Buồn vui đời thuyền nhân – Lời nói đầu và chương 1a: Thời điểm 1979

Posted: 17/02/2013 in Hồi Ký, Lâm Hoàng Mạnh

Lâm Hoàng Mạnh
Tặng mợ và các con.

bia_sach_bvdtn-lhm

Lời nói đầu

Hàng năm, cứ đến ngày 17 thánh Hai dương lịch báo chí Việt ngữ trong và ngoài nước nhắc lại cuộc chiến tranh biên giới Việt-Trung, nhưng hầu như người ta quên những nạn nhân của cuộc chiến bẩn thỉu ấy. Trong số những nạn nhân ấy có chúng tôi, trên dưới 1 triệu người Việt gốc Hoa, những người lao động bình thường, định cư nhiều đời, sống rải rác từ 6 tỉnh biên giới Trung-Việt đến các thành phố lớn Hà-nội, Hải phòng, Nam Định, Quảng Ninh… Bắc Việt nam, đã bị tập đoàn Lê Duẩn bài xích xua đuổi, triệt đường sống. Không còn con đường nào khác, chúng tôi phải ra đi, rời bỏ mảnh đất sinh ra, lớn lên, nơi chôn nhau cắt rốn, nơi phần mộ ông bà cha mẹ đã yên nghỉ để làm người tỵ nạn.

Cuộc chiến chấm dứt đã 32 năm có lẻ, hai nước đã bình thường hóa quan hệ từ năm 1992, chủ tịch Trung Hoa, Giang Trạch Dân, đã tặng chính phủ Việt nam 16 chữ vàng: “Láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng đến tương lai”. Hậu quả cuộc chiến tranh bẩn thỉu ấy vẫn còn, tuy nỗi đau thương, khốn khổ, tủi nhục, ê chề đã thành sẹo, trong từng con tim khối óc người Việt gốc Hoa, nạn nhân cuộc chiến, chúng tôi có thể tha thứ nhưng không bao giờ quên, đang định cư rải rác trên toàn thế giới.

Một số bà con tin lời mật ngọt đã về “Trung Hoa Vĩ đại” qua đường biên giới. Tất cả đều được đón tiếp “nồng hậu” bằng cách đưa tuốt về những vùng đồi núi hoang dại, được đối xử thật bình đẳng, cho vào chiếc rổ “Hoa kiều hồi hương”, vàng thau lẫn lộn, không phân biệt kĩ sư, bác sĩ hay giáo viên, họ giao cho mỗi người một chiếc cuốc và những bộ quần áo xanh đồng phục, sống trong một khu, gọi là trang trại, được phong chức “công nhân nông trường” với mức khoán làm nhiều ăn nhiều, làm ít ăn ít, không làm… nghỉ ăn. Sau 32 năm, nhiều gia đình vẫn không được nhập quốc tịch.

Ở Việt nam, người ta gọi chúng tôi là “người Hoa, anh Ba Tầu, chú khách”, có người độc miệng còn gọi “quân Tầu ô.” Hồi hương về Trung quốc, dân bản xứ gọi, “Dzit-nàm nhằn”, thân phận người Việt gốc Hoa đau khổ, ê chề không tổ quốc, không quê hương dưới 16 chữ vàng của hai quốc gia cộng sản “núi liền núi, sông liền sông” như thế đó.

Đa số theo đường biển, số phận tùy thuộc vào may rủi, trong đó có gia đình tôi. Làn sóng người Việt gốc Hoa miền Bắc chạy trốn cộng sản Việt nam theo đường biển tìm chân trời tự do, tuy không bị hải quân cộng sản truy đuổi giết hại trong đó có ông Chu Tử, một nhà văn lẫy lừng của nền văn học Việt nam, không gặp hải tặc, gian nan như bà con miền Nam, nhưng những cơn giông bão cũng đã cướp đi sinh mạng nhiều người vô tội. Gia đình tôi may mắn đã đến được Hương Cảng, cửa ngõ chân trời tự do vào ngày 31-7-1979.

Cảm ơn Người, cảm ơn đời, cảm ơn sự giúp đỡ vô tư của nhân dân và chính phủ Vương quốc Anh, những người thày giáo Anh ngữ và những người bạn Ăng-lê đã cưu mang, giúp đỡ chúng tôi với tấm lòng nhân đạo, hào phóng, vô tư trong những tháng năm đầu tiên của đời tỵ nạn.

Nhân đây xin cảm ơn các bạn Tưởng Năng Tiến, Phùng Tường Vân -cố luật sư Lại Tình Xuyên-, nữ sĩ Phạm thị Hoài, hai bác Uyên Thao và Trần Phong Vũ đã động viên giúp đỡ tôi rất nhiều để hoàn thành cuốn sách.

Lâm Hoàng Mạnh
London, xuân Tân Mão.
17-2-2011 kỷ niệm 32 năm cuộc chiến tranh biên giới Việt Trung.

1. Thời điểm 1979

bvdtn-hinh-1

Đang thiu thiu ngủ, vợ tôi lay lay vai, thì thào:

– Mình ơi, hình như có trộm.

Tôi tỉnh hẳn.

Có tiếng sột soạt rất nhẹ phía sát tường cửa sổ.

Lấy chiếc đèn pin ở đầu giường, ra khỏi màn, tôi bước thật nhẹ bằng đầu ngón chân, đến sát cửa sổ, lắng nghe. Ghé mắt qua khe cửa, cây nhãn sừng sững trong bóng đêm, thỉnh thoảng một làn gió nhẹ lướt qua, xào xạc. Đứng im khá lâu, không thấy tiếng động lạ, vào giường, tôi nói nhỏ:

– Không phải đâu, gió đấy.

Vợ tôi thì thầm:

– Mấy đêm nay rồi, cứ giờ này em nghe thấy tiếng gì lạ lắm.

Đồng hồ điểm 11 giờ đêm, tôi nói nhỏ:

– Thôi ngủ đi, mình có quái gì mà trộm mò vào.

Chuyện ấy xảy ra đã một phần ba thế kỷ, tháng 3-1979, mãi sau này về Việt nam thăm bạn cũ, tôi mới biết nhiều đêm có kẻ rình rập nhà tôi. Không phải trộm, chính các cô cậu y tá, dược tá, hộ lý, kế toán, nhà trẻ… đoàn viên thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh trong bệnh viện, theo chỉ thị của phó bí thư đảng ủy, kiêm phó giám đốc, Nguyễn Đình Mão, đêm đêm thay nhau rình mò chúng tôi xem có đào hầm chôn mìn, chất nổ hay moi vàng bạc của qúy dưới nền nhà hay không.

Năm 2004, chúng tôi về Việt nam sang cát cho bà ngoại các cháu, nhân tiện lên thăm anh em bệnh viện cũ. Đa số đã về hưu, một số đã trở về cát bụi, bác sĩ Đinh Tất Thắng, đồng nghiệp cũ mời chúng tôi bữa cơm mừng tái ngộ sau một phần tư thế kỷ xa cách.

Trong buổi hàn huyên, Thắng cười, kể:

– Anh chị còn nhớ y tá Tiêm không?

– Nhớ chứ. Cô Tiêm, phòng Đón tiếp khu Đa khoa, gần nhà mình chứ gì?

– Phải. Hè 1980, công đoàn tổ chức lợp nhà giúp Tiêm, trong lúc rỡ mái, em nhặt được túi vải buộc kỹ lắm, dấu ở xà ngang. Mọi người tán, “Chết nhá, phen này giàu to.” Ai cũng tưởng quỹ đen dấu chồng, ai ngờ, sổ tay của y tá Tiêm theo dõi gia đình anh chị năm 78, 79. Cuốn sổ ghi, ai đến chơi, ngày giờ, cả biển số xe đạp. Anh chị biết không, có cả biển số xe đạp của em và bác sĩ Đắc, thế có lạ không?

Thắng cười, bảo:

– Hồi anh chị đi Hong Kong, cả bệnh viện đồn ầm, anh là gián điệp nhị trùng của Mỹ-Trung quốc nằm vùng. Cô Tuyển bên nhà trẻ, cô Thoan bên kế toán, cô Lan bên dược kể, nhiều đêm nấp trong bụi chuối sau nhà, rình anh chị bị muỗi đốt quá chừng vẫn phải ngồi im không dám động đậy, sợ lộ.

Y tá Linh, vợ Thắng nhanh miệng:

– Lão Mão ra lệnh đấy. Hồi ấy tụi chúng nó đang đối tượng đảng. Nhờ chuyện này, sau khi anh chị đi, bọn chúng được kết nạp, đi học y sĩ và dược sĩ một loạt.

Vợ tôi hỏi:

– Con Tiêm và mấy đứa bây giờ ở đâu?

Cô Linh cười:

– Tiêm nghỉ mất sức lâu rồi, còn mấy đứa kia cũng nghỉ một cục (1), bỏ cả sinh hoạt đảng chạy chợ, có hai thằng con, đều nghiện.

Vợ tôi bồi thêm:

– Đáng đời quân tay sai. Làm điều bất nhân làm sao khá lên được.

Từ cuối năm 1978, nhiều gia đình người Hoa rục rịch chạy về “tổ quốc vĩ đại”. Bản tin thời sự đài truyền hình Việt nam thường xuyên đưa cảnh người Hoa vùng biên giới Lạng-sơn, Lào-cai, Móng Cái…. hồi hương qua các cửa khẩu. Người gồng kẻ gánh, xe đạp, xe bò chất đầy đồ, tay xách nách mang, nồi niêu xoong chảo, người già trẻ con dắt díu nhau từng đoàn, từng đoàn nhếch nhác, khổ sở chẳng khác cảnh chạy loạn năm 1946 khi toàn quốc kháng chiến. Gia đình tôi rất hoang mang, rối bời, không biết nên về hay nên ở.

Ngày 17-02-1979, Đặng Tiểu Bình “dạy cho Lê Duẩn bài học” bằng cách tổng tấn công chớp nhoáng trên 600 km đường biên giới. Cuộc chiến tranh chấm dứt sau hơn một tháng, hai bên thiệt hại nặng nề nhưng đều tuyên bố chiến thắng to lớn, vang dội! Cửa khẩu vùng biên đóng cửa, trong khi đó trên mọi phương diện truyền thông -báo chí, đài phát thanh, đài truyền hình- toàn quốc công khai tuyên truyền bài xích, xua đuổi bằng cách đưa tin người Việt gốc Hoa làm gián điệp, làm chỉ điểm, làm tay sai giúp quân Trung-quốc tấn công những cơ sở bí mật của Việt nam, để kích động thù hận.

bvdtn-hinh-2

Vùng biên giới, từ cụ già tóc bạc phơ đến các cháu học sinh người Việt, hễ gặp người Hoa đều chửi thẳng vào mặt, “quân Tầu sao chưa cút về nước?” Có người còn bảo “ở lại làm gián điệp hả.”

Sức ép tâm lý vượt qua sức chịu đựng, vì thế nhiều nơi người Hoa ra đi trắng cả một vùng như đảo Trà Cổ, thị xã Móng Cái không một bóng người.

bvdtn-hinh-3

bvdtn-hinh-4

bvdtn-hinh-5

bvdtn-hinh-6

Từ tháng 4-1979 chính quyền Hà-nội, Hải-phòng và những tỉnh đông người Hoa họ trưng bày triển lãm: “Quân và Dân Ta Đánh Thắng Bọn Bành Trướng Bá Quyền Trung Quốc Xâm Lược”.

Triển lãm treo rất nhiều ảnh người Việt gốc Hoa làm gián điệp. Chuyện người Việt gốc Hoa làm gián điệp có hay không? Thật hư ra sao? Xin trả lời Có và cũng có thể Không (đúng) như những gì các phương tiện truyền thông trong và ngoài nước đã đưa tin.

Trong những ngày tháng khốn khổ, khốn nạn tìm thuyền vượt biển, vô tình tôi đã gặp “hai tên gián điệp người Việt gốc Hoa” từng bị tập đoàn Lê Duẩn dán ảnh truy nã toàn quốc.

Sự thật về hai “tên gián điệp” này như sau:

Tên gián điệp thứ nhất:

Voòng Tắc Quay -Vương Đức Quý-, là một thanh niên khoảng 25 tuổi khi tôi gặp vào đầu tháng 5-1979. Nếu còn sống anh lúc này cũng gần 60 tuổi.

Anh ta và tôi đã đóng tiền thuyền cho lão Ké chủ thuyền. Tôi chẳng biết tên thật của lão ta, chỉ nhớ nhà lão ở trong một ngõ nhỏ, khu An Dương, Hải Phòng, đã từng sống ở Lạng Sơn theo như lão ta khoe.

Tôi và anh ta khá thân nhau vì cùng cảnh ngộ vả lại sắp cùng thuyền.

Vương Đức Quý it nói, vẻ mặt lúc nào cũng buồn, như tất cả chúng tôi, vui làm sao nổi khi sắp phải lênh đênh trên biển, sống chết cách nhau có sợi tóc. Một buổi tối, sau khi đi họp tại nhà lão Ké định ngày xuất phát, đi qua Nhà Triển lãm ngay gần bờ Sông Lấp – tôi quên tên phố-, tôi rủ anh ta vào xem triển lãm. Khi đến phòng trưng bày tội ác có rất nhiều ảnh người Việt gốc Hoa làm gián điệp trong đó có ảnh Vương Đức Quý khổ 24×30 đen trắng to tướng treo trên tường. May quá, tối hôm ấy vắng khách, tôi vội kéo anh ta ra ngoài, nói nhỏ:

– Đi mau, họ đang treo ảnh bắt cậu.

Mặt anh ta cắt không còn hột máu, lắp bắp:

– Anh cũng định bắt em?

– Cái thằng, tao bắt mày để lĩnh thưởng à? Sao nghĩ về anh xấu thế!

Ngồi xuống ghế đá trong bóng tối, anh ta kể cho tôi câu chuyện “làm gián điệp” mà tôi tin, đến cả hôm nay, là thật.

Gia đình Voòng Tắc Quay ở Lạng Sơn. Trong lúc cơm sôi lửa bỏng -quân Trung Quốc chuẩn bị tấn công- thì vợ Quay sắp đến ngày chuyển dạ. Vợ chồng anh và cha mẹ hai bên gồng gánh lôi thôi lếch thếch chạy về “ông nội” như hàng ngàn người Hoa vùng biên giới. Đang chạy loạn thì vợ Tắc Quay đẻ! Tắc Quay đưa vợ vào hang đá gần đó, hy vọng vài ngày nữa sẽ đi tiếp. Gia đình hai bên đành phải chia tay, hẹn nhau ở địa chỉ một nhà đã hồi hương mấy tháng trước.

Số phận thật khốn nạn, ngay tối hôm sau chiến sự xảy ra. Cơm nắm, muối vừng sau 3 ngày thì hết nhẵn, vợ đói, con khát sữa, Tắc Quay liều mạng quay về nhà cũ kiếm xem có gì để nuôi vợ đẻ.

Đang lục soát, mò mẫm bị dân quân tóm, trói giật cánh khuỷu như trói khỉ, điệu về bộ chỉ huy tiền phương của “Quân đội Nhân dân Việt Nam anh hùng.”

Khai gì thì khai, nói gì thì nói, họ không tin, không nghe, tống ngay Voòng Tắc Quay lên xe thùng bịt kín đưa về xuôi với quy kết “gián điệp người Việt gốc Hoa làm do thám!” Tội này nhẹ cũng mọt gông, nặng dựa cột! Nói láo, bom đạn khét mù, đẻ đái gì lúc này! Gián điệp nỏ mồm, nhất là thằng này, tiếng Tàu tiếng Việt nói ào ào! Thằng này nằm vùng lâu năm, nay mới bị bắt quả tang. Thế là Voòng Tắc Quay thành gián điệp Trung Quốc nằm vùng 100%!

Đáng đời “thằng Tàu phù”, nhiều người Việt chửi thẳng vào mặt Tắc Quay khi bị giải đi!

Chiến sự lan rộng, nơi giam Tắc Quay có nguy cơ bị tấn công. Trong lúc nhộn nhạo, Tắc Quay và hai, ba người cùng cảnh đã đào tẩu, chuồn một mạch, vừa đi bộ vừa chạy và ăn cắp áo quần dân địa phương để thay đổi hình dạng đến Thái Nguyên. Chả biết trời xui đất khiến thế nào anh ta gặp ông Mềnh –Minh- ở ngay giữa chợ, bạn cũ của gia đình ở Thái Nguyên, cũng đang chuẩn bị chuồn khỏi Việt Nam, đã giúp Quay xuống Hải Phòng tìm lão Ké. Lão Ké cho nợ tiền thuyền, nhưng với điều kiện ra nước ngoài phải trả lại cả lãi gấp đôi. Quay gật đầu lia lịa và cảm ơn rối rít, trở thành tên đầu sai cho lão, không công ngoài hai bữa cơm chính. Tôi hỏi:

– Sau đó có gặp lại vợ con không?

– Em chẳng biết tin gì.

Nói xong, Quay khóc nức nở như đứa con nít.

Tôi không biết Voòng Tắc Quay còn sống hay đã là người thiên cổ trong bụng cá ở biển Đông, bởi sau khi phát hiện lão Ké ma cô, mua 3 chiếc thuyền để đưa người đi như đi du lịch, tôi rút lại tiền đi tìm thuyền khác. Chúng tôi chia tay nhau. Từ đó không gặp lại. Những ngày ở Kho Đen, tôi ngóng tìm Tắc Quay mà không thấy. Tôi tự hứa với lương tâm, nếu có dịp tôi sẽ đưa chuyện này ra ánh sáng để thanh minh cho những nỗi oan trái của các người đồng hương thấp cổ bé họng, bị cả Việt Nam và Trung Quốc dùng làm con tốt đen trong cuộc chiến bẩn thỉu, khốn nạn, đê tiện.

Tên gián điệp thứ 2:

Người nay tên là Lý A Sáng -Lý A Sinh. Tôi gặp anh ngay tại bờ biển Bắc Hải khi thuyền chúng tôi hỏng phải ghé sửa. A Sáng có nước da khá sạm, đôi mắt sáng, nhanh nhẹn. Tôi đang ngồi trong chiếc lán bằng 3 mảnh áo mưa ghép lại thì anh ta mạnh dạn đến hỏi tôi có bán chiếc mũ cối không. Buồn ngủ lại gặp chiếu manh, tôi vội hỏi:

– Cậu không đùa đấy chứ?

– Em đâu dám đùa.

– Tớ hỏi thật, tại sao cậu lại định mua chiếc mũ cối cà tàng của tớ?

Kéo tôi ra bờ biển, cậu ta thì thầm:

– Em mới trốn từ nông trường ra đây, nay muốn sang Hong Kong, nhưng chẳng còn giấy tờ gì của Việt Nam.

Tôi cười:

– Tớ thì hơn gì cậu.

Khuôn mặt cậu ta đau khổ:

– Nhưng anh còn rất nhiều thứ mang từ Việt Nam. Nghe nhiều người bảo, a-sề (cảnh sát) Hong Kong sẽ đuổi về nếu biết ai đi từ Tài-loọc (Đại lục). Anh bán cho em đi, cả chiếc va-li cũ nữa.

– Nói thật, tớ cũng đang cần tiền mua đồ ăn cho các cháu. Cậu hỏi, tớ bán tất, kể cả chiếc áo len. Thế cậu trả bao nhiêu?

– Anh tính bao nhiêu?

– Tùy cậu, chỉ biết là gần hai tuần thuyền tớ sửa ở đây, chủ thuyền chỉ phát gạo còn thức ăn phải tự túc.

Cậu ta đưa tôi 5 Tệ để đổi lấy chiếc mũ cối cà tàng, chiếc va-li cũ rích và chiếc áo len đã thủng vài lỗ. Nhờ số tiền ấy các con tôi đã có những bữa cơm có thêm tôm, cá với gạo mọt mua chui từ Việt Nam mà chủ thuyền phát. Cuộc buôn bán chóng vánh đã đưa chúng tôi gần nhau. Cậu ta kể:

– Gia đình em làm nghề buôn thuốc Bắc từ Vân Nam về Việt Nam, khi “rục rịch”, gia đình “té” liền ngay cuối 78. Qua Trung Quốc chúng em được đối xử tốt lắm. Ăn nghỉ tại khách sạn. Anh nghĩ, tuy là dân buôn lậu nhưng có bao giờ được ăn ngủ ở khách sạn đâu. Hàng ngày có cán bộ của tỉnh đến hỏi chuyện, ông ấy biết tiếng Việt còn thạo hơn em, (A Sáng nói còn trọ trẹ, kiểu như “đồng bào” thành “tồng pào”, “tờ báo” thành “tờ páo.”) Em khai tất tần tật, có gì khai nấy kể cả chuyên theo a-pá (cha) và pằng-dẩu (bạn) đi buôn thuốc Bắc lậu. Cán bộ ấy vui lắm chứ không bắt bẻ và chẳng bao giờ hỏi tại sao. Sau 3 tuần, em được họ đưa đi bằng xe com-măng-ca đít tròn (2) đưa đến một cơ quan trong thành phố. Em được chiêu đãi cơm rất thịnh soạn.

Cậu ta nuốt nước miếng, nói tiếp:

– Có đến bẩy, tám món. Em được hút ba con 5, uống trà ô-long… Sau khi nghỉ ngơi, tắm rửa xong em được 3 cán bộ mặc quần áo kiểu Tôn Trung Sơn (thuộc loại cốp to) gặp gỡ thân mật và nói: “Đồng chí Đặng Tiểu Bình và các cán bộ cao cấp khác rất hoan nghênh những Hoa kiều yêu nước đã hồi hương và mong các đồng chí đóng góp sức nhỏ bé của mình cho quê hương đất nước.” Anh cán bộ ngồi giữa bảo, từ ngày mai em sẽ về ở trong khu mới, còn vợ con em vẫn ở khách sạn. Em được đưa về khách sạn, hôm sau từ biệt vợ con, em lên xe theo họ. Đến đấy, họ bắt em tập trườn, lăn, bò, toài, tập võ, đâm lê, đánh kiếm, tập bắn súng. Em biết thế là đời em tiêu rồi! Nhưng vợ và 2 đứa con em đang bị làm con tin ở khách sạn. Sau 4 tuần tập luyện, em gặp 10 đồng hương cùng tuổi ở các tỉnh biên giới và em được chỉ định làm đội trưởng. Trước khi chiến sự xảy ra, em đã phải đưa một tổ thám báo theo đường buôn lậu, con đường mà em thuộc như lòng bàn tay xâm nhập Việt Nam nhiều lần. Chiến sự bùng nổ, tất cả tiểu đội em giải tán, mỗi người về một đơn vị trong đoàn quân Trung Quốc.

Tôi hỏi:

– Cậu có tham chiến không?

– Có chứ, dẫn đường, đánh nhau, phiên dịch… làm đủ cả.

Im lặng, rút bao thuốc Đại Tiền Môn, cậu ta rít một hơi dài.

– Chán lắm anh ạ, em là gián điệp bất đắc dĩ. Em biết em đã ăn cơm gạo, uống nước của Việt Nam, nay lại đưa quân Trung Quốc về bắn giết bà con mình. Em đúng là con chó!

Rồi cậu ta chém bàn tay vào không khí, nói to:

– Không, không bằng con chó!

Tôi hỏi:

– Thế làm sao mà cậu chuồn được?

– Dài dòng lắm anh ơi! Chiến tranh kết thúc, gia đình em họ cho chuyển về nông trường chè. Cả họ mạc hai bên góp tiền để em trốn đi, lấy cớ mua nông cụ cho nông trường. Thôi, miễn là hôm nay em ra được Pắc-hổi (Bắc Hải) này và đã đóng tiền thuyền, mai thuyền em nhổ neo. Anh đừng có nói với ai. Zdit-nàm-nhằn mà biết, họ “trảm-cô-thầu” (chặt đầu) em đấy.

Tôi hứa và đã giữ kín chuyện này hơn 30 năm.

Lý A Sáng, anh ở đâu trên trái đất này?

Xin thông cảm cho tôi đã không giữ trọn lời hứa, vì cộng đồng Minh Hương chúng ta mà tôi đã thất hứa. Anh hãy coi đây là lời tạ lỗi!

Hôm nay vì lợi ích của tất cả cộng đồng người Việt gốc Hoa ở trong và ngoài nước, tôi buộc phải viết ra để mọi người hiểu: Tắc Quay, A Sáng và những người như anh đã bị dính giữa hai làn đạn của cuộc chiến tranh bẩn thỉu giữa hai đồng chí cộng sản, để bà con người Việt thông cảm và tha thứ lỗi lầm của những người đó.

Mời đọc tiếp: Chương [1b]

Lâm Hoàng Mạnh
Nguồn: Tác giả gửi hồi ký và hình ảnh

(1) Từ năm 1982, kinh tế Việt nam bên bờ vực sụp đổ, chính phủ giảm biên chế, người nghỉ việc được trợ cấp 1 lần, tính theo thâm niên, mỗi năm được lĩnh 1/ 2 tháng lương Lĩnh một lần, quen gọi “về một cục (tiền)”.

(2) Thời ấy Trung quốc có hai loại xe hơi dành cho cán bộ cấp tỉnh, đít tròn và đít vuông. Com-măng-ca đít tròn sang hơn, dành cho cán bộ cáo cấp hơn.

Đã đóng bình luận.