Dấn bước thăng trầm – Phần II

Posted: 04/09/2012 in Nguyễn Bảo Hưng, Tùy Bút / Tản Mạn / Ký Sự

Nguyễn Bảo Hưng

Đã đăng: Phần [I]

« L’homme se découvre quand il se mesure avec l’obstacle. »
« Con người phát hiện được mình khi phải đương đầu với thử thách.»
A. de Saint-Exupéry (Œuvres –Terre des hommes, p.139 – Bibliothèque de la Pléïade – Editions Gallimard 1959)

Trảng lớn, Phú quốc, Long giao, Suối máu !
Ôi ! Những năm tháng sống phấn đấu để khỏi bị nhận chìm trong vũng lầy tuyệt vọng.

Năm giờ kẻng báo thức. Tập họp điểm danh. Phần ăn tiêu chuẩn chưa kịp giắt lưng đã nghe tiếng thúc giục cuốc sẻng lên đường. Lại những con đường cỏ ngập lối đi. Lại những mảnh đất sỏi đá chưa hề mang dấu vết khẩn hoang. Thế là một ngày lao động cải tạo lại bắt đầu. Và vẫn chỉ là một động tác liên tu bất tận : cuốc. Hôm nay thứ hai hay thứ bảy ? Cuốc. Đây là Phú quốc hay Long giao ? Cuốc. Mùa hè nắng thiêu đỏ lửa ? Cuốc. Mưa dầm gió bấc lạnh căm ? Cuốc. Cuốc nữa đi. Cuốc mạnh vào. Còn phải phấn đấu cuốc nhiều hơn nữa. Cuốc ! Cuốc ! Cuốc ! Cuốc miệt mài… Cuốc vô vọng…

Năm giờ chiều. Lại tiếng kẻng báo hiệu thu gom cuốc sẻng. Lại tập họp điểm danh. Lại chờ lệnh di chuyển về trại. Thế là một ngày trong đời sống cải tạo lại sắp chấm dứt. Một ngày như mọi ngày. Một ngày không buồn nhớ. Một ngày chỉ muốn quên. Như một ngày không tên. Một ngày chỉ mong chóng tới giây phút được coi đáng kể nhất trong một ngày : Cái giây phút được quyền để cho thân xác rớt bịch trên khoang chiếu mà nằm. Nằm. Nằm. Nằm… Nằm bải hoải. Nằm rã rượi. Nằm đầu óc trống rỗng để được nghe rõ niềm hoan lạc của cơn mệt nhừ tử rần rần lan khắp cơ thể như một chất độc dược giúp ta sớm được thiếp đi trong một giấc ngủ vùi… Đã tự bao lâu rồi, như một người mắc bệnh mang thú đau thương, tôi tự hành xác trong ngày cho cơ thể rã rời để có thể tìm lẩn trốn trong những giấc ngủ mệt nhọc. Để rồi sớm hôm sau khi nghe tiếng kẻng báo thức tôi lại bật dậy và, như con chó pavlop [4], vội vàng đi kiếm cuốc sẻng để tiếp tục thêm một ngày hành xác. Cứ thế, cứ thế… Ngày này qua ngày khác. Tôi như đi tìm ở nơi hành xác này một món linh dược hay đúng ra một thứ cháo lú để quên đi thân phận hiện tại của mình, để chấp nhận được chỉ còn là sự tồn tại của một thân xác. Tôi e sợ những giây phút tâm trí thảnh thơi, đầu óc bắt đầu phải suy nghĩ là những lúc tôi phải đương đầu với những trận bão tố khốc liệt của những câu hỏi lại dồn dập hiện ra. Tại sao ta bị đăt trong hoàn cảnh này ? Ta đã làm gì nên tội ? Vợ con ta giờ này ra sao ? Đến ngày nào ta mới thoát ra khỏi trại này ? Liệu ta có thể chịu đựng nổi mãi cảnh sống này không ? Tôi biết rằng nếu cứ để những câu hỏi này cứ luẩn quẩn xoáy mãi trong não, sẽ có lúc chúng làm đầu óc tôi muốn nổ tung, làm tôi bỗng lên cơn khùng xé quần xé áo, la hét om sòm, chửi rủa văng mạng để rồi bị đem nhốt vào nơi dành riêng cho những thành phần bị coi là điên dại. Hoặc đêm khuya tôi sẽ lao thẳng ra hàng rào như là một thách đố để hoặc là trốn thoát hoặc là bị bắn hạ, coi đó cũng là một con đường giải thoát. Nhiều lần tôi đã xiêu xiêu như muốn ngả theo lời kêu gọi mời mọc này. Nhưng tự đáy lòng dường như có tiếng thân quen nào đó lại vọng lên, ân cần nhắc nhở tôi chớ có dại dột, hãy kiên nhẫn chờ đợi. Và cuối cùng lời kêu gọi thì thầm nhưng tha thiết ấy đã làm sống dậy bản năng sinh tồn nơi tôi. Nhờ vậy mà tôi còn sống, vẫn sống, tiếp tục sống… Nếu ta có thể gọi như thế cũng là sống !

Trảng lớn, Phú quốc, Long giao, Suối máu !
Năm giờ chiều. Kẻng báo hiệu thu gom cuốc sẻng. Thế là một ngày lao động cải tạo sắp chấm dứt. Một ngày rồi cũng như mọi ngày. Nhưng một ngày lại không hẳn như mọi ngày. Một ngày tưởng không buồn nhớ. Nhưng một ngày chắc gì đã dễ quên. Tuy cũng chỉ là một ngày không tên.

Bữa nay nhờ sớm hoàn tất công tác khai quang, chúng tôi được phép ngưng tay cuốc dễ có đến gần một giờ trước khi có lệnh về trại. Trong đời cải tạo viên có thêm một giờ nghỉ xả hơi trong ngày lao động thật không khác gì gặp ngày lễ lớn, tới giờ chia cơm may mắn bốc thăm trúng được phần thịt có dính lẫn cục xương [5]. Cũng như mọi người, vừa buông tay cuốc tôi vội tìm một bóng mát làm chỗ ngả lưng. Tiếp đến là bắn một bi thuốc cối để tận hưởng cái khoái lạc do món quà một giờ nghỉ phụ trội khi không đùng đùng dẫn xác đến. Phải đã từng nếm mùi đói khổ trong đời sống cải tạo mới biết đến cái sướng đã đời chỉ nhờ có bi thuốc nhỏ nhoi hèn mọn. Khói thuốc rít vào làm bụng ta đang cơn đói càng thêm cồn cào, chân tay đã bải hoải càng thêm rã rời. Nhưng cũng chính nhờ cái đói mệt sẵn có mà ta càng dễ bị đảy tới giới hạn tận cùng của hiệu quả say khiến mọi cảm xúc rã rượi cồn cào hầu như tan biến. Còn lại chỉ là một cảm giác lâng lâng sảng khoái tưởng như hồn ta đang tách rời cái thân xác hệ lụy và cõi lòng ta đã có lúc sớm dược phiêu diêu nơi miền cực lạc… Không biết tôi đã nằm trong tư thế này để kéo dài niềm hoan lạc ấy từ bao lâu rồi. Năm phút ? Mười phút ? Nửa giờ đồng hồ. Rất có thể… Cuối cùng biết không thể lẩn trốn mãi trong ảo tưởng được, tôi đành mở mắt để lại phải nhìn ra cái thực tại đang sống của mình. Đây rồi, mảnh đất vừa được cuốc xới vẫn còn ánh lên một chất nâu non màu mỡ. Nhưng hình ảnh những người bạn cùng tổ đang nằm rúm ró quanh quất khiến tôi lại rơi vào tâm trạng chán chán nản rã rời hơn bao giờ hết. Mảnh đất mới đây còn hoang dại, nay đã trở thành màu mỡ, cũng là do công sức lao động của tôi đó. Nhưng thành quả lao động này phỏng có ích gì và liệu có giải quyết cho tôi được gì? Tôi đã phải đổ mồ hôi để chân được thêm cứng, đá phải trở nên mềm không biết tự bao lâu rồi? Vậy mà công dã tràng vẫn hoàn công dã tràng; và mọi hứa hẹn khuyến khích cũng chỉ là những bãi bọt biển. Có ra sức cầy cuốc cho lắm thì sáng sáng vẫn thấy mình đứng trước một mảnh đất tưởng như trải dài bất tận. Và cuộc sống, rút cục, vẫn chỉ gom thành động tác duy nhất : cuốc. Bất chợt tôi liên tưởng tới nhân vật trong tập tiểu luận của A. Camus và tự nhủ : “A thỉ ra mình cũng đang làm công việc của Sisyphe đây.” Ý nghĩ hiện ra bất chợt trong khoảnh khắc được nghỉ bất thường này không ngờ cứ lởn vởn trong óc tôi để trở thành một ám ảnh không rời. Suốt chặng đường về và ngay cả sau khi đã ngả lưng trên chiếu, ý nghĩ này vẫn bám riết lấy tôi như một con đỉa đói bắt tôi phải thao thức. Thế là tôi hết tìm lại được giấc ngủ lấp lú như thường lệ. Thế là tôi lại bắt đầu phải trực diện với điều mà cho tới nay tôi vẫn tìm cách lẩn tránh. Tôi buộc phải đi tìm giải đáp cho những câu hỏi mà tôi không muốn thấy đặt ra. Cớ sao ta lại lâm vào cảnh sống này? Ta có thể chấp nhận tồn tại trong thân phận hiện nay bao lâu? Việc làm hàng ngày của ta liệu có mang một ý nghĩa cứu rỗi nào chăng? Càng tự vấn tôi càng đâm bế tắc và cảm thấy mình còn mang thân phận bi đát hơn cả Sisyphe.

Sisyphe, nhân vật thần thoại Hi lạp, vì can tội chống lại các thần linh nên bị đày xuống địa ngục và chịu thêm hình phạt là phải đẩy một khối đá nặng từ chân một ngọn núi lên tới đỉnh. Nhưng vì mỏm núi nhọn hoắt nên tảng đá khi được vần sắp tới đỉnh, do sức nặng của nó, lại lăn trở về vị trí cũ. Vì thế Sisyphe cứ phải hì hục làm mãi công việc đảy đá một cách vô ích và vô vọng. Các thần linh đã chọn hình phạt này để trừng phạt đích đáng tội cả gan nghịch thượng của Sisyphe. Họ cho rằng không có gì nghiệt ngã cho bằng bắt tội nhân phải kéo lê một cuộc sống đọa đày vô nghĩa. Sisyphe đã phạm tội gì để các thần linh muốn trả thù độc địa như vậy?

Truyền thuyết Hi lạp lưu lại cho ta rất nhiều sự tích nhưng lại không nhất quán về hành vi phạm pháp của Sisyphe. Theo lời Homère kể thì Sisyphe, chẳng đặng đừng trước cảnh thần Pluton để mặc cho đàn em là thần Chết gây tang tóc nơi cõi trần, nên đã tìm cách trói tay thần Chết lại. Bực tức vì thần Chết làm mất đi của mình một trò đùa vui mắt, Pluton bèn ra lệnh lùng bắt Sisyphe đày ải địa ngục. Nhưng có sự tích lại kể rằng Sisyphe, để cứu nhân dân thành Corinthe khỏi nạn hạn hán, có mách cho cho thủy thần Asophe là chính Jupiter đã bắt cóc con gái ông ta. Tức giận vì Sisyphe dám tiết lộ hành vi xấu xa của mình, Jupiter mới buộc Sísyphe phải lãnh án đảy đá để trả thù. Lại còn một sự tích khác theo đó Sisyphe khi sắp chết, muốn thử vợ, đã căn dặn là phải đem xác mình ra bêu nơi công cộng. Bất mãn vì vợ thi hành y lời, như vậy là ăn ở không đúng tình người, Sisyphe bèn xin với Pluton được một lần trở về cõi dương để trừng trị vợ. Nhưng khi thấy lại ánh sáng mặt trời, Sisyphe đâm ra luyến tiếc cuộc sống thế gian nên tìm cách trốn ở lại để tận hưởng thú vui trần thê. Cũng vì sự đam mê hạnh phúc thế gian này, bất chấp mọi đe dọa của thần linh, nên Sisyphe mới phải chịu cực hình của tên nô lệ khổ sai chung thân. Sự tích tuy nhiều, nhưng tựu trung ta vẫn chỉ có một mớ giả thuyết trái ngược về hành vi phạm pháp của Sisyphe. Chính tình trạng hỗn tạp mơ hồ này mới là yếu tố kích thích trí tưởng tượng dân gian khiến câu chuyện càng được thêu dệt hoang đường và tăng thêm tính huyền thoại của nhân vật Sisyphe. Nhưng huyền thoại phát sinh không cốt để được nuôi dưỡng bằng óc tưởng tượng hoặc để thỏa mãn nhu cầu về fantasme. Huyền thoại vẫn sống động trong không gian với thời gian bởi vì nó còn mang một ý nghĩa biểu tượng: đằng sau những sự tích hoang đường, số phận của mỗi nhân vật huyền thoại còn muốn nhắc nhở ta cần tra vấn ý nghĩa bí ẩn của cuộc đời. Là đứa con của mảnh đất Địa Trung Hải, dĩ nhiên là Albert Camus không thể không chú ý tới số phận của Sisyphe. Và cuốn tiểu luận “Le mythe de Sisyphe” ông viết ra không ngoài chủ đích đi tìm giải đáp cho một trong những tra vấn này.

Qua ngòi bút Camus, tôi tưởng như tìm thấy ở Sisyphe hình ảnh một con người tha thiết với cuộc sống thế gian. Nhưng hạnh phúc cõi trần lại nằm trong tay các thần linh chuyên quyền dộc doán với những sở thích tai ngược của họ. Bởi thế Sisyphe mới sinh nổi loạn. Sự nổi loạn này được coi như biểu tượng cho thái độ phản kháng trước những quyết định phi lý và Sisyphe, nạn nhân của các thần linh, cũng chính là nạn nhân của tính phi lý ở đời. Ý nghĩa biểu tượng của huyền thoại là thế đó: bi kịch của Sisyphe cũng có thể là bi kịch của mỗi chúng ta ở đòi. Có khác chăng là thần linh thời đại chúng ta thiên hình vạn trạng không dễ gì nhận diện ngay được. Họ có thể là những chủ nghĩa, học thuyết, ý thức hệ mang khuôn mặt của những từ có tiếp vĩ ngữ ismenhư impérialisme, capitalisme, nazisme, communisme, stalinisme, maoisme, polpotisme… Cũng như Pluton trong truyền thuyết Hi lạp lấy cảnh Thần chết ra tay sát hại sinh linh làm thú tiêu khiển, mấy ông thần linh hiện đại thuộc dòng dõi họ nhà isme đã không ngần ngại ném hàng triệu sinh linh vào lò thí nghiệm cho cái lý thuyết mà họ cho là hay ho và tưởng rằng, nếu đem ra thực hiện, chúng sẽ biến họ thành những bậc cứu thế. Nhưng các thần linh đương đại còn có thể là những khối quyền lực, những liên minh tài phiệt, những tổ hợp buôn vũ khí, những chúa trùm ma túy, những băng đảng mafia… Thuộc thành phần nhân loại xuát chúng nhưng cao ngạo, đầy dục vọng và vị kỷ như các thần linh trong thuần thoại Hi lạp, họ đeo đuổi mộng bá quyền nên chỉ thích tạo dựng lên những vương quốc hòng được nghênh ngang trị vì. Để thực hiện tham vọng, họ thường cấu kết với nhau và không từ bỏ bất cứ thủ đoạn nào, kể cả đảo lộn các bậc thang giá trị, thay đổi luật tạo hóa hay đúng hơn đặt ra những luật chơi mới cốt sao phù hợp với quyền lợi, tham vọng đeo đuổi… Và cho dù các thủ đoạn ấy có gieo rắc tai ương, gây ra chiến tranh, đem lại bịnh tật, đói khổ cho đồng loại họ cũng không cần biết; miễn sao thỏa mãn được ý đồ phô trương thanh thế hoặc dụng vọng sân si của họ. Nhưng khôn ngoan hơn các thần linh thuộc dòng dõi họ nhà isme, các thần linh thuộc loại sau này không chỉ có dựa trên bạo lực để mà đàn áp, thống tri. Trái lại họ khéo léo ngụy trang các mưu đồ vị kỷ bằng những mặt nạ nhân nghĩa mang chiêu bài đẹp đẽ như thực hiện công bằng xã hội, bảo vệ nhân quyền, tái lập tự do dân chủ, cứu trợ nhân đạo, mưu cầu hạnh phúc thế gian… để khuyến dụ, mê hoặc hay ru ngủ quần chúng thành những thần dân tự nguyện hay làm con rối trong bàn tay phù thủy của họ. Bởi vật ta thường thấy các thần linh này xuất hiện với khuôn mặt đạo mạo khả kính. Và, cũng như Jupiter, chỉ khi nào ý đồ đen tói, hành vi ám muội bị tật tẩy, họ mới để lộ rõ bộ mặt thật gian ác của mình.

Nhưng cuốn tiểu luận của Camus không chỉ đem ánh sáng soi tỏ nhằm giúp ta ý thức hơn về những vấn đề của thời đại chúng ta. Chủ đích của ông là đi tìm giải đáp cho vấn đề mà ông cho là cơ bản nhất: đó là xác định thái độ sống thích đáng trước ý thức về phi lý cuộc đời. Và ông đã dành trọn chương chót mang tiểu đề “Le mythe de Sisyphe” như tựa cuốn sách, để xác định một thái độ cho Sisyphe trước ý đồ trừng phạt của các thần linh. Theo ông, chính thái độ này mới là chìa khóa cho vấn đề nêu lên. Camus cho rằng trước quền uy của các thần linh, Sisyphe không thể làm khác hơn là đành thọ phạt. Nhưng không vì thế mà Sisyphe chịu khuất phục. Đành rằng Sisyphe không thể phá bỏ sợi xích cột chặt mình với tảng đá, cũng như không thể khước từ công việc đảy khối đá mỗi ngày. Nhưng có coi việc làm nặng nhọc như một nhục hình khổ sai hay không điều này lại tùy thuộc vào thái độ lựa chọn của Sisyphe. Tảng đá kia có thể là khối nặng ngàn cân các thần linh muốn dùng để đè bẹp Sisyphe đấy. Nhưng Sisyphe cũng có thể bằng nghị lực, bằng ý chí biến tảng đá kia thành thước đo khả năng đương đầu với thử thách của mình. Tảng đá càng nặng, ý chí phấn đấu càng cao và chiến thắng của Sisyphe càng hiển hách thêm bấy nhiêu. Bởi thế mỗi lần tận lực vần được tảng đá lên tới đỉnh là một lần là một lần Sisyphe có thể tự hào đã chiến thắng bản thân, khắc phục được nỗi tuyệt vọng để đánh bại các thần linh trong ý đồ trả thù của họ. Và như vậy, thay vì là một nhục hình khổ sai, từ nay Sisyphe có thể tìm thấy ở công việc đảy đá một lẽ sống, một nguồn hi vọng, lấy đỉnh cao ngọn núi làm mục tiêu chiến thắng để động viên tinh thần. “Ta phải tưởng tượng Sísyphe có hạnh phúc” (Il faut imaginer Sisyphe heureux), đó là lời kết cho cuốn tiểu luận và cũng là thông điệp nhà văn Albert Camus muốn gửi đến chúng ta. Tôi có thể rút tỉa gì được ở bài học này?

Xét cho cùng việc làm cuốc đất hàng ngày tôi thấy nó cũng vô vọng vô ích không khác chi việc làm của tên nô lệ khổ sai Sisyphe cả. Nhưng liệu tôi có đủ nghi lực can cường để dám phấn đấu nổi loạn như Sisyphe và tìm ra hạnh phúc trong lao tác cuốc đất hàng ngày hay không? Cha mẹ ôi! Câu hỏi khi không hiện ra khơi khơi, vậy mà căng lắm không phải chuyện chơi đâu. Tôi phải ráng trả lời cho khách quan và chính xác mới được. Biết đâu trong thân phận một tên tù cải tạo tối ngày chỉ mơ tưởng tới bữa chia cơm bốc thăm trúng được phần thịt dính thêm cục xương, tôi lại chẳng là nhân vật đang được đi vào huyền thoại mà không hay. Nhưng hãy tự hỏi tôi có được cốt cách của một Sisyphe hay không trước đã?

Áp dụng phương pháp đánh giá bản thân mới tiếp thâu qua học tập, trước tiên tôi thấy có điểm mạnh cho phép tin tưởng rằng, nếu không phải là con cháu đích tôn, thì ít ra tôi cũng có giây mơ rễ má với dòng họ nhà ông Sisyphe: đó là sự đam mê hạnh phúc trần thế. Tôi yêu đời lắm các bạn ơi! Cũng như Sisyphe, tôi chỉ mong tồn tại mãi trên thế gian này để được hưởng đầy đủ các mục du hí đớp hít ở đời. Tôi vẫn nhớ cái lần đầu tiên tôi nhận được lệnh trình diện nhập ngũ. Hồi đó mặt tôi đang mọc mụn, giọng nói chưa hết ồm ồm, còn chân tay thì hễ gặp đàn bà con gái lại ngứa ngáy quíu quáo cả lên chỉ chực vồ bắt cào cào mà không biết đặt vào đâu cả: Nghĩa là hồi đó tôi mới ở cái tuổi đang thòm thèm muốn biết sự đờilà cái chi chi, chứ tôi đâu đã được biết đời, c’est cái la vie nó như thế nào. Bởi thế tôi ham sống sợ chết lắm, chỉ tính chuyện kiếm cách để được gài số de thôi. Sẵn có vóc dáng thư sinh nho nhã, tôi cố nhịn ăn lại còn mỗi ngày tập đốt hơn bao thuốc với hi vọng biến nó thành tấm thân cò vạc và một buồng phổi lủng để được xếp vào loại bị lính chê (chứ không phải là chê lính), tha hồ mà ở nhà vi vút. Nhưng rút cục sau hai lần được hoãn dịch, tới lần tái khám thứ ba, mắc dù chỉ nặng có ba mươi lăm kí mốt và một bên phổi có lỗ chỗ chấm đen, tôi vẫn được ban giám định ưu ái tuyên bố trúng tuyển cuộc thi chọn người hùng kiểu mẫu đứng ra bảo vệ thế giới tự do.

Khỏi phải nói, các bạn cũng đoán ra là khi được gọi tên lãnh ấn tiên phong, cái bu di của tôi nó bị teo đi mất chừng nào. Ta thường nghe nói: “Con nhà tông chẳng giống lông cũng giống cánh”. Lúc đó, tự xét mình tôi mới thấy chỉ đáng thừa hưởng của nhà ông Sisyphe có cái lông thôi; chứ tôi đâu có đủ uy dũng để mà vỗ cánh vẫy vùng như ổng ấy được. Bởi vì đam mê cuộc sống thì có, còn như cả gan cưỡng lại mệnh lệnh thần linh thì không. Cũng vì thế nên khi mấy ông đại diện cho thần linh quốc gia bảo tôi phải cầm súng ra tuyến đầu để bảo vệ quê hương dân tộc, chính nghĩa quốc gia, bụng dạ tuy không mấy tin tưởng rằng hết thảy mấy ổng đều một lòng vì dân vì nước, nhưng tôi đâu dám chống lại. Tôi chỉ thi hành lệnh miễn cưỡng thôi. Hễ có tiếng hô xung phong, bao giờ tôi cũng lon ton xách súng chạy sau anh em dăm ba thước và chỉ chực kiếm chỗ nào có mô cao là nhào xuống nằm thủ thế. Tôi ghìm súng hé mắt chờ, thấy ai sấn tới tôi mới xả súng tự vệ; bằng không tôi cứ nín thinh để khỏi lộ mục tiêu. Khoan khoan, xin ai chớ có vội cười. Tôi biết rằng hành động như vậy là hèn nhát, là sống trên xương máu đồng đội, là không dám làm Lê Lai liều mình cứu chúa. Nhưng các bạn cũng nên thông cảm dùm. Tôi mới tròm trèm hai mươi tuổi. Tâm hồn tôi hãy còn ngây thơ trong trắng, tấm thân tôi vẫn chưa được lấm bụi trần. Dại gì mà xung phong hăng tiết vịt. Chẳng may trúng phải hòn tên mũi đạn, ngỏm mất củ tỏi, có phải là uổng phí một đời trai tơ không? Mà chết như thế liệu được ăn cái giải rút gì? Để được gắn thêm một cục [6] và truy tặng anh dũng bội tinh với nghành dương liễu? Chỉ được có vậy thôi à? Thế còn mấy người em gái ở hậu phương Sài Gòn, em nào em nấy đều thơm phưng phức cứ như là múi mít cả í, chết đi để các em lại cho ai hưởng? Để cho mấy tay hoạt đầu chính trị chuyên cấu kết với gian thương lũng đoạn thị trường, để cho đám tướng tá bất tài tối ngày chỉ lo tính chuyện áp phe, để cho con cháu họ được quyền trốn lính nhởn nhơ ăn chơi ấy à? Bảo tôi di thí tấm mạng cùi để bảo vệ cho mấy người ấy được sống phây phây tha hồ mà đớp hít thụ hưởng? Còn lâu í, tôi đâu có ngu gì. Ít ra tôi cũng đậu nổi tú tài một mới được cho đi học trường sĩ quan Thủ Đức chứ bộ. Bởi vậy, mặc dù bất mãn tôi cũng chỉ lo thủ cẳng thôi. Tôi chỉ biết lo thủ cẳng vì tôi sợ uy các ông thần linh quốc gia lắm. Tôi sợ uy các ông thần linh quốc gia đến độ mà khi họ đã leo lên máy bay trực thăng, noi gương ông đại sứ nước cờ huê giàu mạnh tới phút chót chỉ kịp ôm vội lá cờ biểu tượng để bảo toàn danh dự cho chính nghĩa tự do còn lại đành bỏ của chạy lấy người, tôi vẫn mắm môi mắm lợi ôm súng tử thủ. Tôi vừa ôm súng vừa run muốn vãi đái ra quần nhưng vẫn cố tử thủ vì chót được nghe một ông tướng huênh hoang tuyên bố quyết tâm sẽ biến Sài Gòn thành một Stalingrad thứ hai, thề sống chết một lòng một dạ với quốc gia dân tộc. Để rồi phút chót ổng vụt đổi ý, nhảy phóc lên chiếc trực thăng áp dụng bài bản “tẩu vi thượng sách”. Rút cục chỉ có đám lau nhau chúng tôi dại khờ ở lại, nhưng không có được cái hào khí của các vị tướng lãnh như Nguyễn Khoa Nam, Lê Văn Hưng, Phạm Văn Phú, Trần Văn Hai, Lê Nguyên Vỹ … cũng như không biết bao nhiêu chiến sĩ vô danh khác đã chọn cái chết vinh quang để bảo toàn danh dự và trung thành với lý tưởng. Không có được khí tiết như họ, tôi đành ôm phận tép riu để chịu lãnh nguyên cái cán búa.

Giờ tới lượt ông thần linh cách mạng lại trăm dâu đổ đầu tầm. Chúng tôi bị kết đủ thứ tội: nào là làm lính đánh thuê, nào là theo chân đế quốc bán nước, nào là cầm súng chống lại nhân dân, nào là các anh đã giết bao nhiêu chiến sĩ cách mạng để được mang quân hàm sĩ quan… Càng nghĩ càng đau, càng ngẫm càng thấy chỉ có dân thấp cổ bé miệng là luôn luôn chịu thiệt thòi. Hồi đó tôi có khoác bộ quân phục chẳng qua cũng vì cái lệnh gọi nhập ngũ cứ nhất định được nhét vào tay. Có vậy thôi. Tôi có ôm mộng công hầu khanh tướng gì đâu mà bảo là thích hăng say giết giặc. Thực ra tôi chỉ giỏi đánh võ mồm thôi. Nếu được trổ tài đáu hót với ăn tục nói phét tôi đâu có chịu thua kém ai. Còn hơn nữa là đằng khác. Nghề của chàng mà. Chứ bảo tôi lao đầu vào nơi dầu sôi lửa bỏng í à. Xin lỗi nhờ anh tí, không có em đi hàng đầu. Của đáng tội, hồi đó thỉnh thoảng tôi cũng khoái lên bộ rằn ri làm ra vẻ ta đây cũng thuộc loại lính ngầu như ai; nhưng thực ra chỉ cốt để lấy le mỗi lần xuống thăm các em dưới xóm thôi. Tôi có định gây gổ ức hiếp ai đâu. Tôi con nhà lành mà. Tôi hiền như ma sơ í. Và tôi cũng hãy còn ngây thơ lắm. Không ngây thơ sao được mà khi có lệnh tập trung trình diện mang theo mười ngày cơm, tôi lại dặn vợ phải sắp đủ mười lăm ngày, nghĩa là cộng thêm năm ngày trừ hao để được chắc ăn như bắp. Đã thế bữa ra đi tôi còn phấn khởi hồ hởi ngoái cổ lại dặn vợ nhớ kiếm mua con gà thật béo nuôi để dành, chờ mai mốt học tập thành tài được thả về sẽ đem ra làm thịt, trước là để tạ ơn cúng tổ, sau cho cả nhà ăn mừng tôi đã học tập thành tài nên người. Vậy là tôi ngon. Tôi chịu chơi. Tôi đi tiền rất đẹp. Thế mà ông thần linh cách mạng lại đi nỡ tháu cáy tôi. Thế mà ông thần linh cách mạng lại nỡ đem ngâm tôm tôi hết năm này qua năm khác thử hỏi làm sao tôi không oai oái than trời như bọng cho được? Tôi bị thua đau quá các bạn ơi! Đời tôi ba chìm bảy nổi cũng nhiều. Tôi đã từng bị đời và mấy em đá lên đá xuống không biết bao lần; tấm thân có lúc tơi tả bèo nhèo còn hơn cả tấm mền rách nữa. Nhưng chưa bao giờ tôi lại thua đau thê thảm bằng cái vố này. Các bạn thử nghĩ coi. Vợ con với đời sống gia đình này. Sinh hoạt Sài Gòn nay trở lại bình thường vì đất nước đã sạch bóng quân thù, giang sơn đã thu về một mối này. Niềm tin vào chính sách khoan hồng nhân đạo trước sau như một của Cách mạng này. Hi vọng sẽ được góp phần vào việc làm cho đất nước tươi sáng hơn này. Ngần ấy thứ tôi nhất nhất gom góp đem đặt hết lên chiếu bạc. Vậy mà nay tôi còn lại có thân xác tả tơi, bao tử lúc nào cũng trống rỗng, chỉ biết lấy khói thuốc cầm hơi ngậm ngùi ca bản “chiều mưa mút chỉ anh đi về đâu?”, thử hỏi tôi không cay cú sao được? Tôi coi như đã cạn láng rồi. Đôi lúc tôi cố lấy giọng định cất lời ca “Đừng tuyệt vọng, tôi ơi đừng tuyệt vọng!”, nhưng chỉ có toàn hơi thở phều phào không còn nghe ra tiếng nữa.

Hình ảnh Sisyphe toàn thân ướt đẫm mồ hôi, khuôn mặt dán chặt vào phiến đá tưởng như đã hóa đá, chân tay gân guốc cuồn cuộn ra sức vần cho được tảng đá lên tới đỉnh núi lại hiện ra trong tâm trí. Tôi cũng nghe như vọng lên lời kết trong cuốn tiểu luận của Camus: “Ta phải tưởng tượng Sisyphe có hạnh phúc”. Nhưng tôi đâu có phải là một Sisyphe. Tôi thấy mình thuộc loại dân quèn như ai và cũng chỉ mong được an phận với những hạnh phúc nhỏ nhoi hàng ngày. Phải chi tôi có được cái bản lãnh với khí phách hiên ngang của một Sisyphe nổi loạn. Như vậy ít ra tôi cũng hiểu được lý do của sự trừng phạt để tìm ra nguồn an ủi. Và ít ra, cũng như Sisyphe, tôi có thể lấy quyết tâm đánh bại ý đồ trả thù của các thần linh làm nguồn vui lẽ sống. Đằng này… Còn nhớ khi ông thần linh quốc gia bảo tôi nhập ngũ, tôi cũng cắn răng cầm súng nói là để bảo vệ quê hương. Rồi đến lượt ông thàn linh cách mạng quyết định gửi tôi đi học tập để rèn luyện cho thành người, tôi cũng hăng hái ghi tên theo học. Như vậy là tôi biết điều, tôi ăn ở phải đạo. Kế thừa truyền thống giáo dục của ông bà, tôi cũng tâm niệm rằng thế giới này trật tự đã an bài: mọi sự trên đời đều do một Đấng tối cao quyết định và trao quyền sinh sát thưởng phạt cho các đại diện là những vị thần linh. “Con ơi, tôi vẫn nhớ lời bà tôi khuyên nhủ, người ta ở đòi ai cũng có số cả. Con ráng ăn ngay ở hiền, Trời Phật thương, rồi con sẽ được mọi chuyện tai qua nạn khỏi.” Tôi ngoan ngoãn, tôi biết nghe lời và tôi tin tưởng sẽ được sống yên ổn. Bởi vậy tất cả những điều được nghe giảng dạy, từ tôn giáo đến chủ nghĩa, lý thuyết, ý thức hệ… tôi đều cho là hay là đẹp. Thậm chí những lời thề thốt yêu thương trọn đời của mấy vị thần linh ái tình tôi được gặp tôi cũng tin tuốt luốt. Tôi cứ nghĩ lời phán của thần linh bao giờ chẳng là công bằng, chẳng là lẽ phải. Dại gì ta không phó mặc sự đời cho thần linh lo liệu giải quyết, lấy thần linh làm nơi nương tựa gối đầu. Như vậy ta sẽ được sống an tâm, khỏi phải ưu tư thắc mắc với những câu hỏi ấm ớ hội tề thuộc loại sao ta lại có mặt trên cõi đời này, cứu cánh hành động của ta là gì, cuộc sống này có ý nghĩa gì chăng?

Ai ngờ vận nước nổi trôi, vật đổi sao dời, các biến cố thời sự dồn dập đã làm sụp đổ mọi niềm tin ảo tưởng nơi tôi. Các bức màn ngụy trang đều bị xé toạc, tôi nay đã thấy mọi tín điều, tất cả những lý thuyết chủ nghĩa, ý thức hệ, thậm chí cả tình yêu đều không giải quyết được cho tôi vấn đề ý nghĩa của sự sinh tồn. Thực ra cho tới nay tôi chưa dám sống với mình cho trung thực. Cho tới nay tôi chỉ biết tồn tại bằng cách tìm thỏa hiệp với cuộc sống hàng ngày. Cho tới nay tôi chỉ sống theo kiểu tầm gửi bằng cách bám vào các lý thuyết, chủ nghĩa, ý thức hệ như là những giải pháp sẵn có ở đời để tìm ra một lẽ sống, một cứu cánh cho hành động. Thực ra cho tới nay tôi chỉ tìm cách tự ru ngủ, tự phỉnh phờ trong sự ngụy tín (la mauvaise foi) để khỏi phải trực diện đương đầu với vấn đề thân phận con người. Nhưng vấn đề đó nay đã hiện lên với tất cả những sần sượng của thực tế phũ phàng. Tới nay tôi đã ý thức được rằng mọi hành động đều là vô ích và cuộc sống, thực ra, không có ý nghĩa gì hết. Trong thân phận của một cải tạo viên giờ này tôi chỉ thấy dựng lên, sừng sững, một bức tường phi lý dày đặc. Tôi phải có thái độ sống ra sao đây? Tôi có thể chấp nhận cuộc tiếp tục cuộc sống vô nghĩa với động tác cuốc đất liên tu bất tận? Làm sao tôi có thể khoát khỏi nỗi tuyệt vọng trước công việc vô bổ nhàm chán ấy? Phải chi tôi dám có hành động hiên ngang khí phách như Sisyphe. Đằng này… Càng nghĩ tôi càng thấy bế tắc và ý tưởng tự tử lại hiện lên. Nhưng lần này nó không chỉ hiện ra để rồi biến mất. Trái lại nó cứ lởn vởn quanh quất trong đầu, mỗi lúc thêm có xương có thịt để trở thành giải pháp ngày càng tăng sức quyến rũ. Ta có nên quyết định tự tử hay không? Câu hỏi hiện lên đột ngột phũ phàng làm tôi hoang mang bối rối. Và tôi chợt hiểu tại sao Camus đã dành nguyên chương đầu cuốn tiểu luận để bàn về vấn đề tự tử[7], coi đó là câu hỏi triết học nghiêm túc hàng đầu. Đúng vào lúc này tôi bỗng thấy hiện lên mồn một những dòng, những đoạn của một số chương mà trước đây tôi đọc không mấy quan tâm, chỉ đọc lướt qua, nhiều khi đọc cốt để được khoe là đã có đọc. Và giờ đây tôi mới thấy được tầm quan trọng và ý nghĩa sâu sắc của những dòng, những đoạn chữ ấy.

Trước đây mỗi lần cầm đến cuốn tiểu luận tôi thường chú ý tới chương chót nhiều hơn, có lẽ vì nó được mang tiểu đề « Le mythe de Sisyphe » như tựa cuốn sách. Mặc dù chịu khó đọc đi đọc lại nhiều lần, nhưng có lẽ còn chưa tách thoát khỏi ảnh hưởng của những sự tích truyền khẩu, tôi vẫn quay về với hình ảnh thần thoại của một Sisyphe người hùng nổi loạn. Giờ đây hoàn cảnh sống đặc biệt nàyđã tạo điều kiện cho tôi nhớ lại, biết đọc ra và tưởng chừng đã hiểu được đúng hơn tư tưởng của nhà văn danh tiếng Pháp. Giờ đây tôi cũng đã biết thay đổi cách nhìn vấn đề.

Dưới ngòi bút Camus, Sisyphe quả có là con người nổi loạn. Nhưng Sisyphe không nổi loạn cốt để tạo thành tích nổi loạn. Sisyphe không nhờ nổi loạn mới được sống mãi trong trí tưởng tượng dân gian như là người hùng nổi loạn. Thực ra dù có nổi loạn hay không nổi loạn, Sisyphe cũng dã là nạn nhân của các thần linh rồi. Sisyphe phải nổi loạn vì muốn dành lại quyền làm chủ cuộc sống của mình.

Trong câu chuyện thần thoại Hi Lạp, ta có thể hình dung các thần linh như những chúa tể chuyên quyền độc đoán lấy việc lũng đoạn cuộc sống thế gian làm thú tiêu khiển. Họ đặt ra những luật chơi tai ngược để buộc mọi người thi hành. Có tên Sisyphe chẳng may nhìn ra tính phi lý của các luật chơi đó. Thế là hắn phải biết đến mối bất hạnh lớn nhất ở đời. Cho tới giờ hắn quen sống an phận, đôi khi còn mãn nguyện với một vài ân sủng mà các thần linh trong những phút cao hứng sẵn sàng ban phát cho hắn. Từ khi phát hiện ra thân phận con rối của mình hắn đâm bất mãn và tính đến chuyện thoát ly để dành quyền sống. Nhưng hắn còn e ngại vì biết rằng các thần linh bạo chúa bản chất bất khoan dung sẽ thẳng tay trừng trị những ai có ý đồ chống đối. Hắn đã tính chọn giải pháp làm ngơ, giả vờ chấp nhận luật chơi để được an thân. Nhưng mưu cầu sự bình an bằng một thái độ sống giả dối như vậy liệu có khác gì khước từ quyền làm người, đó là điều hắn cho là không thể chấp nhận được. Dẫu có phải mang số kiếp nô lệ hắn vẫn là con người và còn có phẩm giá của một con người. Các thần linh có thể đày đọa hắn trong thân phận của một tên nô lệ nhưng không có quyền biến hắn thành món đồ chơi cho họ được. Thế là hắn quyết định phải đứng lên đòi quyền sống để bảo vệ phẩm giá con người của hắn.

Huyền thoại Hi Lạp, qua các sự tích, dù có diễn giải hành vi phạm pháp ra sao, ta cũng nên hiểu hành vi đó như là biểu hiện cho ý chí phản kháng của Sisyphe ; và bản án chẳng qua chỉ là một toan tính thâm độc của các thần linh nhằm bắt hắn phải trả giá cho mưu cầu tự do này. Với bản án, các thần linh quyết không còn nương tay cho hắn được hưởng cuộc sống dễ thở như trước. Họ sẽ ném trả hắn về đúng vị trí nô lệ được dành cho hắn. Từ nay Sisyphe sẽ phải làm công việc đảy đá mỗi ngày để có dịp suy ngẫm về hậu quả nổi loạn của mình. Sisyphe muốn có tự do ư ? Từ nay hắn sẽ được quyền tự do để tha hồ mà xoay sở với nhục hình đảy đá. Sisyphe muốn dành lại quyền làm chủ cuộc sống ư ? Từ nay hắn sẽ được quyền hoàn toàn quyết định về cái thân xác nô lệ của mình. Hắn có thể chọn lựa sống mòn mỏi trong tuyệt vọng với công việc đảy đá hàng ngày. Nhưng hắn cũng có thể chọn con đường giải thoát bằng tự sát để khỏi phải kéo lê một kiếp sống đọa đày. Khi đặt Sisyphe trước trạng huống vấn nạn (dilemme) này, các thần linh chắc mẩm sẽ làm cho Sisyphe phải thấm thía được cái giá hắn phải trả do ý thức nổi loạn của y. Thế là từ nay, sáng sáng mỗi lần đứng trước tảng đá định mệnh, Sisyphe không tránh khỏi băn khoăn với câu hỏi ta phải xử trí sao đây ? Câu hỏi vấn nạn này đã ám ảnh tâm trí Camus, thúc đảy ông muốn đi tìm một thái độ ứng xử thích đáng cho Sisyphe. Và kết quả là, qua nhân vật thần thoại Hi Lạp, ông tưởng chừng kiếm ra được chìa khóa cho vấn đề vốn là đầu mối ưu tư của ông : vấn đề tự tử.

Trở về với câu hỏi tiền đề cho cuốn tiểu luận : Nếu cuộc đời là phi lý ta có nên tiếp tục mãi cuộc sống vô nghĩa hay không ? Thoạt xét, câu trả lời tưởng chừng thuận lý phải là không. Nhưng nếu tỉnh táo xét lại, ta sẽ thấy giải pháp này không triệt để. Thực ra tự tử không giải quyết cho ta vấn đề phi lý. Ta tự tử để phủ nhận phi lý ; nhưng không vì hành động này mà ta thủ tiêu được phi lý. Xét cho cùng, tự tử không hề là một giải pháp mà chỉ là một lối thoát cho những ai không chịu đựng nổi sự phi lý tức « cảnh sống trong mâu thuẫn giữa một thế giới u minh dày đặc và khát vọng của tâm linh muốn thấy mọi sự ở đời đều được soi tỏ » (« ce qui est absurde, c’est la confrontation de cet irrationnel et de ce désir éperdu de clarté qui résonne au plus profond de l’homme » A. Camus – Le Mythe de Sisyphe- Folio, édit. Gallimard 1942, p.39) [8]*. Vì ta mang ảo tưởng về cuộc sống thế gian, cái ngày phi lý bỗng dưng nhảy bổ vào đời tư của ta : ta chới với, ta tuyệt vọng. Trong cơn hoảng hốt, ta vội cầu cứu Thần chết. Nhưng ta có đấy hay không có đấy, phi lý vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt. Bởi vậy nếu biết chờ cho cơn sóng gió qua đi, ta mới thấy tự tử chỉ là một hành động tự hủy vô ích. Nhưng « liệu ta có sống nổi với một bản án chung thẩm hay không ? »(…il veut savoir s’il est possible de vivre sans appel – Sdd, p. 78) [8]* Bản án chung thẩm là phải sống mãi trong tuyệt vọng, sống không trông mong hứa hẹn được gì ở ngày mai. Đây chính là câu hỏi Camus cho rằng mới thực sự đáng quan tâm. Và ông cho rằng « tới đây vấn đề đã được đảo ngược. Nếu trước đây ta băn khoăn tự hỏi phải chăng cuộc đời cần có ý nghĩa mới nên sống thì nay, trái lại, cuộc đời càng đáng sống hơn chính vì nó vô nghĩa » (A ce point, le problème est inversé. Il s’agissait précédemment de savoir si la vie devait avoir un sens pour être vécue. Il apparaît ici au contraire qu’elle sera d’autant mieux vécue qu’elle n’aura pas de sens – Sdd, p.78) (8*) Cũng bởi cuộc đời là vô nghĩa nên ta mới cần phải sống. Sống để không đầu hàng định mệnh, sống để thể nghiệm phi lý, sống để đảm đương thân phận con người. « Đảm đương » (assumer), đây là cái ý then chốt ta cần làm sáng tỏ vì, theo Camus, điều quan trọng không phải là ta chối bỏ cái chết để chọn cái sống, mà là ta phải sống như thế nào. Ta có thể sống theo kiểu cam phận, nghĩa là chấp nhận thân phận phi lý như một số kiếp, một định mệnh do sắp đặt của một quyền lực bất khả kháng. Đổ lỗi cho số phận giúp ta tìm ra giải đáp cho vấn đề phi lý. Đồng thời nó cũng trút bỏ cho ta gánh nặng trách nhiệm với bản thân : Ta có thể vin vào số phận làm nguồn an ủi để có lý do tồn tại.

Ngược lại, ta cũng có thể khước từ sống cam phận để tỏ ra không đầu hàng với số phận. Nhưng thay vì đương đầu với phi lý ta lại tìm cách né tránh vấn đề. Ta coi cuộc sống thế gian này chỉ là giai đoạn chuyển tiếp, một giai đoạn thử thách để chuẩn bị cho ta một cuộc sống mai hậu hoàn mỹ hơn : đó là đời sống vĩnh hằng thực sự. Và ta đi tìm lẽ sống trong một niềm tin ảo tưởng mang hình thức tình cảm, tín ngưỡng, chủ nghĩa, ý thức hệ v.v… Nhưng đi tìm lẽ sống bằng một niềm tin ảo tưởng không hề giải quyết cho ta vấn đề phi lý. Thực ra đó chỉ là một cách quay lưng lại vấn đề hoặc đánh tráo vấn đề. Chúng ta tự tìm cách tự ru ngủ, tự đánh lừa bằng một niềm tin ảo tưởng để khỏi phải trực diện đối đầu với vấn đề thân phận con người. Đó là một thái độ sống giả dối, sống bằng ngụy tín (la mauvaise foi) mà A. Malraux, J.P Sartre, J. Anouil, Georges Bernanos …, các nhà văn cùng thế hệ với Camus đều lên tiếng tố cáo [9]. Riêng Camus, ông không ngần ngại thái độ sống này là một sự tự sát triết học (le suicide philosophique) vì, thực tế, chúng ta đã tự thủ tiêu về mặt tinh thần để được tồn tại chỉ bằng thân xác.(Je prends ici la liberté d’appeler ici suicide philosophique l’attitude existentielle : Tôi tự cho phép gọi thái độ tồn sinh đó là sự tự sát triết học – Sdd. tr.63 ). [8]* Rút lại, Camus cho rằng chỉ có đảm đương thân phận con người phi lý mới thực sự là con đường cứu rỗi.

Đảm đương thân phận đòi hỏi ta một thái độ sáng suốt thành thực. Sáng suốt để biết nhìn ra sự thật và thành thực dể dám sống với sự thật. Nếu phi lý thuộc về cốt lõi con người và cuộc sống tự nó đã là phi lý thì chúng ta không trông mong tìm ra lẽ sống ngoài phi lý, nghĩa là chúng ta phải dám sống với phi lý, sống bằng phi lý. Mà muốn sống với phi lý, sống bằng phi lý chúng ta không có cách nào khác hơn là trực diện đối đầu phi lý, bởi vì « phi lý chỉ có nghĩa chừng nào ta không tìm cách thỏa hiệp với nó. » (l’absurde n’a de sens que dans la mesure où l’on n’y consent pas – Sdd, tr. 52). (8)* Vậy « sống là nuôi dưỡng phi lý, và muốn nuôi dưỡng phi lý ta phải dám chiếu tướng nó. » (Vivre, c’est faire vivre absurde. Et le faire vivre, c’est avant tout le regarder – Sđd, tr.78) [8]* Đó là phương châm sống của Camus : « Có chiếu tướng phi lý, ta mới ý thức được rằng không hề có đời sống cho mai hậu. Và đó chính là lý do để ta quyết định rằng tự do tùy thuộc nơi ta. » (L’absurde m’éclaire sur ce point : il n’y a pas de lendemain. Voici désormais ma liberté profonde. Sđd, tr.84) [8]* Nhờ dám chiếu tướng phi lý, ta mới thấy dấy lên nỗi bất bình biến thành sức mạnh nổi loạn thúc giục ta phải đương đầu với phi lý. Càng thêm ý thức được phi lý, ta càng được nuôi dưỡng trong quyết tâm chọn lựa nổi loạn, biến nó thành đam mê đem lại ý nghĩa cho đời sống ; và ta quyết định từ bỏ con đường tự tử. Đó chính là bài học nghịch lý Camus rút ra được từ phi lý. » (Je tire ainsi de l’absurde trois conséquences qui sont ma révolte, ma liberté et ma passion. Par le seul jeu de la conscience, je transforme en règle de vie ce qui était invitation à la mort – et je refuse le suicide. Sdd, tr.90) [8]*

Tóm lại, nếu phi lý là vấn đề cơ bản đặt ra cho mỗi cuộc sống thì chỉ có đảm đương thân phận mới là thái độ sống đích thực. Đảm đương để không tìm cách chối bỏ phi lý bằng tự tử. Đảm đương để khỏi đầu hàng khuất phục bằng một thái độ sống cam chịu. Đảm đương để khước từ cuộc sống tha hóa bằng cách đi tìm lẽ sống trong một niềm tin ảo tưởng. Đảm đương để chấp nhận dấn thân vào một cuộc trường chinh. Dưới con mắt Camus, con người phi lý thực ra cũng chỉ là chinh nhân (un conquérant). Nhưng không phải là chinh nhân theo nghĩa thường tình : Hắn không lao đầu vào các cuộc phiêu lưu mạo hiểm do thúc đẩy của bản tính hiếu động. Hắn cũng không là kẻ hiếu chiến thích gây chuyện binh đao nhằm tạo dựng một sự nghiệp lẫy lừng. Cũng là chinh nhân, nhưng chỉ có con người phi lý mới là kẻ biết đi chinh phục sự sống đích thực. Chỉ có hắn mới biết dấn thân vào một cuộc hành trình gian khổ để đi tìm cái hữu lý trong sự phi lý nhằm đem lại ý nghĩa cho đời mình. Trong cuộc tìm kiếm này hắn chỉ dựa trên có một vũ khí sắc bén độc nhất : sự sáng suốt. Là kẻ đi chinh phục sự sống, chỉ có hắn mới biết lấy ánh sáng của ý thức soi rọi vào cái thế giới tối tăm dày đặc mưu toan phủ nhận hắn. Và trước những thế lực thù nghịch chỉ rình rập đè bẹp hắn, hắn càng thấy cần thấy biểu dương con người mình bằng một quyết tâm nổi loạn để khẳng định ý chí tự do. Và chính nhờ vào ý chí phấn đấu không mệt mỏi này mà hắn tìm ra được sự đam mê đem lại ý nghĩa cho đời sống. Nếu hắn có chọn đảm đương thân phận là để được sống cho mình ; bởi vì hắn biết rằng chỉ có hắn mới là cứu cách cho chính hắn, và đời người chỉ có một ; nếu hắn muốn được là một cái gì đó thì chỉ có trong cuộc đời này mà thôi. (J’installe ma lucidité au milieu de ce qui la nie. J’exalte l’homme au milieu de ce qui l’écrase et ma liberté, ma révolte et ma passion se rejoignent alors dans cette tension, cette clairvoyance et cette répétition démesurée. Oui, l’homme est sa propre fin. S’il veut être quelque chose, c’est dans cette vie. Sdd, tr. 121) [8]* Đó chính là động lực nuôi dưỡng ý chí phấn đấu cho Sisyphe, và đó cũng là lẽ sống hắn mới tìm ra nhờ vào ý thức nổi loạn.

« Ta phải tưởng tượng Sisyphe được hạnh phúc », lời kết cho cuốn tiểu luận lại dội lên trong óc tôi. Nhưng giờ đây nó mang một âm thanh mới chuyên chở một nội dung mới bởi vì tôi đã biết kết hợp nó với con người thực Sisyphe tôi vừa phát hiện qua tác phẩm của Camus. Đó là hình ảnh Sisyphe lúc từ đỉnh núi nhìn tảng đá lăn xuống chân núi và, đăm chiêu, bắt đầu bước về phía hang động nơi tảng đá vẫn chực sẵn : « Chính vào lúc hắn đi xuống, vào cái khoảnh khắc hắn được quyền xả hơi này, Sisyphe mới làm tôi chú ý… Tôi thấy con người ấy đi xuống với những bước chân nặng nề nhưng đều đặn hướng về nỗi nhọc nhằn mà hắn biết là vô tận. Cái giờ phút vẫn tái diễn như một nhịp thở và cũng chắc chắn như sự bất hạnh của hắn, chính là giờ phút của ý thức. Vào lúc hắn rời đỉnh núi, cứ mỗi khoảnh khắc lại đưa hắn tới gần hang động của các thần linh, hắn thấy mình cao cả hơn cả định mệnh. Hắn mạnh hơn cả tảng đá được dành cho hắn (8)*… Tất cả niềm vui thầm lặng (in đậm do tôi) của Sisyphe là ở đó. Định mệnh là do nơi hắn quyết định. Tảng đá kia cũng trở thành vật sở hữu của hắn.8* (C’est pendant ce retour, cette pause, que Sisyphe m’intéresse…Je vois cet homme redescendre d’un pas lourd mais égal vers le tourment dont il ne connaîtra pas la fin. Cette heure qui est comme une respiration et qui revient aussi sûrement que son malheur, cette heure est celle de la conscience. A chacun de ces intants, où il quitte les sommets et s’enfonce peu à peu vers les tannières des dieux, il est supérieur à son destin. Il est plus fort que son rocher.- Sdd, tr.165… Toute la joie silencieuse de Sisyphe est là. Son destin lui appartient. Son rocher est sa chose.- Sđd, tr.167)

« Tất cả niềm vui thầm lặng của Sisyphe là ở đó », câu viết ngắn gọn chỉ vỏn vẹn có vài chữ đơn giản thế thôi. Có lẽ vì vậy mãi tới giờ này tôi mới nhìn ra cái trọng lượng của hai chữ thầm lặng ấy. Tôi cứ nghĩ chúng chỉ giữ vai trò bổ túc khiêm tốn của một tính từ nhằm giúp cho câu văn thêm tròn trịa. Ai ngờ hai chữ thầm lặng đó lại là chìa khóa giải mã cho bức thông điệp Camus có ý gửi đến chúng ta. Nó là kho tàng sức sống bền bỉ nuôi dưỡng cho Sisyphe một tinh thần đấu tranh bất khuất. Nó cũng là tụ điểm cho ý chí quật khởi, cho nghị lực kiên cường, là nguồn tích lũy hi vọng phấn khởi giúp cho Sisyphe, mệt nhọc, vẫn giữ được những bước đi chững chạc tiến về phía tảng đá. Bởi vì những bước đi đều đặn ấy chính là kết quả của hoạt động ý thức, của suy tư cân nhắc, vào những giờ phút hắn được quyền xả hơi, khi xuống núi. Những bước chân đó chính là biểu tượng cho chiến thắng vẻ vang nhất mà Sisyphe có thể tự hào : chiến thắng được chính bản thân. Và đó mới là nguồn vui đích thực của Sisyphe, một nguồn vui thuộc về riêng hắn và chỉ có hắn biết cảm nhận. Không, niềm vui hạnh phúc của Sisyphe không hề phù phiếm như tôi tưởng. Không ! Chủ đích của Sisyphe khi cố vần cho được tảng đá lên tới đỉnh núi không cốt để, sau đó, được quyền khoanh tay ưỡn ngực kên kên xì po với các thần linh, hoặc nheo mắt hất hàm ngó lại thế gian ra vẻ ta đây cũng là một quân tử Tàu thuộc loại cà cuống chết đến đít hãy còn cay. Nếu Sisyphe đã có ý đi tìm hạnh phúc trong ảo ảnh hào quang của chiến thắng cao ngạo ấy thì chẳng mấy chốc hắn phải nhận ra tính hư ảo của cái hạnh phúc phù phiếm đó, khi hắn nhìn tháy tảng đá lại ào ào lăn xuống khe núi. Không, niềm hạnh phúc chỉ đến với Sisyphe khi hắn bắt đầu phải kéo những bước chân nặng nhọc để đi xuống núi.

Lúc bấy giờ trời đã xế chiều. Nắng hoàng hôn tô lên vạn vật một sắc vàng mềm mại óng ả. Chỉ có khoảng trước mặt là đen thẫm vì bóng Sisyphe đổ dài như muốn đè nặng lên cả một vùng thung lũng. Nhìn vũng tối bao la trước mặt, Sisyphe bỗng cảm thấy dâng lên một nỗi chán chường vô hạn. Trong một khoảnh khắc choáng váng, hắn bỗng ao ước cái vũng tối đó biến thành mõm đen ngòm của một quái vật khổng lồ đang há tác hoác sẵn sàng nuốt chửng hắn để giúp hắn được đi vào hư vô. Vào lúc nỗi chán chường mệt mỏi xâm chiếm khiến Sisyphe muốn để hai đầu gối khuỵu xuống cho toàn thân được bổ nhào xuống vực thẳm, một làn gió mát thoảng mùi thơm cỏ dại chợt thổi qua mơn trớn da thịt, đánh thức mọi giác quan nơi hắn. Sisyphe bừng tỉnh. Hắn đứng thẳng lên, mở mắt nhìn. Xung quanh hắn vạn vật như sống dạy trong bàu không khí dịu mát óng ánh một màu mỡ gà. Hoa lá xôn xao, thông reo vi vút, chim muôn ríu rít gọi đàn. Dưới khe, suối tuôn róc rắt như cũng muốn đóng góp những nốt nhạc vui tươi vào bản giao hưởng chứa chan hạnh phúc này. Ồ, cuộc sống thế gian tuyệt vời quá ! Vậy mà chỉ riêng có hắn, Sisyphe, lại bị gạt sang bên lề. Tại sao vậy ? Tại sao lại có sự bất công này ? Sisyphe nhắm mắt, cố hít một hơi dài để lấy lại sự tỉnh táo. Không khí trong lành ùa vào hai buồng phổi, len lỏi từng thớ thịt, khai thông mạch máu khiến mọi giác quan trở nên bén nhọn. Hắn đánh giá được hương thơm của từng thứ cỏ dại, từng loại hoa rừng. Tiếng thông reo vi vút hơn, tiếng suối nghe cũng réo rắt hơn.Mọi ưu phiền mệt mỏi cơ hồ đều tan biến. Sisyphe lặng đi trong một khoái cảm hoan lạc như toàn thân vừa được ngấm một chất men say. Hắn mở mắt. Vạn vật hiện ra tưng bừng rộn rã hơn dưới ánh hoàng hôn rực rỡ. A, hạnh phúc thế gian là thế đấy ! Nhớ lại ý định toan tự hủy vừa qua, Sisyphe rùng mình. Tại sao hắn lại có ý nghĩ dại dột như vậy. Ai đâu có quyền cấm hắn được hưởng cuộc sống hạnh phúc thế gian. Các thần linh chăng ? Sisyphe ném vội cái nhìn xuống vũng tối trước mặt. Khối đá ngàn cân lại hiện lên ngạo nghễ như một thách đố buộc hắn phải trở về với thân phận mình.

Sisyphe sửa thế đi cho được khoan thai nhịp nhàng. Hắn cần lấy lại bình tĩnh để suy nghĩ sáng suốt. Hắn sinh ra để hưởng lộc trần thế. Hắn chẳng vừa được nếm mùi hạnh phúc thế gian đó sao. Vậy mà các thần linh lại dùng quyền lực độc đoán cột chặt hắn vào tảng đa định mệnh kia. Thay vì cuộc sống an lạc, họ lại đày đọa hắn trong lao tác đảy đá vô nghĩa mỗi ngày. Sisyphe nghiến răng nắm chặt hai bàn tay như muốn nghiền tan tảng đá nguyền rủa. Nhưng rút cục hắn đành buông tay đấm, thở dài. Sức mấy hắn đương đầu lại nổi các thần linh. Hắn đâu có thể tự mình giải thoát khỏi sợi xích oan nghiệp đó. Càng nghĩ, Sisyphe càng thấy thấm thía cho tình cảnh phi lý bi đát của mình. Vào lúc hắn sắp để rơi vào tuyệt vọng, ngàn thông bỗng reo lên vi vút như muốn nhắc nhở tới những khoái cảm hoan lạc vừa qua. Ý thức và bản năng sinh tồn lại trỗi dậy nơi hắn. Sisyphe vừa đi vừa suy ngẫm. Cuộc đời dẫu sao vẫn là vô giá và đời người chỉ có một. Sao hắn lại dại dột để cho tảng đá tầm thường kia định đoạt thay hắn ý nghĩa của sự sống còn. Các thần linh có thể đày đọa hắn trong số kiếp một tên khổ sai nô lệ. Nhưng họ không thể cướp đi của hắn quyền hưởng hạnh phúc của một con người. Chừng nào hắn còn là một khối óc, còn là một con tim ; chừng nào hắn vẫn còn biết suy nghĩ, biết cảm xúc, biết giận, biết buồn biết vui, biết thương, biết nhớ, biết mơ ước, biết hi vọng…, chừng đó hắn vẫn là hắn, là Sisyphe, là con người, nghĩa là vẫn có thể hòa nhập với cuộc sống thế gian. Vậy là Sisyphe đã quyết định. Không, nhất định không. Hắn sẽ không để cho mình sa vào cái bẫy của các thần linh. Hắn chẳng dại gì khước từ hạnh phúc thế gian bằng một hành động tự hủy. Hắn cũng không dại dột chịu giam mình trong thân phận một tên nô lệ khổ sai, chỉ biết rên xiết với nguyền rủa để suốt đời phải chịu thiệt thòi. Số phận nô lệ có thể do thần linh toan tính sắp đặt, nhưng định mệnh con người lại tùy thuộc nơi hắn. Nếu hắn quyết định chọn làm người, không ai có thể tước đoạt quyền sống của một con người nơi hắn được.

Niềm tin lấy lại, Sisyphe thấy bừng lên một sức sống hắn không có ngờ. Hắn cũng phát hiện thêm rằng hắn không hề là con người mất tự do : cuộc đời hắn không có bị lệ thuộc vào tảng đá oan nghiệt ấy. Các thần linh có thể kìm kẹp thân xác hắn bằng mọi thứ nhục hình. Nhưng hắn đâu chỉ có tồn tại bằng thân xác : hắn vẫn có thể vươn lên hiện hữu bằng ý thức tự do [10]. Sisyphe nhớ lại những cảm xúc hoan lạc khi nãy. Chưa bao giờ ngàn thông lại reo vui vi vút, suối nhạc róc rách lại tưng bừng rộn rã như vậy. Lại còn hương vị cây cỏ mới nồng nàn, gió mát mơn trớn mới êm dịu làm sao. Nếu không có cái rã rời mệt mỏi của thể xác, nếu không có sự bừng tỉnh của cảm quan vào lúc tâm thần hắn tưởng như đã tê cứng vì tuyệt vọng, liệu hắn có cơ hội để được thưởng thức những cảm xúc tuyệt vời ấy ? Sisyphe mỉm cười. Lẽ ra hắn phải cám ơn tảng đá hắn vẫn thường nguyền rủa đó mới phải. Không có nó, có lẽ chẳng bao giờ hắn có thể nhìn ra được hết vẻ đẹp của thế gian này. Không có nó, có lẽ hắn chẳng hề biết đến những cảm xúc nhiệt tình ấy làm hắn càng thêm gắn bó với cuộc sống thế gian. Nếu không có nhục hình đẩy đá tạo điều kiện cho lương tri được thức tỉnh, rất có thể hắn mới tồn tại, chỉ biết có sinh hoạt như một tạo vật giữa muôn ngàn tạo vật khác. Giờ đây nhờ vào những mệt nhọc của thể xác, nhờ vào những phấn đấu chống lại tuyệt vọng, con người thực sự mới được thức tỉnh nơi hắn : Hắn đã biết vươn lên ý thức hiện hữu. Giờ đây hắn không chỉ có trông mà đã biết nhìn. Giờ đây không chỉ có thở hít mà còn biết đánh giá các mùi hương. Giờ đây hắn không chỉ có nghe mà còn biết thưởng thức các điệu nhạc. Ha ! Ha ! Ha ! Bằng nhục hình đẩy đá, các thần linh toan đày đọa hắn trong kiếp sống của thân trâu ngựa. Họ đâu ngờ rằng thủ đoạn đó lại tạo điều kiện cho hắn thoát ra khỏi hàng tạo vật (créature) để vươn lên dịa vị một kẻ tạo sinh (créateur).

Sisyphe dừng lại lắng nghe tiếng thông reo nước chảy, thưởng thức cảnh vật tuyệt mỹ xung quanh bằng cái nhìn hân hoan sáng tạo của con người nghệ sĩ. Chưa bao giờ hắn lại cảm thấy hài lòng như lúc này. Hắn tự hỏi không biết có nên cám ơn các thần linh đã dành cho hắn cái nhục hình khổ sai ưu ái ấy ? Hang đọng dưới kia không còn là cõi ngục tù tăm tối giam cầm hắn nữa : nó sẽ là chốn nghỉ ngơi để hắn phục hồi sức sống. Và tảng đá kia hết còn là gông cùm giam cầm hắn trong bóng tối : nó đã trở thành bàn đạp giúp hắn vươn cao hơn tới ánh sáng cuộc đời. Sisyphe mỉm cười mãn nguyện, tiếp tục đi với những bước chân khoan thai bình thản. Nhưng từ xa, trong cái ánh nhờ nhờ của lúc chạng vạng tối, các thần linh lại nhìn ra bóng của Sisyphe chập chờn in lên vệ đường trong một dáng đi lủi thủi mệt nhọc. Và trên các bộ mặt hắc ám đại gian ác của họ đều nhếch lên một nụ cười khoái trá nham hiểm. Họ đâu có ngờ rằng Sisyphe đang tiến về phía hang đá trong một niềm vui thầm lặng. Như khi ta tìm lại tổ ấm sau một ngày lao động mệt nhọc. Hang động kia sẽ là vùng bóng tối bao trùm yên lặng giúp cho Sisyphe tìm lại được sự nghỉ ngơi cần thiết. Và phiến kia đã trở thành vật thân thiết rất cần cho Sisyphe để đi vào giấc ngủ như con « nu nuộc » rất cần cho một đứa trẻ thơ. Và cũng như đứa trẻ thơ với con « nu nuộc », Sisyphe sẽ giang tay áp má, trút bỏ hết nhọc nhằn lên tảng đá để vô tư đi vào giấc ngủ và sẵn sàng thức giấc đón chào một ngày mai. Ngày mai… Ngày mai…

« Tôi bỏ lại Sisyphe dưới chân núi ! Có ai trút bỏ được món nợ trần đâu. Nhưng Sisyphe dạy cho ta bài học trung kiên cao cả là phải phủ nhận các thần linh và gánh vác trách nhiệm cuộc đời. Hắn cũng vậy, cho là mọi sự đều tốt đẹp. Thế là cái vũ trụ từ nay vô chủ, hắn thấy nó chẳng phù phiếm mà cũng không cằn cỗi. Mỗi hạt cát của phiến đá này, mỗi tia thán khí ánh lên từ ngọn núi dày đặc bóng tối này cũng đủ làm nên một thế giới. Cũng vậy, cuộc vật lộn để vần cho được tảng đá lên đỉnh núi cũng đủ lấp đầy trái tim một đời người. Ta phải tưởng tượng Sisyphe được hạnh phúc. » (Je laisse Sisyphe au bas de la montagne ! On retrouve toujours son fardeau. Mais Sisyphe enseigne la fidélité supérieure qui nie les dieux et soulève les rochers. Lui aussi juge que tout est bien. Cet univers désormais sans maître ne lui paraît ni stérile ni futile. Chacun des grains de cette pierre, chaque éclat minéral de cette montagne pleine de nuit, à lui seul forme un monde. La lutte elle-même vers les sommets suffit à remplir un cœur d’homme. Il faut imaginer Sisyphe heureux. Sdd, tr. 168). (8)*

Bài học của Camus là vậy đó. Cũng đơn giản thôi. Bài học nhắc nhở ta rằng phi lý là cốt lõi thân phận con người và không hề có một thế giới trật tự an bài. Thế nhưng nếu không có ánh sáng nào thỏa mãn được ta khát vọng chính đáng về hợp tình hợp lý, ta không vì thế khước từ sứ mạng làm người. Tự hủy hay đổ lỗi cho số phận do thần linh định đoạt đều là thái độ đầu hàng hèn nhát. Trái lại, ta phải dám nhìn sự thật, biến nhận thức sáng suốt đó thành sức mạnh nổi loạn để biểu lộ tinh thần bất khuất và khẳng định quyết tâm hiện hữu bằng ý thức tự do. Chính sự chấp nhận đương đầu với định mệnh khắt khe đã giải phóng cho Sisyphe khỏi thân phận phi lý và giúp hắn tìm ra được ý nghĩa cho mỗi hành động trong cuộc sống hàng ngày. Đó cũng là lý do khiến ta phải tưởng tượng Sisyphe được hạnh phúc.

(còn tiếp)

Nguyễn Bảo Hưng
Nguồn: Tác giả gửi

[4] Ý nói đến con chó được nhà sinh lý học Nga Ivan Petrovich PAVLOV (1849-1936) dùng để thể nghiệm phản xạ có điều kiện hay phản xạ qui định (réflexe conditionné): Cứ mỗi lần cho chó ăn, Pavlov lại đánh trước một tiếng kẻng. Dần dà do thói quen, chỉ cần nghe tiếng kẻng là con chó đã tiết ra nước bọt.

[5] Thời gian đầu sau ngày trình diện học tập cho tới khi được phép thăm nuôi, toàn thể cải tạo viên đều bất đắc dĩ theo chế độ ăn chay trường. Họa hoằn gặp ngày lễ lớn (như ngày 2-9) mới đặc biệt được phát thịt heo (lợn) để ăn bồi dưỡng. Mỗi trại được phát một con heo cho toàn trại. Cái thủ, bộ đồ lòng, và chỗ thịt ngon lành dành cho ban Chỉ huy trại, dĩ nhiên. Phần còn lại được đem chia cho học viên toàn trại. Khi chia ra mỗi tổ được phần thịt khoảng hơn bàn tay để chia đều cho tổ viên từ tám đến mười người. Riêng tổ nào phần thịt có thêm miếng xương thì kẻ may mắn nhất trong tổ là người bốc thăm trúng được phần có dính cục xương : Tuy số lượng thịt ít hơn là các phần khác, nhưng người trúng thăm có cái lợi là một mình được hưởng phần cốt tủy trong cục xương được coi là yếu tố bồi dưỡng hiếm quí trong giai đoạn này. Đặc biệt có người, sau khi đã gặm hết tí thịt rồi, vẫn giữ lại miếng xương bỏ vào lon gô, mỗi lần lại đem ra hầm với rau thêm ít muối để nuôi ảo tưởng là mình đang được ăn cơm với canh thịt. Có người, do cục xương bị hầm đi hầm lại lâu ngày, đã trắng phếch còn hơn là xương bốc mộ nữa, nhưng vì luyến tiếc vẫn không chịu rứt bỏ.

[6] Gắn thêm một bông mai, tức là lên một cấp bực theo quân hàm của sĩ quan quân đội VNCH.

[7] A. Camus, « Le Mythe de Sisyphe : L’absurde et le suicide, pp.17-25 – Collect. Folio, Edit. Gallimard 1942.

[8]* Những phần chữ in nghiêng đều là những lập luận của Camus nói lên quan điểm của ông về vấn đề « tự tử và phi lý». Những trích đoạn này (có kèm theo nguyên tác), chúng tôi chỉ làm công tác chuyển ngữ nghĩa là có chỗ dịch lại, có chỗ tìm cách diễn ý hoặc làm sáng ý miễn sao gắng phản ánh được trung thực tư tưởng Camus. Với những ý tưởng thâm trầm sâu sắc được diễn tả qua một bút pháp cô đọng đôi khi rất trừu tượng của Camus, chúng tôi cho rằng tìm cách dịch từng câu từng chữ theo nguyên tác chưa hẳn đã là phương pháp thích hợp để tạo nhịp cầu giao cảm giữa tác giả và độc giả.

[9] Coi R-M Albérès : La révolte des écrivains d’aujourd’hui – Editions Corrréa 1949, Chương mở đầu : Littérature prométhéenne pp. 11-25 (Thế hệ văn học Prométhée). Prométhée, nhân vật thần thoại Hi lạp, vì ăn cắp lửa thiêng của thần Zeus (Thái Dương) để đem ánh sáng văn minh cho loài người, nên bị thần Zeus trừng phạt bằng cách đem cột vào dãy núi Caucase để mặc tình cho chim ưng đến moi gan. Nhưng do sức sống bền bỉ nên mỗi lần bị chim ưng ăn hết lá gan, Prométhée lại mọc được ra lá gan khác để nuôi sống mình. Do ý nghĩa biểu tượng của câu chuyện thần thoại này mà Albérès đã xếp các nhà văn Pháp khoảng thời gian 1930-50 như André Malraux, Georges Bernanos, J. P. Sartre, Albert Camus, A. de Saint-Exxupéry…, thuộc loại thế hệ Prométhée theo nghĩa :

a) Trước hết, họ là những nhà văn phản kháng. Không phải phản khánh chính trị, mà là phản kháng văn học. Dù là vô thần như Sartre hay Camus, hay là tín hữu công giáo như Bernanos, bắng cách này hay cách khác họ đều lên tiếng chống lại các nền tảng văn học cổ điển đã trở thành những lâu đài rêu phong mục nát, những tín niệm giáo điều đã trở thành xơ cứng và đặc biệt là thái độ ngụy tín của những kẻ còn bám víu vào những hệ giá trị đã bị sói mòn ấy.

b) Cũng như Prométhée tự nuôi sống bằng chính lá gan do mình tái tạo, thế hệ các nhà văn Prométhée đều không dựa dẫm trên bất kỳ chủ nghĩa hay lý thuyết văn học sẵn có nào, mà bằng tìm tòi sáng tạo và ánh sáng ý thức của chính mình để đề ra những giải pháp ý nghĩa cho đời sống.

c) Nhân đây, cũng do ý nghĩa biểu tượng của sự tích Prométhée, ta có thể mượn ý của nhà phê bình Albérès mà suy rộng ra rằng các nhà văn phản kháng, các nhà trí thức đấu tranh cho tự do dân chủ, nhân quyền hiện nay tại Viêt Nam, cũng như tại bất cứ mọi nơi trên thế giới, khi mà ở đó còn có độc tài áp bức thi các nhà đấu tranh tư tưởng đó đều có thể được coi là những hậu thân của Prométhée: Trước hết do mục tiêu đấu tranh cho lý tưởng tự do dân chủ và nhân quyền, họ cũng là những kẻ muốn ăn cắp lửa thiêng để đem ánh sáng dân chủ tự do mưu cầu cho cuộc sống hạnh phúc thế gian. Tiếp đến do thái độ phản kháng này mà họ đã phải chịu cảnh khổ sai tù đày, cũng như Prométhée đã phải chịu cực hình bị chim ưng mổ gan; nhưng, cũng như Prométhée tái tạo được lá gan, họ vẫn nuôi dưỡng được ngọn lửa đấu tranh bằng tinh thần bất khuất của mình.

Suy luận này, chúng tôi xin được đóng góp thêm vì muốn ngỏ ý rằng có những truyện kể mà ta cho thuộc loại hoang đường thì chính những yếu tố hoang đường đó, do ý nghĩa biểu tượng mà chúng chuyển tải, đôi khi lại phản ánh đúng hiện thực xã hội loài người.”

[10] Khước từ các điều kiện tồn tại do xa hội qui định, chấp nhận sự câu thúc của thân xác để vươn lên ý thức tự do bằng ý chí, phải chăng đó là điều mà Dương Thu Hương đã thể nghiệm thời gian chị ở tù do thái dộ chống đối nhà nước (vào năm 1991) khi chị khẳng định : « Tôi quyết định sống như một người tự do. Tôi tự tạo cho mình một mặt trời tự do ngay trên mảnh đất sình lầy. Và trong khoảnh khắc quyết định ấy, tôi tự thấy tôi hoàn toàn thay đổi : Hạnh phúc. Hoàn toàn hạnh phúc trong cô đơn tuyệt đối và cùng cực» (Dương Thu Hương : Tự do ảo, khoảng sinh tồn của ngòi bút. Hợp Lưu số 50, tr. 87). Tuy nhiên có điều làm tôi thắc mắc là cái tự do mà chị cho là « Ta phải học cách sống có nó và xứng đáng với nó » (Sdd,tr.89), cái tự do đó mới là tự do đích thực vì nó biểu hiện cho phẩm tính cao cả của con người, vậy tại sao lại gọi là tự do ảo ? Hay Dương Thu Hương cho rằng cái tự do đó, chỉ tồn tại ở dạng thức ảnh (virtuel) hay chỉ tồn tại trong trí tưởng tượng của nhà văn nên chị mới gọi là tự do ảo ?

Đã đóng bình luận.