Phê bình văn học thế kỷ XX – Chương 15: Phê bình văn học Pháp – Jean Paul Sartre (1905-1980)

Posted: 08/12/2012 in Biên Khảo / Phê Bình, Thụy Khuê
Thẻ:

Thụy Khuê

Đã đăng: [Phản xạ phê bình], Chương [1], [2], [3], [4], [5], [6], [7], [8], [9], [10], [11], [12], [13], [14], [15]


Vase with oleanders and books – Vincent van Gogh

Tóm tắt lịch trình phê bình nửa đầu thế kỷ XX

Những khuynh hướng khác nhau trong phê bình văn học nửa đầu thế kỷ XX, gần như đã phát triển một cách độc lập. Những trường phái, phong cách, ít có điều kiện trao đổi hoặc phối hợp với nhau bởi sự giao lưu tư tưởng giữa các nhà phê bình chưa được phát triển vì hai lẽ: Đại chiến thứ nhất và Cách mạng tháng mười kéo dài hậu quả phân chia thế giới, lãnh địa. Việc dịch thuật chưa mở rộng kể cả ở những nước tiên phong như Pháp, Đức… Vì vậy, phê bình Nga và Đức hầu như không “biết” nhau. Thêm nữa, các thể chế độc tài Cộng sản và Đức Quốc Xã thống trị trên sự đàn áp tư tưởng, tác phẩm nghiên cứu của nhiều nhà phê bình bị vùi dập, bản thân nhà phê bình bị đe dọa. Để trốn tránh chế độ độc tài, một số nhà phê bình Nga và Đức phải chạy ra nước ngoài. Rồi đại chiến thứ nhì gây thêm đổ vỡ, tan nát, làm chựng việc giao lưu tư tưởng. Đó là những lý do khiến những khuynh hướng phê bình trong nửa đầu thế kỷ XX, tuy phong phú, nhưng không liên lạc mật thiết với nhau. Mỗi cá nhân, mỗi xu hướng làm việc riêng rẽ, ít có sự kết hợp tư tưởng một cách “toàn cầu” như hiện nay.

Tại Nga, trường phái hình thức khai trương khoa khảo sát văn bản từ thập niên 1920-1930, dựa trên ngữ học; Mikhail Bakhtine đứng riêng một cõi, những tác phẩm của ông bị trù dập đến giữa thế kỷ. Xuất phát từ nhóm hình thức nhưng Bakhtine cực lực chống lại tính cách “máy móc” của họ, ông cho rằng một chủ trương phê bình chỉ chuyên chú vào văn bản và chỉ dựa vào những quy ước ngôn ngữ không thôi thì sẽ đi ra ngoài văn học. Theo Bakhtine, đằng sau tác phẩm là tác giả, là một con người và đằng sau con người là một xã hội, một lịch sử. Vì vậy, sự nghiên cứu văn bản chỉ có ý nghĩa khi chúng ta -thông qua văn bản- tìm thấy đời sống, tìm thấy xã hội và con người. Bakhtine muốn xây dựng một nền xã hội học phê bình, khác với nền ngữ học phê bình của trường phái hình thức. Hai khuynh hướng đối lập giữa Bakhtine và trường phái hình thức, thực sự, lại bổ sung cho nhau, đưa phê bình Nga lên ngôi vị hàng đầu, trong việc khai phá phê bình văn học trong nửa đầu thế kỷ XX.

Song song và độc lập với phê bình Nga là phê bình Đức trước thế chiến. Nếu phê bình Nga dựa trên ngữ học, thì phê bình Đức dựa trên bác ngữ học. Điểm đáng chú ý đầu tiên là các nhà bác ngữ Đức, như Auerbach, Spitzer, đã mở rộng không gian phê bình ra ngoài biên giới quốc gia, phát sinh tinh thần Âu châu hợp nhất, ngay trước thế chiến, và họ là những người đầu tiên đã sử dụng và phát triển khái niệm so sánh như một phương pháp trong phê bình văn học. Bác ngữ là khoa học đào sâu đến tận nguồn gốc lịch sử ngôn ngữ. Phê bình bác ngữ học tìm mối tương quan giữa các ngôn ngữ cùng chung gốc La tinh. Đối với những nhà phê bình Đức, phê bình không nên chỉ nhắm vào một đối tượng là cuốn sách này, cuốn sách kia, hoặc khoanh tròn trong nền văn học của nước này hay nước khác, mà phải mở rộng lãnh vực, và họ đề nghị nghiên cứu nền văn học Âu Châu, gồm các thứ tiếng có nguồn gốc ngữ tự La tinh, như một toàn thể, vì các tác gia trong các nước ấy, cùng có chung một nền văn hoá gốc, cùng chung những khuôn mẫu tư tưởng gốc. Một quan niệm Âu Châu toàn khối như thế, có thể xem như đã manh nha cho tinh thần “toàn cầu” sau này, nhưng ở thời điểm đó, còn mang thêm một ý nghiã khác: chống lại tinh thần dân tộc cực đoan của Đức Quốc Xã và gợi ý cho một nền nghiên cứu văn học so sánh, một cái nhìn liên văn bản mà nửa sau thế kỷ XX, sẽ được mở rộng và đào sâu thêm. Giả sử Á Châu có một nền nghiên cứu văn học về các ngôn ngữ có nguồn gốc chữ Hán như Triều Tiên, Nhật Bản và Việt Nam thì chúng ta cũng sẽ tìm ra được rất nhiều mối tương giao giữa những nền văn học này, bởi chúng cùng phát xuất từ nền văn hoá gốc Trung Hoa. Khi đọc tiểu thuyết của những tác giả Nhật, như Murasaki, Kawabata, Inoué, Mishima… đặc biệt Murasaki và Kawabata, ta thấy lại những hình ảnh trong Cung Oán, Chinh Phụ, Kiều… dưới những bối cảnh khác hẳn: vừa gần gụi vừa lạ kỳ; như thể những hình ảnh đó, từ mầm Hán nhưng khi được gieo sang những mảnh đất khác nhau, đã thấm nhuần phong thổ, khí hậu, văn hoá và được nuôi dưỡng trong tâm hồn các dân tộc khác nhau, chúng lớn lên trong những thân xác mới, trở thành những tư tưởng mới; nói khác đi, chúng đã được Nhật hoá, Triều hóa, Việt hóa một cách tài tình.

Phê bình Nga và Đức, vì các điều kiện lịch sử như trên đã nói, không phát triển được ở Âu Châu trước và trong thế chiến. Khoảng giữa thế kỷ XX, một trường phái khác đã giữ vai trò chủ chốt trong việc phát triển phê bình ở đại học, đó là trường phái Phê bình ý thức ở Genève. Trường phái Thụy Sĩ, trước tiên, chủ trương chống lại ba phương pháp phê bình thịnh hành trong thế kỷ XIX là phê bình thực nghiệm, dựa trên triết học thực nghiệm Auguste Comte, đem những kinh nghiệm thực chứng trong đời sống áp dụng vào phê bình, chỉ ra cái “sai” cái “đúng” của tác phẩm, Vũ Ngọc Phan đi theo con đường này; phê bình ấn tượng, nói lên những ấn tượng mà văn bản gây nên cho bản thân nhà phê bình, Hoài Thanh chịu ảnh hưởng của phê bình ấn tượng và phê bình tiểu sử, nhà phê bình dựa trên tiểu sử nhà văn để tạo nên những chân dung văn học trong đó văn bản được đưa vào như những chứng từ. Đại diện tiêu biểu ở Pháp của phê bình thực nghiệm và phê bình tiểu sử là Sainte Beuve.

Đả phá những lối viết phê bình thế kỷ XIX, mà họ cho là dựa trên những yếu tố ngoài văn bản, trường phái ý thức chủ trương khám phá quan hệ nội tại giữa người đọc và người viết qua tác phẩm. Vai trò của người đọc được đưa ra, được khảo sát và đề cao. Georges Poulet, một trong những thành viên chủ chốt cho rằng phê bình ý thức là sự đồng quy giữa hai ý thức: ý thức người viết và ý thức người đọc. Phê bình Thụy Sĩ có thể coi là chiếc cầu nối giữa hai nền phê bình Đức và phê bình Pháp.

Phê bình nửa sau thế kỷ XX

Phê bình Pháp phát triển vào giữa và nửa sau thế kỷ XX. Những tên tuổi lớn chia làm hai nhóm:

Nhóm thứ nhất gồm những nhà phê bình độc lập, phi trường phái như Jean Paul Sartre, Gaston Bachelard, Maurice Blanchot v.v… Tác phẩm chính của họ xuất hiện khoảng thập niên năm mươi, với ba tư thái văn học khác nhau.

Nhóm thứ nhì, thường được gọi chung là Phê bình mới, như Phê bình ký hiệu học, Phê bình liên văn bản v.v… xuất hiện thập niên bẩy mươi, xây dựng lý thuyết văn bản trên các ngành khoa học như ký hiệu học, liên văn bản, văn học so sánh, với những tên tuổi như Roland Barthes, Gérard Genette, Julia Kristeva… ở Pháp hoặc Umberto Eco… ở Ý.

Chúng tôi sẽ lần lượt giới thiệu ba nhà phê bình độc lập J.P. Sartre, Gaston Bachelard, Maurice Blanchot trước và sau đó Phê bình ký hiệu học với Umberto Eco và Roland Barthes.

Phê bình Ký hiệu học sẽ được mở đầu với Umberto Eco, người Ý. Bởi muốn hiểu nội dung phê bình ký hiệu học, trước tiên phải hiểu lý thuyết về ký hiệu học, một lý thuyết khá rắc rối, mà nếu độc giả chưa có kinh nghiệm chuyên môn, đọc thẳng sách của Roland Barthes hay Kristeva rất khó hiểu. Umberto Eco là một trong những người giải thích khái niệm ký hiệu học rõ ràng và mạch lạc nhất trong các nhà lý thuyết hiện đại. Và sau cùng chúng tôi sẽ đi sâu vào địa hạt phê bình ký hiệu học của Roland Barthes.

Đối với một số bạn đọc quen với dư luận văn học Mỹ, những tên tuổi như Bachelard, Blanchot… có lẽ không được nhiều người biết đến như lý thuyết Postmoderne – Hậu hiện đại của Jean François Lyotard hoặc Déconstruction – Tái kiến trúc của Jacques Derrida. Mặc nhiên, Bachelard và Blanchot vẫn là những triết gia và phê bình gia đã đóng góp những tìm tòi sâu sắc cho nền phê bình hiện đại.

Về lý thuyết Hậu hiện đại của Lyotard chúng tôi sẽ trình bầy trong phần chót như một phụ bản. Bởi trái với những gì đã được tôn sùng trong đại học Mỹ một thời, đưa đến những hậu quả muộn màng ở Việt Nam, lý thuyết Hậu hiện đại không đem lại những giá trị thực tiễn cho phê bình, nên sớm bị lỗi thời.

Riêng khái niệm hủy diệt văn bản, thay vì lý thuyết thời thượng của Jacques Derrida, chúng tôi chọn Maurice Blanchot, như một triết gia phê bình đã đi xa nhất trong việc phân tích, không chỉ hành động viết, mà toàn bộ hành động của tư tưởng.

Cũng xin lưu ý bạn đọc một số vấn đề liên quan đến dịch thuật: Để giới thiệu lý thuyết của J.P. Sartre với độc giả Việt Nam, phần lớn chưa quen với văn hoá và xã hội Âu Châu, cần phải thận trọng trong việc dịch những thuật ngữ cơ bản. Phê bình của Sartre đưa ra hai khái niệm quan trọng: dấn thânengagétrưởng giả – bourgeois. Khái niệm dấn thân sẽ được trình bày kỹ càng, nhưng khuôn khổ địa hạt nghiên cứu không cho phép chúng tôi đi sâu vào khái niệm trưởng giả, thường được dịch sai, ở Việt Nam trong những năm gần đây, cho nên cần được giải thích.

Khái niệm bourgeois – mà Nguyễn Văn Vĩnh dịch là trưởng giả, rất thông dụng trong ngôn ngữ phê bình văn học và xã hội học Pháp, đặc biệt Sartre, sau đến Barthes. Đối với Sartre, phê bình là phê bình toàn bộ xã hội trưởng giả Âu châu, từ thời Trung Cổ, đã tạo nên nền chính trị trưởng giả, ngôn ngữ trưởng giả, văn học trưởng giả. Hệ thống tư tưởng trưởng giả này bao trùm lên toàn thể đời sống con người Âu châu, xuyên qua nhiều thế kỷ.

Về ngữ căn, chữ trưởng giả dùng để chỉ giai cấp có thế lực trong xã hội. Nguyên thủy thời trung cổ, giai cấp này gốc nhà buôn, nhờ giàu có mà tiến dần lên địa vị cao và có quyền trong xã hội thay thế cho giai cấp quý tộc mất dần ảnh hưởng. Nhưng trong giai đoạn kế tiếp nhà buôn lại mất dần chỗ đứng và quyền lực chuyển dần sang giai cấp trí thức khoa bảng (nhà khoa học, luật sư, kỹ sư, bác sĩ…). Tất nhiên giai cấp trưởng giả qua các thời đại thường giàu có, nhưng cũng có thể chỉ trung lưu, thậm chí nghèo, nhưng vẫn giữ nề (ví dụ Barthes xuất thân trong một gia đình trưởng giả thanh bạch). Khi Sartre chống lại văn hoá trưởng giả là ông chống lại tất cả hệ thống tư tưởng trưởng giả được hình thành tại Âu Châu từ thời Trung cổ đến ngày nay.

Vì vậy, ở đây nên tránh dịch chữ bourgeois thành tư sản hay tư bản như một số dịch giả trong nước, trừ vài trường hợp đặc biệt, chữ bourgeois được dùng (sai) trong nghiã tư sản. Vì tư bản hay tư sản – capitaliste, chỉ có nghiã là kẻ có tiền, có tài sản, khác với chữ bourgeois, ngụ cả trình độ văn hoá và phong cách sống nữa. Ngoài ra, trong hệ thống thuật ngữ cộng sản, tư sản, tư bản luôn luôn ngụ ý mại bản, bóc lột, mà những nghiã này không hàm chứa trong từ bourgeois của Pháp. Vì vậy, khi dịch bourgeois thành tư sản, tư bản, là người dịch đã vô tình hay hữu ý, không những kéo Sartre, Barthes về phe những người đả kích “văn hoá tư bản”, một thực thể không có thật, bởi nghiệm cho cùng, tư bản làm gì có văn hoá? Văn hoá là sản phẩm của con người có ý thức và có tư tưởng; mà còn ép hai ông dùng thứ ngôn ngữ có dụng ý chính trị của những người cộng sản mà hai nhà văn này luôn luôn đả phá.

Triết học hiện sinh và phê bình của Sartre

jean_paul_satre
Jean Paul Sartre (1905-1980)

Khi viên bộ trưởng nội vụ định bắt giam J.P. Sartre vì “tội” xuống đường ủng hộ thanh niên biểu tình chống chiến tranh Algérie, De Gaulle bảo: “Không ai bỏ tù Voltaire”.

Sartre là khuôn mặt mà nhà xã hội học Pháp Pierre Bourdieu gọi là trí thức toàn diện (intellectuel total). Tư tưởng của Sartre đi vào đời sống, ảnh hưởng lên toàn bộ tri thức của người Pháp trong thế kỷ XX như một hiện hữu không thể tách rời. Sartre là người nói: Bên cạnh đứa bé sắp chết đói, cuốn Buồn nôn không có nghĩa lý gì. Đối với dân tộc Pháp, Sartre trở thành lương tâm thời đại. Sartre -với những khúc mắc, những sai lầm, những ngõ quanh lịch sử, những thất bại, những ngộ nhận, những gặp gỡ, và những đấu tranh không ngừng- là nhà văn, nhà tư tưởng trường kỳ đứng về phía những thành phần yếu kém, suốt đời bị đàn áp. Sartre đặt con người trước tự do và trách nhiệm của mình.

Sinh tại Paris ngày 21/6 năm 1905 và mất tại Paris ngày 15/4 năm 1980. Sartre sống gần trọn thế kỷ với Paris, trong lòng đất Pháp. Và con người ấy, chính Sartre chứ không ai khác, đã gánh trọn vẹn ý thức thời đại của người Pháp thế kỷ XX.

Con người tự do và nhân bản, là hai yếu tố chính trong triết học hiện sinh của Sartre. Ý thức về con người tự do và nhân bản xuyên suốt các tác phẩm tiểu thuyết, kịch bản, truyện ngắn, tiểu luận của Sartre, ảnh hưởng lớn đến tầng lớp thanh niên, và cũng là rường mối chính trong trong phê bình văn học của Sartre. Điểm đáng chú ý đầu tiên ở Sartre, là ba lãnh vực triết học, sáng tác và phê bình thường không chia ranh giới. Chúng tôi giới hạn chủ đề trong phê bình của Sartre. Nhưng để tìm hiểu về phê bình của Sartre, có lẽ nên hiểu sơ lược xem chủ nghiã hiện sinh là gì?

Bên cạnh tác phẩm đồ sộ thuần túy triết học L’Être et le Néant – Hữu thể và Hư vô, in năm 1943, trong đó Sartre giãi bày quan niệm nhân sinh của mình (sách dày hơn 700 trang, viết cho độc giả có trình độ triết học), Sartre còn trả lời câu hỏi: chủ nghiã hiện sinh là gì cho một quần chúng bình dân rộng lớn, một cách khái quát và dễ hiểu, ông tuyên bố: “Chủ nghiã hiện sinh là một chủ nghiã nhân bản”. Đó là đầu đề bài diễn thuyết ở Paris ngày 29/10 năm 1945, sau này được in thành sách. Trong bài này Sartre đã tóm lược, và phổ thông hoá triết học hiện sinh, ngay trên đầu đề, bằng một xác định “Chủ nghiã hiện sinh là một chủ nghĩa nhân bản”. Tiếp đó, ông đặt câu hỏi: Thế nào là hiện sinh? Và ông tự trả lời: Rất nhiều người dùng hai chữ này, nhưng khi hỏi nghiã là gì thì họ bối rối không giải thích được, bởi vì bây giờ nó đã trở thành cái mốt, người ta cứ nói phứa nhạc sĩ này, hoạ sĩ kia là hiện sinh. Và nghiệm cho cùng thì hai chữ hiện sinh đã bị kéo toác ra đến nỗi chúng chẳng còn có nghĩa gì nữa (L’existentialisme est un humanisme – Chủ nghĩa hiện sinh là một chủ nghiã nhân bản, nxb Folio Essais, trang 25). Đi thẳng tới đích, Sartre giải thích: Thực sự có hai dòng hiện sinh: dòng đầu, gồm những người có đạo, tôi xếp Jaspers và Gabriel Marcel vào hàng những người có đức tin Thiên chúa giáo và dòng thứ nhì, vô thần, gồm Heidegger và những người hiện sinh vô thần khác trong đó có tôi. Điểm chung của cả hai dòng này là chúng tôi cùng cho rằng hiện hữu (existence) có trước bản chất (essence). (sđd, trang 26)

Vậy: Hiện hữu có trước bản chất là gì? Sartre lấy ví dụ: một quyển sách hay con dao rọc giấy. Khi người thợ quyết định làm một con dao rọc giấy thì trước tiên anh ta phải có cái “khái niệm rọc giấy” trước, rồi anh ta mới nghĩ cách tạo ra nó: phải dùng chất liệu gì, áp dụng kỹ thuật sản suất như thế nào? Tóm lại: con dao rọc giấy phải được cấu tạo như thế nào để cho nó có một công dụng rõ ràng. Và như vậy, ta có thể nói rằng, đối với con dao rọc giấy: bản chất có trước hiện hữu, bởi vì bản chất (tức là toàn bộ từ cách chế tạo lẫn công dụng) của con dao đã được người thợ xác định trước khi làm dao. (Trang 26-27)

Về con người, thì có thể nói rằng trong bất cứ quan niệm hữu thần nào, người ta cũng thừa nhận có một đấng tối cao là con tạo (thợ tối cao) nặn ra con người (như người thợ tạo ra con dao rọc giấy) đúng với “khái niệm người” đã định sẵn theo khuôn mẫu linh thiêng của Thượng Đế. Như thế, con người, trong quan niệm hữu thần, có một “bản chất người” trước khi hiện hữu. Và mỗi người là một mẫu riêng, xây dựng trên khái niệm chung về người, do con tạo thực hiện.

Chủ nghiã hiện sinh vô thần không công nhận có Thượng đế. Vậy ai tạo ra “bản chất” con người? Vì vậy cho nên không thể có chuyện “bản chất”. Nhưng, nếu không có Thượng đế, thì cũng có một hữu thểsự hiện hữu có trước bản chất (l’existence précède l’essence), đó là con người, hoặc nói theo Heidegger: đó là thực tế con người (la réalité humaine). Tóm lại, theo quan niệm hiện sinh vô thần, con người hiện diện trước, có mặt trên thế giới trước, rồi hắn mới tự xác định “bản chất” của mình sau (trang 28-29). Nói cách khác, con người là những gì mà nó sẽ làm nên, hoặc dễ hiểu hơn: Nếu anh chẳng làm gì cả, anh chẳng có một dự trình, dự phóng gì hết, thì anh cũng chẳng là cái gì cả. Đó là nguyên tắc đầu tiên của triết học hiện sinh.

Tóm lại, con người là một projet, tức là một dự phóng, một dự tính, một dự trình. Nếu anh dự tính rằng mình sẽ trở nên một cái gì, thì anh phải có trách nhiệm. Không những trách nhiệm đối với mình mà còn có trách nhiệm với người khác, trách nhiệm với tất cả mọi người (trang 30, 31). Và nếu anh đã biết trách nhiệm của mình, vậy khi anh chọn lựa làm cái này hay cái khác, thì: thứ nhất, anh phải biết rõ cái giá trị mà anh lựa chọn và thứ nhì, anh phải chịu trách nhiệm về cái mình sẽ chọn, cho nên anh không thể chọn làm điều ác. Cái mà anh chọn phải là tốt, và nếu nó đã tốt cho anh thì tất nhiên nó không thể không tốt cho người, cho mọi người (trang 32). Ở đây ta thấy lại quan niệm lương tri trong đạo đức học của Kant.

Ngoài ra, nếu anh đã chấp nhận là không có Thượng đế, tức là không có đấng tối cao, không có mệnh lệnh từ trên soi xuống để dẫn đường dìu dắt, chỉ bảo cho anh, thì anh sẽ không thể dựa vào đâu để van nài xin tha thứ, tìm sự cứu rỗi khi anh phạm lỗi. Đó là cái mà Sartre gọi là “l’homme est condamné à être libre” tức là “con người bị bắt buộc phải tự do” (trang 39): Bị bắt buộc bởi vì con người không tự sinh ra mình, nhưng một khi anh có đó, anh tự quyết định hành động của mình thì anh phải tự gánh trách nhiệm mỗi hành động của anh, anh phải chịu trách nhiệm những khát vọng, đam mê của anh. Anh là kẻ nô lệ của chính anh và anh cũng là tương lai của chính anh. Tóm lại: anh là gì? Anh là chính cuộc đời anh, chứ không phải là cái gì khác. Đó là định nghĩa con người của Sartre trong triết học hiện sinh.

Triết học hiện sinh là một triết học hành động. Nó không để cho con người ù lỳ, cam phận; nó thúc đẩy con người phải hành động. Và trong hành động phải có ý thức: Ý thức tự do và ý thức trách nhiệm. Cả hai ý thức ấy đi đôi trong triết thuyết hiện sinh của Sartre, trở thành ý thức chung của con người thời đại và đã ảnh hưởng lớn đến đời sống tinh thần của thanh niên, trí thức Pháp, thế kỷ XX.

Phê bình của Sartre đặt trên nền móng triết học hiện sinh và hiện diện dưới nhiều dạng thức. Trong tập triết luận L’imaginaire – Vùng tưởng tượng, in năm 1940, Sartre phân tích hiện tượng luận về óc tưởng tượng và hệ quả của nó là vùng tưởng tượng. Tác phẩm trả lời những câu hỏi: hình ảnh là gì? Làm sao tạo được một hình ảnh? giúp ta hiểu rõ thế giới tưởng tượng, nền tảng của văn chương nghệ thuật.

Cuốn Baudelaire, ra đời năm 1947, phân tâm hiện sinh Baudelaire như một thần tượng điển hình cho mẫu người thi sĩ bị nguyền rủa. Tác phẩm bắc cầu giữa triết học và phê bình văn học. Sartre tạo dựng chân dung văn học Baudelaire bằng cách đi từ sự cấu thành nội tâm của nhà thơ, một “nội tâm” tan nát từ nhỏ, từ bi kịch gia đình: đang sống trong tình yêu thần thánh giữa hai mẹ con, coi mẹ như một thần tượng, rồi cha chết lúc 6 tuổi, rồi mẹ đi lấy chồng lúc 7 tuổi, bỏ con vào nội trú. Vết rạn cuộc đời Baudelaire bắt đầu từ đây. Ấn tượng bị bỏ, bị ruồng, tạo nên khối cô đơn không hàn gắn. Cô đơn trở thành định mệnh. Baudelaire tự coi mình khác với mọi người, mình là một Người khác (L’Autre). Baudelaire là kẻ đứng ngoài mình, nhìn vào trong mình như một người khác, Sartre viết:

“Baudelaire cúi xuống chính mình, muốn treo hình ảnh mình trên con sông xám đang thầm lặng trôi, rình những khát vọng và những phẫn nộ của mình để chộp bắt cái nền sâu thẳm, là bản chất của chính mình. Bởi chủ tâm không ngừng nghỉ ấy đối với tính khí của mình, mà anh trở nên Charles Baudelaire của chúng ta. Thái độ tiên thiên ở anh là thái độ của một người cúi xuống. Cúi xuống chính mình như Narcisse[1] . Ở anh, không có cái ý thức tức thời nào mà không bị cái nhìn sắc nhọn đâm thủng.” (Baudelaire, Folio Essais, 1998, trang 23).

Cùng đi từ đời tư tác giả để xác định con người qua tác phẩm, nhưng cách viết của Sartre đã xa lắm đối với lối phê bình tiểu sử thế kỷ XIX, ông đã đạt cốt lõi của vấn đề: mổ xẻ Baudelaire như một hiện tượng, một hiện tượng văn học trong con người, được phanh phui trần trụi từ thể xác đến tâm hồn.

Về mặt thuần túy phê bình, trong bộ tiểu luận 10 cuốn Situations – Tình thế (in từ 1947 đến 1976), có hai cuốn Tình thế III, dành riêng cho phê bình văn học. Tình thế I (1947) viết về 13 tác giả: Faulkner, Dos Passos, Nizan, Mauriac, Nabokov, Giraudoux, Camus, Blanchot, Ponge, Renard, Rougemont, Bataille, và Parain. Hai cuốn Saint Genet, comédien ou martyrThánh Genet, nhà trò hay tuẫn đạo, 1952, và L’Idiot de la famille – Chàng ngốc trong gia đình, 1971, là những chân dung hiện sinh về Jean Genet và Gustave Flaubert. Cuốn tự truyện Les mots- Chữ nghiã, 1964, là một kiệt tác trong thể loại kết hợp sáng tác và phê bình xã hội xuyên qua ngôn ngữ.

Trong Tình thế II (1947) có tập tiểu luận Qu’est-ce que la littératureVăn chương là gì? Sartre trình bày lý thuyết của ông về việc viết và đọc. Chúng tôi lựa chọn giới thiệu lý thuyết văn học của Sartre qua cuốn Văn chương là gì?

© Copyright Thụy Khuê [http://thuykhue.free.fr]
Nguồn: Tác giả gửi

[1] Nhân vật trong huyền thoại Hy lạp, một chàng trai rất đẹp, nhìn và yêu bóng mình phản chiếu dưới nước. Chết vì không thể nắm được hình ảnh tuyệt vời mà anh mê mẩn. Nơi anh chết, mọc lên một đoá hoa mang tên anh.


Mời đọc tiếp: Phê bình văn học thế kỷ XX – Chương 16: Jean Paul Sartre: Qu’est-ce que la littérature – Văn chương là gì?

Đã đóng bình luận.