên ả. Người dân làng tôi lấy cái hòa khí mà sống, lấy cái nhân nghĩa mà đối đải với nhau.

Đức Phật đã dạy chúng ta : Phải thấy rỏ bộ mặt thật của cái khổ và diệt khổ. Chỉ có hai vấn đề chính yếu đó, dựa trên bốn thánh đế, thập nhị nhân duyên, bát chánh đạo, đứng trên lập trường bình đẳng, lấy lòng từ bi mà cứu độ chúng sanh. Thế nhưng, đã trải qua một quá trình đăng đẳng, chân lý vẫn chưa thấm nhuần vào đời sống của nhân sinh. Thế lực của tham, sân, si mỗi ngày thêm điên đảo, ngăn chận,cản trở mọi tiến trinh tiến hóa của đời sống tâm linh và sự thăng hoa cuộc sống của con người. Phải chăng, sự tương quan giữa đời và đạo vẫn chưa tìm thấy một mẫu số chung trong công cuộc chuyển thế. Đời chưa tùng Đạo. Bỡi vì, nghìn năm qua, xã hội loài người vẫn chưa xây dựng được cái nền tảng cơ bản cho sự sinh tồn có định hướng cho loài người trên bước đường tiến hóa. Cho nên, muốn chấn hưng phục hóa đời sống xã hội, phải lấy cơ đạo làm nền tảng. Tam tông chơn giáo phải được đưa vào xã hội nhân quần. Bỡi cốt tủy của tam tông chơn giáo ( Phật, Thánh, Tiên) là Bi, Trí, Dũng. Bi Trí Dũng là tinh hoa của ba nền đạo học. Ba cái góc trong một tam giac đó, là sự hình thành cân đối để tác thành một giáo án cho nền văn minh đạo đức. Tất cả đều hướng tới mục đích tối hậu là phụng sự nhân sinh. Tôn giáo là nguồn ánh sáng góp phần váo sự sinh tồn của nhân loại. Ánh sáng đó là nguồn sinh lực, là mô hình , là công thức, là khuôn vàng thước ngọc dung thông mọi tiến trình tiến hóa về tâm linh cũng như khoa học kỷ thuật, luôn tác động vào đời sống của nhân thế.

Giờ đây, các nhà đạo học, các bậc thiện trí thức, các nhà khoa học…phải cấp tốc bắt tay vào sự nghiệp phục hưng đạo lý, hướng xã hội loài người bước vào một nền văn minh đạo đức, khai hóa đời sống tâm linh. Phải làm cái việc mà xưa nay Tam giáo chưa khai triển hết, chưa nói lên được chân lý. Đó là vấn đề khai mở chơn kinh, giải mả tất cả các thể pháp và bí pháp đang hiện hửu trên mặt đất nầy. Chơn kinh chưa giải hết, bỡi vì lý pháp chưa tường tận, giáo lý còn lập lửng giữa cái hửu tự và vô tự kinh. Cho nên vấn đề giải ly trong giáo lý, cũng như vấn đề thuyết pháp đã trở thành thuyết giáo. Vì thế, mà nhân thế vẫn còn mò mẩm trong lộ trình tiến hóa , lẩn quẩn trong u minh của mê tín, chưa thực sự tìm thấy ánh sáng của Đạo. Ánh sáng lu mờ thì bóng đen bao phủ, âm thịnh thì dương suy, sáng đi thì tối đến…Tham, sân, si trở thành những thế lực khuynh loát đời sống kể cả tinh thần lẫn vật chất.

Vết thương trên vai tượng phật ở chùa Đại Bình, mãi còn đau nhức và rỉ máu trong tâm hồn người phật tử ? Vết thương đã để lại trong tâm thức tôi một tình trạng tư duy nghiệt ngã. Vẫn biết, mọi thứ vật chất đều phải hủy hợại. Thế nên, vết thương ấy cần được xóa bỏ , làm mới lại, để xây dựng một đời sống thực tiển, bước vào đời sống tâm linh với chơn tâm của người phật tử đã được nhuần gội chân lý của đức Phật Tư Bi Hỷ Xả.

Hoàng Quy
Nguồn: Tác giả gửi bài và ảnh

Đã đóng bình luận.