Đoàn Minh Hải, đại nguyện của đá

Posted: 25/11/2012 in Ngô Nguyên Nghiễm, Tùy Bút / Tản Mạn / Ký Sự
Thẻ:

Ngô Nguyên Nghiễm

Đối với thơ Tân hình thức ở Việt Nam, cách đây hơn 10 năm vẫn còn xa lạ, và ít người hiểu sâu thẳm loại thơ ca đột biến và mới toanh nầy. Ở Mỹ, Khế Iêm dựng lên tạp chí Thơ, quy tụ nhiều nhà thơ quần hùng, để khơi hoạt nông sâu về thơ Tân hình thức. Tâm ý của tạp chí Thơ, cũng được nhiều hưởng ứng từ bạn bè, nhất là những người tâm huyết yêu chuộng cái mới, có tâm tìm tòi khơi nguồn cho thi ca có một hướng chảy sang trọng và hùng vĩ trong tương lai. Dĩ nhiên, thơ Tân hình thức không thể đại diện cho các dòng thơ thế giới, từ cổ điển, tiền chiến, tự do… hoặc bao quát được tát cả khuynh hướng nghệ thuật thơ, mà cả bao nhiêu ngàn năm nhân loại phải kinh qua lối sống, tinh thần, tri thức, trí thức kể cả sáng tạo để đi dần về những thi hướng trong từng thời đại xuyên suốt thời gian trôi qua. Tất nhiên, những thành công hay mò mẫm của thơ Tân Hình Thức, đều được đáng quý trọng, tạo nên một sự sấm chớp, tượng hình, vũ trụ quan… cho bảo sáng thi ca được thêm tượng sáp kỳ bí, sáng hoá và hoằng dương thêm chính khí cho vũ trụ thơ hiện có.

Mấy năm trở lại đây, ở Việt Nam cũng có nhiều tiến bộ ý thức mọi mặt. Các khuynh hướng văn nghệ cứ đùn đẩy, thai nghén và sinh đẻ ra biết bao hiện tượng. Có những tiêu biểu được cổ võ, cũng có những ánh chớp vừa loé lên đã chợt tắt câm lặng vào khoảng không gian mù tịt của nghệ thuật. Nhưng các tác giả vẫn cố ngoi dựng ý thức, sáng tạo như kiên trì chăm sóc từng nụ hoa, vun quén thời tiết thuận thành đợi kỳ khai sinh suông sẻ, cái khó của một tác phẩm ra mắt, thì cũng phải cộng đủ tài năng, sáng tạo, y thức… Kể cả hình thức vật chất, để phát huy thần khí kiên tuyết giúp cho một tác phẩm thành công. Thơ Tân Hình Thức ở VN, cũng cô đọng từ những phương trình lập thể từ Mỹ, Anh… nhưng khi vào trí tuệ và tri giác của các thi sĩ ta, đã hoà quyện biến thiên với khí hậu Rồng Tiên thành một giác linh mở cõi, thành một Tân Hình Thức đặc biệt riêng tư và thành công kỳ diệu, kéo theo cả một trào lưu tri thức trẻ, hay những người làm thơ trẻ, vào vòng luân hồi của Tân Hình Thức, mọt cách nhanh chóng.

Thú thật, cách đây hơn 10 năm, Nguyễn Phan Thịnh những trà dư tửu hậu của tôi ở tuệ xá Thư trang Quang Hạnh, 21 Hưng Phú, sau một ngày giảng dạy mệt nhọc ở trường Đại Học (Nằm trong đoạn đường cổ thụ có tiếng ve kêu rầu rĩ suốt 4 mùa, tiếng ve cơ khí ?, mà tôi thường xuyên bơi ngang vào mỗi trưa nắng gió Sài Gòn, để êm ả trong những âm thanh vi diệu đó, mà không thể nào diễn tả được! ). Có lần, buổi chiều trước sân tuệ xá, bên gốc mai già, mà các bằng hữu văn nghệ thường xuyên cũng tối đối ẩm ), Nguyễn Phan Thịnh chuyển tới vài bài thơ Tân Hình Thức của Đoàn Minh Hải và vài tạp chí Thơ. Đoàn Minh Hải thì tôi chăng lạ gì, vì chúng tôi thân tình giao tiếp nhau cũng gần 40 năm. Lúc trước, Đoàn Minh Hải cũng được giới thiệu ở nhiều báo chí trong nước, ấn hành được vài tập thi phẩm rất thành công. Anh hoạt động văn nghệ, dù âm thầm, cô độc hơn mọi người, nhưng ngoài tánh tình thầm lặng, chịu đựng, có ai biết rằng tự thăm thẳm tâm thức anh cũng lúc nào cũng bùng cháy ngọn lửa hồng rực rỡ. Tôi không ngạc nhiên, vì Đoàn Minh Hải rất kín đáo, âm lặng, hay là vì tôi bỏ hẳn một thời gian dài xuyên suốt liên lạc cùng anh ? vẫn còn thoang thoảng âm vọng “ Trận gió cuồng / trận trận vàng rơi / ai nghe gió rít trong tre trúc / mà cả người lạnh cả ta /… Đi qua dòng thác lũ / là cả một đời người / để nghe gió rít trong tre trúc / mênh mông sông núi – mang mang sầu / cũng bởi nhớ thương người năm cũ / nên trời với đất đã gần nhau…Mấy đoạn thơ trong bài Chiếc lá tre ngà của Đoàn Minh Hải, mà đọc xong tôi còn nổi gai óc cho tới hôm nay.

Bây giờ, trước mặt, không sai chạy gì cả, cả thơ Tân Hình Thức của một Đoàn Minh Hải tài hoa, hiền lành, lãng đãng theo cơn gió chiều, như một tu sĩ nhẹ nhàng dưới chân mây. Tôi nhìn Nguyễn Phan Thịnh há hốc không thành lời, phải chăn Đoàn Minh Hải chuyển qua một giai đoạn mới, chuyển qua một lăng kính mà thi nhân bước qua cõi lục tuần, đáo tuế trở lại hài nhi, như Kinh điển Đông phương. Nguyễn Phan Thịnh, ngó tôi và cười rạng rỡ. Có phải Thịnh hiểu tôi quá bất chợt, nên hụt hẫng bước trên một ý thức mới, như chiếc cầu tre vắt ngang sương khói ?. Một cách chơi vơi, vì thật tình tôi không ngờ Đoàn Minh Hải chuyển hướng về một sáng tác mới, mà lại lả một kỳ vĩ cho một dòng thơ mới xuất hiện, như cuộc thám hiểm về hướng tương lai trên chiếc cổ xe hiện đại, không lường trước được ngày nào đạt bí kíp, để kịp bay về đời sống hiện tại ?. Tôi và Nguyễn Phan Thịnh, qua loa về chuyện xã giao cái mới nầy, không dè Nguyễn Phan Thịnh cũng đang bước một chân dài ( dò dẫn ?) lên con tàu viễn vọng Tân Hình Thức. Vì bất ngờ, và không muốn chuyện mình chua thông hiểu, được bàn luận mù mờ, nên đề nghị Nguyễn Phan Thịnh dẹp qua một bên để ngày khác thuận tiện hơn. Anh em sang qua tân truyện, vì khi đó có Nguyễn Tôn NhanMịch La Phong đáo lai nhà nghèo.

Nhà thơ Đoàn Minh Hải như một con chim nhạn hót lẻ loi trong mộ thốc vách đá trùng dương nào xa. Tiếng vọng chỉ vừa đủ cho anh, cho bằng hữu loáng thoáng đoán nhận. Thơ văn anh cũng vậy, dù được giới thiệu rất nhiều ở các tạp chí cùng thời như : Văn nghệ học sinh, Kỷ nguyên mới, Phổ thông, Giữ thơm quê mẹ, Đối thoại, Khởi hành… nhưng con tằm thì phải nhả thân tơ, dù có rút ruột tử sinh của một thi nhân cho nhân thế cũng còn tâm tình nguyện.

Cam tâm của một Đoàn Minh Hải trầm lặng, là sáng lập một quán café Mù U với em trai, quy tụ anh hùng hào kiệt văn chương khá rộn ràng. Quán có một giai nhân giữ két và chào đón bằng hữu văn nghệ, nên đây cũng là điểm lý thú. Một mặt là hội ngộ đàm thoại văn nghệ, hai là thư giãn từng giọt café nhan sắc, ba là đón bắt tin tức quang quả cho no đầy bản ngã phản chiếu. Thời gian ở Mù U, tôi liên tưởng đến một Phan Tấn Thi, sau nầy là một nghệ sĩ kịch nói Tấn Thi. Tấn Thi cũng là nhà thơ thân quen, bằng hữu sát cánh cùng anh em văn nghệ Miền Tây như hình với bóng. Tấn Thi lần đầu tiên hướng dẫn Tôi đến gặp Đoàn Minh Hải tại Mù U. Quán Mù U là một quán sân vườn nghệ sĩ, mang đầy ngã chấp của văn chương, nên không khí kinh doanh không nặng nề lãng vãng. Bằng hữu văn nghệ yên tâm tiến thoái, vì ai cũng là chủ nhân, chỉ ngoại trừ người thơ ngồi giữ két trên quầy nho nhỏ. Nhà thơ Hoàng Thoại Châu của Tình biển nghĩa sông, cũng có một thời gian dài lưu bước Mù U .

Đoàn Minh Hải tiếp tôi, điềm đạm như một giáo sĩ, anh hồ hởi hơn khi nhắc về Tạp chí Cùng khổ, mà anh và Nguyễn Phan Duy chủ trương. Lúc bấy giờ, giữa chiến tranh bom đạn tàn phá quê hương, nên lớp thanh niên đương thời, nếu không nghiêng ngả 2 bên, riêng với anh em văn nghệ đều tự lập đứng ra chủ trương thực hiện một tờ Tạp chí để nói lên chính kiến và sáng tác cho văn học cho chính bản thân.

Sau 1975, dù tôi có in chung với nhà thơ Đoàn Minh Hải vài tuyển tập (như Trăng sáng mùa, Trước sân nhà…)dù có trao đổi diện kiến vài thâm hỏi xã giao, trong các buổi tiệc ra mắt tác phẩm. Nhưng anh em chỉ gặp thoáng qua, trước sân khấu giao tế đông người, của các chương trình giới thiệu. Bằng hữu văn nghệ như rừng, mà tánh tình của Đoàn Minh Hải lại khép kín, như loài phong lan chỉ nở huy hoàng nơi hốc kín rừng sâu, nên tôi ít chủ động được, để giao tiếp tình bạn bè cố hữu. Như nhắc ở trên, khoảng năm 2000, tình cờ nhà thơ Nguyễn Phan Thịnh qua tệ xá trao đổi ý thức về thơ Tân Hình Thức. Khi giới thiệu Tân Hình Thức của Đoàn Minh Hải, Thịnh chấn chỉnh tôi, biết quá ít về phong trào thơ mới nầy. Khi về, Thịnh còn dặn dò, ông phải học vi tính để lên website đọc các tiến bộ mới của thơ, mình lạc hậu với thế giới gần ½ thế kỷ. Tôi giật mình, cố thu vén vỏ ốc quanh mình, thì ra, khắp trời đất cũng còn nhiều kỳ quan hơn ta tưởng.

Giang tay ôm hết vòng trái đất, không giọt rượu nào ta cũng say”. “Chao ôi! nhật nguyệt tan tành…”. Đoàn Minh Hải như những chức phong linh rung nhẹ âm vang theo gió thu chợt thổi. Hình ảnh cổ phong đã giữ bóng dáng thi ca của anh bước tới một bước thông đạt với gấu áo của hư không. Thơ Đoàn Minh Hải, cách đây hơn 10 năm, đã có một sắc vóc bàng bạc, ru êm, lắng tai khẽ nghe nghiêng mắt khẽ nhìn, mà hạnh phúc với thơ. Hạnh phúc một cách ung dung, tự toại, như bóng dáng một chàng thư sinh, nho nhã, điền đạm bước bước vào cõi đời uyên nguyên của trời đất, mà dung nạp khí hạ nguyên.

Thật giật mình biết bao trong cơn mê mờ tỏ, đường khe núi thẳm, Đoàn Minh Hải đập vỡ chính bản thân mình. Nhà thơ hùng dũng cởi bỏ cổ trang, mặc áo giáp, đi tiên phong về một hướng mặt trời mới. Không hiểu tinh hoa kết tụ ngàn năm có chiêu đãi nhà thơ, nhưng đây cũng là một dũng khí của người làm văn nghệ, biết đạp đất vá trời, để tạo thành một vũ trụ hỗn mang ( chanh ) mà đến triệu năm sau mới có cơ ngơi, có còn ai thông thấu ?.

Cơ duyên giúp tôi nhận được ở tập thơ Tân Hình Thức mới nhất của Đoàn Minh Hải, do chính tác giả ký tặng thân tình. Tôi có dịp so sánh, thao nhắc nhở của Nguyễn Phan Thịnh, tìm tòi đọc các tác phẩm Tân Hình Thức của nhà thơ trẻ, để thẩm thấu và mở rộng tầm nhìn. Các anh em tre đều là các nhà khoa bảng tri thức, đều biết nghiệp thi ca, lẽ nào xu hướng cho nhau nầy, không giúp tôi được khai thị lời hay lẽ phải ?. Quả thật, so sánh với thơ Tân Hình Thức của Đoàn Minh Hải, thơ anh làm tôi dịu lòng người hơn. Anh thú thật, vẫn quý trọng các danh tác của những người đi trước, vẫn say mê với kiệt tác của cổ nhân, nhưng Đoàn Minh Hải quan niêm đã trải qua suốt một đời người thăng hoa biến hoá với nhiều phương hướng vui buồn, nhiều thành công cũng như nhiều thất bại, tại sao không mặc chiếc áo mới trong luồng gió lạ, có thích thú hơn không ?.

Đó là cách biện giải, thử đi vào thơ Tân Hình Thức của Đoàn Minh Hải xem sao :

Mừng mà buồn
Buồn mà mừng

Khi các con nhìn thấy những cánh hoa
hồng mới nở trong vườn sáng nay còn
hây hây trong gió nhẹ thì ba mừng,
ba mừng lắm, như những ngày xưa cánh
đây ba mươi năm. Ba gặp lại người
yêu mà bây giờ là mẹ các con.
Khi các con nghe tiếng chim hót trên
một cành cây bên ngoài cửa sổ thì
ba nghĩ đế tuổi thơ của ba, ba
buồn. Vì ba là con chim không có
cánh. Không tiếng hót.
Khi các con nhìn ra cánh đồng xanh
Ngoài khung cửa sổ thì ba mừng như
thấy được những ước mơ của các con
bây giờ, mà ngày xưa cổ tích của
ba không bao giờ có được.
Khi các con nhìn ra cánh đồng xanh
mượt mà nhung lụa mạ non như làn
sóng đùa nhau dịu dàng, ba biết những
kỳ vọng của các con sẽ đến chân
trời mới, hy vọng cho một mùa bội
thu.
Khi các con thấy biển cả mênh mông,
Trùng dương bác ngát thì ba nhớ đến
mẹ của ba. Một người Mẹ Việt Nam
trong những người đàn bà Việt Nam, ba
liên tưởng đến mẹ các con.
Khi các con thấy được những ngọn núi
Nơi quê nhà hay bất cứ ngọn núi
Nào trên quê hương nghèo nào khốn khổ
đẩy bất trắc nầy thì ba cũng thấy
nấm mộ của ba ba in vài bóng
núi tím thẫm nằm bơ vơ giữa nơi
gió các và lau sậy rì rào sóng biển.
Khi các con thây được những dòng sông
Khe suối hay thác đổ, đó là những
Lúc ba mẹ rửa chân tắm mát
cho các con ngay bây giờ các
con bắt ra đi hay ngày các
con trở về. Ba mẹ lúc nào cũng
là những vòm mây trắng bay theo,
dẫu cho suốt cuộc đời nầy chỉ là
cơn gió thoảng.
Khi các con thấy được những sợi tóc
bạc của ba thì các con hãy thương
yêu nhau hơn và hãy thương yêu chính
bản thân mình – một giọt máu đào…
Khi các con thấy được…

7-2000

Sở dĩ, trái với thông lệ chấm bút trong Tác giả tác phẩm, người đồng hành quanh tôi, là không dẫn chứng từng đoạn minh chứng như các biên khảo thơ khác, vì tôi muốn các bài thơ của bằng hữu sẽ hoá thân vào bài dẫn truyện một cách tự nhiên. Tuy nhiên, thơ Tân Hình Thức không thể dừng ở một đoạn nào, mà phải liên tục xuyên suốt như dòng chảy, như bài dẫn trên gợi lại như một ngoại lệ. Và Đoàn Minh Hải đã thành công ở thể loại mới nầy, riêng cá nhân tôi, quý trọng sâu sắc tâm thức sáng tạo ở Đại Nguyện của ta. Một tác phẩm tiêu biểu của thơ Tân Hình Thức Việt Nam, mà tôi mượn lời nhận xét của nhà thơ Khế Iêm “ như một ngọn gió mới, một niềm tin mới, ước mong giấc mơ sẽ tàn hiện thực của thơ Việt khi bước vào tân thiên niên kỷ.”

Ngô Nguyên Nghiễm
03.VIII.2008
Nguồn: Tác giả gửi

Tiểu sử văn học Đoàn Minh Hải

– Sinh ngày 06/01/1941 tại Hải Phòng. Hiện sống tại TP Hồ Chí Minh, Mẹ bồng vào Sài Gòn tìm Cha – Cha đã vào Sài Gòn từ 1942 – Theo Cha Mẹ ở khắp nơi trong miền Nam: Biên Hòa, Phú Nhuận, xóm Kinh, xóm Chiếu, Quận 4, Tân Định, Đà Nẵng, Huế, Nha Trang, Dục Mỹ, Ninh Hòa.

– Từ năm 1956 vừa đi học vừa đi làm ở Đà Nẵng, Huế.

– Bắt đầu làm thơ từ năm 1958; đã đăng trên: Phổ thông, Văn nghệ học sinh, Kỷ nguyên mới, Gió ngàn phương, Mã thượng, Gió mới, Giữ thơm quê mẹ, Đối thoại, Trước mặt, Tham dự, Khởi hành.

– Cộng tác Sau lưng các ngườiĐại dân tộc

– Đặc phái viên cho Điện Tín ở Cần Thơ

– Chủ trương Nguyệt san Cùng Khổ

– Bản thảo bị thất lạc: Tôi bắn chết tôi (thơ)., Quê nhà lạ lùng (truyện).

– Đi làm ở Cần Thơ và 7 tỉnh miền Tây

– Thơ in ronéo: Lửa cô hồn (1973), Lửa đốt hồn soi (1974), Trái tim phiêu bạt (2001)

– Thơ in chung: Trăng sang mùa (1996), Trước sân nhà tập 1 và 2 (2000), Hành trình (2007)

– Bắt đầu viết cho tạp chí Thơ của Khế-Iêm, Hợp Lưu ,Gió văn, và làm thơ Tân Hình Thức,

– Từ 2000 đến nay đã có 5 tập thơ in theo thể thơ Tân Hình Thức:

Trái tim phiêu bạt (2001)
Đại nguyện của đá (2002)
Đêm tìm tâm tim (2004)
Ngước mặt nhìn trời (2006)
Mặt trời, tim và mây bay (2008)

– Năm 1971 mở quán Café Mù U ngày khai trương bạn bè khắp nơi gần khắp miền Nam tới cũng vui. Mù U là nơi chốn để anh em xanh-đỏ gặp nhau.

– Sống rất âm thầm.

– Tháng 8-2008 ấn hành Lục bát Đoàn Minh Hải (thơ)

Đã đóng bình luận.