Ngậm ngùi

Posted: 02/03/2013 in Phạm Khắc Trung, Tùy Bút / Tản Mạn / Ký Sự

Phạm Khắc Trung

thieu_nu_uot_mua

Phạm Thị Mai và Ngô Văn Quỳnh cùng học chung lớp 12B2 với tôi. Dạo đó Quỳnh và Mai chịu đèn nhau ra mặt, nhưng cả hai người cùng rụt rè thụt tới thụt lui thấy phát nực gà. Một hôm tôi kéo Quỳnh đến chỗ Mai ngồi bảo, “Mày làm như tao xem có chết thằng Tây nào không?” Rồi tôi khều vai Mai, nheo mắt cười đểu hỏi, “Ch..i..ị..u… hông?” Quỳnh cười gượng gạo làm rung rinh mấy cọng lông măng trên mép, mặt đỏ như mặt gà trọi. Còn Mai lại bẽn lẽn cúi mặt chúm chím cười, chẳng nói chẳng rằng, Mai chỉ quăng cho tôi vài tia lửa xẹt ra từ khóe mắt. Chưa khi nào tôi thấy Mai hạch họe hay trách móc người khác. Hiền như vậy mà ngồi bán hàng trong chợ Dân Sinh đấy, tôi đã ra sập ngồi nói chuyện với Mai vài lần. Có lần tôi thắc mắc, “Nếu gặp người khách oái oăm Mai sẽ làm gì, chắc chỉ biết khóc thôi?” Mai cười khúc khích thách thức tôi, “Trung thử làm khách oái oăm coi, biết liền à!” Nghe đâu Mai cũng đang định cư bên Mỹ, hy vọng Mai đọc bài này sẽ tìm cách liên lạc với tôi. Đừng tưởng thời gian sẽ làm nhạt nhòa ký ức trong tôi? Không có đâu, tôi vẫn nhớ từng người bạn học, kỷ niệm xưa tôi vẫn ghi khắc trong lòng!

Ngày ấy Quỳnh đàn thật hay và có giọng ca thật ấm, rất quyến rũ. Tướng Quỳnh lại cao ráo, mặt xương, da trắng, môi hồng… Đúng là ông Trời ban cho Quỳnh cái tài năng và vóc dáng của người nghệ sĩ để cua đào. Các cô gái nhìn Quỳnh mê mệt, chỉ mong Quỳnh ngó tới là độp liền, thế nhưng Quỳnh lại dở ẹc, ngồi đâu Quỳnh cũng ôm cây đàn miệng hát nghêu ngao bản nhạc Phạm Duy phổ thơ Nguyễn Tất Nhiên, “…Người từ trăm năm về qua trường Luật / người từ trăm năm về qua trường Luật / ta hỏng Tú Tài ta hụt tình yêu / thi hỏng mất rồi ta đợi ngày đi / đau lòng ta muốn khóc / đau lòng ta muốn khóc…

Tôi hay cự nự giỡn với Quỳnh, một lần tôi nạt, “Mẹ kiếp! Năm thi mà ngồi đâu cũng lải nhải ‘Ta hỏng Tú Tài ta hụt tình yêu!‘ Mày muốn khóc không ông cho mày khóc?”

Quỳnh phì cười, “Mẹ! Thằng trông bặm trợn thế mà lại dị đoan!”

Tôi cãi, “Tao không có dị đoan, tao chỉ muốn nghe bản nào hùng tráng một chút thôi. Nghe những bản ủy mị mãi chán lỗ ráy lắm!”

Quỳnh nhíu mắt nhìn tôi hỏi, “Hùng tráng thế nào?”

Tôi nguýt Quỳnh, “Ít ra cũng phải như…” Rồi vênh váo lên giọng hát: “Cờ bay. Cờ bay oai hùng trên thành phố thân yêu, vừa chiếm lại đêm qua bằng máu!

Quỳnh gục mặt cười rũ rượi. Biết tôi ghẹo nên Quỳnh quyệt nước mắt chửi, “Thằng! Đéo biết thưởng thức âm nhạc mà đòi bày đặt đưa ý kiến ý cò!”

Tôi gân cổ cãi, “Sao lại không biết? Chứ tao đã chẳng phân biệt bản nào hùng tráng, bản nào ủy mị đó là gì?”

Quỳnh cười ruồi rồi lại cúi xuống tiếp tục đàn hát, làm như chưa từng có chuyện cãi vã với tôi. Quỳnh đúng là người nghệ sĩ, không bao giờ Quỳnh cãi lý tới cùng. Nhưng chắc trong bụng Quỳnh cũng muốn chìu ý cho tôi vui, mấy hôm sau Quỳnh đổi tông, quay qua ca bản Ngậm Ngùi vì biết tôi thích. Tôi tán, “Bản này Phạm Duy phổ y chang lời thơ của Huy Cận. Mỗi lần nghe bài này sao tao thấy ray rứt thế nào ấy”.

Quỳnh ngưng đàn ngước nhìn tôi bảo, “Mấy tay giỏi toán thường khô khan bỏ mẹ. Tao thấy mày cũng lạ, đã giỏi toán lại giỏi cả văn chương”.

Tôi lên mặt, “Học toán là học cái hệ thống lý luận chứ không phải học những con số. Mày không thấy những nhà toán học cũng là những triết gia đó sao?”

Quỳnh buông cây đàn dựa vào vách, rồi quay qua tôi hỏi, “Đâu mày kể những ray rứt của mày nghe xem thế nào?”

Tôi ba hoa, “Này nhé, khi mặt trời rọi xiên, cái bóng của mái nhà chia sân thành hai nửa, một bên râm và một bên nắng. Khi bên râm thụt dần lại là lúc mặt trời lên, khi bên râm lan dần ra là hình ảnh buổi chiều tà. Câu ‘Nắng chia nửa bãi; chiều rồi…‘ là Huy Cận gợi lên hình ảnh lan tỏa của bóng tối, trong khoảnh khắc tranh tối tranh sáng lúc chiều buông. Là lúc mà mặt trời sắp khuất nơi cuối trời, là lúc cây trinh nữ khép kín đôi lá lại để ngủ vùi, một hình ảnh của sự cô đơn trống vắng: ‘Vườn hoang trinh nữ xếp đôi lá rầu.’ Cây trinh nữ là loài cây hoang, cây dại, có gai đâm rất đau, hễ bị đụng vào, cây trinh nữ tự động khép lá lại, bẽn lẽn như đứa con gái bị trêu, nên còn được gọi là cây ‘mắc cỡ’. Hai câu trên Huy Cận chỉ rõ sự cô liêu, hoang vắng của buổi chiều.

Cái hình ảnh mông lung và hoang vắng của buổi chiều thường làm hồn người giao động; lòng bâng khuâng với nỗi buồn diều vợi, xa xăm; nỗi nhớ mong manh, ray rứt như sợi tơ nhưng dài vô tận, nó quyện thành tấm lưới vây bắt con mồi lạc lõng: ‘Sợi buồn con nhện giăng mau‘.

Nhìn khói lam chiều xa xa, lòng người lữ thứ bùi ngùi ao ước một mái nhà: ‘Em ơi! Hãy ngủ… anh hầu quạt đây‘. Nơi đấy, có ‘lòng anh mở với quạt này‘, có ‘trăm con chim mộng về bay đầu giường‘, có ‘tiếng thùy dương mấy bờ‘ ru em ngủ, cho em ngủ ngon, êm giấc ‘mộng bình thường‘…

Say đắm trong giấc mộng, để chiếc bóng mình bất động như bóng cây dài lê thê in trên mặt đất: ‘cây dài bóng xế ngẩn ngơ‘. Nhưng thực tế đau thương lại kéo người lữ thứ về với thực tại: ‘Hồn em đã chín mấy mùa thương đau?‘ Tao có cảm tưởng rằng, chữ ‘Em’ Huy Cận dùng ở đây ám chỉ ‘Mẹ Việt Nam’ yêu dấu, cõi lòng đang quằn quại đau thương, khi nhìn đàn con yêu của mẹ đang rên xiết trong thống khổ miệt mài…

Hai câu chót, ‘Tay anh em hãy tựa đầu / Cho anh nghe nặng trái sầu rụng rơi…‘, nói lên nỗi lòng ngậm ngùi sầu tủi của người trai thế hệ, vẫn ngụp chìm trong đêm tối, chưa tìm ra lối để đưa mẹ Việt Nam thoát ra khỏi chốn lầm than, tủi nhục!”

Yên lặng một lúc, Quỳnh lên tiếng, “Có lý lắm! Tao vẫn thích những ý nghĩ khùng điên của mày!”

Một hôm cuối tuần Quỳnh ghé thăm người chị ở cư xá Ngân Hàng dưới Bà Quẹo. Gặp được bộ “Lộc Đỉnh Ký” của Kim Dung có sẵn trong nhà, Quỳnh say mê ở lại đọc cho bằng hết. Hôm sau đi học, Quỳnh đập mạnh vào vai tôi trách, “Mày cứ luôn khen truyện Kim Dung miết. Hôm qua tao đọc bộ Lộc Đỉnh Ký, thấy ông viết có điều phi lý hết sức!” Thấy tôi đứng yên mím môi nhíu mắt nhìn ra điều thắc mắc, Quỳnh giải thích, “Kim Dung cho nhân vật Vi Tiểu Bảo là đứa trẻ vô lại, không có học hành, là con rơi con rớt của mụ ả đào không biết cha là ai. Vi Tiểu Bảo lê la đầu đường xó chợ, nghe mấy ông đồ kể truyện nên nhớ lõm bõm mà thích nói chữ, đúng không? Nhưng trong câu, ‘Nhất ngôn ký xuất… cái gì… mã năng truy‘ mà Tiểu Bảo ưa dùng, chính 2 chữ ‘ký xuất‘ và ‘năng truy‘ mới khó nhớ thì Tiểu Bảo lại không quên, trong khi chữ ‘tứ‘ có gì khó đâu mà Tiểu Bảo lại không nhớ. Mày thấy có phi lý không?”

Tôi từng nghe mấy ông anh kháo nhau về đề tài này nên lọt tủ, bèn cười ha hả vỗ vai trộ Quỳnh, “Đó mới là chỗ dụng tâm sâu xa của Kim Dung đấy! Mày nghĩ xem ‘cái gì… mã‘ là cái gì? Khà khà! Kim Dung nhìn thấy sự dối trá trong hàng ngũ lãnh đạo cộng sản Trung Hoa. Ông thấy nước Trung cộng xuống cấp về mọi mặt, nhất là mặt đạo đức sa sút một cách trầm trọng, những mẫu mực ngày trước không còn. Cái chữ Tín mà người Tàu ca ngợi là một trong những đức tính cao quý của người Quân Tử, làm gì tìm được trong hàng ngũ cộng sản tiểu nhân? Kim Dung cho nhân vật Vi Tiểu Bảo, một kẻ cùng đinh hạ cấp nhất trong xã hội, một đứa đá cá lăn dưa, cả đời chỉ biết dối trá lọc lừa, cờ gian bạc lận, hành vi lại bỉ ổi, vô liêm sỉ…, nhưng nhờ may mắn nên gạt hái được thành công, bởi thế mới trở nên ngông cuồng và tàn ác, bởi những mặc cảm thua thiệt luôn chất chứa trong lòng. Vi Tiểu Bảo chính là hiện thân của bọn cộng sản vô thần không nhân tính, là vua lật lọng và đểu cáng… Cho nên câu ‘Nhất ngôn ký xuất, tứ mã năng truy‘ của người xưa, qua miệng Vi Tiểu Bảo thành, ‘Nhất ngôn ký xuất, c… mã năng truy‘ thôi!”

Quỳnh nghe ra khoái chí, dơ hai tay đập mạnh xuống lan can, giẫy người lên cười hô hố, “Mẹ! Phải đểu như mày mới hiểu được cái đểu của người khác!”

Nghe Quỳnh khen, tôi nở mũi bồi thêm, “Kim Dung nhìn rõ bộ mặt thật của cộng sản như đồ vật trong bàn tay. Ông cho Vi Tiểu Bảo làm bạn với Khang Hy, là Hoàng Đế Mãn Thanh; đồng thời là học trò Trần Cận Nam, Tổng Đà Chủ Thiên Địa Hội, một tổ chức Phản Thanh Phục Minh đang bị triều đình truy quét. Tất nhiên ông muốn kết luận rằng, cộng sản là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa cặn bã của nền phong kiến ngoại lai lạc hậu và tổ chức khủng bố phản loạn”.

Phân vân hồi lâu Quỳnh mới ngập ngừng hỏi, “Vậy rốt cuộc rồi cộng sản đi đến đâu?”

Tôi cười buồn, “Rốt cuộc thì cộng sản cũng đến như Vi Tiểu Bảo thôi, nghĩa là nó sẽ gom góp tiền bạc đã cướp bóc được, dẫn bầy đoàn thê tử trốn tiệt!”

Một trong những ông anh chú bác của tôi lúc đó đang học Cao Học Luật. Anh bị tật từ nhỏ, hai chân teo tóp không phát triển, nên anh đi khệnh khạng theo lối “chấm phết” rất khó khăn. Năm đó có lệnh Tổng Động Viên, anh đến Trung Tâm 3 Tuyển Mộ & Nhập Ngũ trình diện, được chuyển qua trại Nguyễn Tri Phương dưới Quang Trung, chờ cứu xét ra Hội Đồng miễn dịch. Tôi ghẹo anh, “Sao lại cho anh miễn dịch? Đáng lẽ phải cho anh gia nhập binh chủng Thiết Giáp mới đúng, bảo đảm anh sẽ cố thủ, giữ chiếc xe tăng tới cùng!” Anh vừa cười vừa chửi, “Tiên sư cha thằng xỏ lá!” Trong trại anh quen một thi sĩ làm thơ tục rất hay và thường mang ra đọc. Tôi chỉ lưu ý nhớ bài thơ có sợi lông măng chờ dịp ghẹo Quỳnh.

Y như rằng, mấy hôm sau gặp nghe Quỳnh cất tiếng hát, “Thà như giọt mưa vỡ trên mặt Duyên / thà như giọt mưa khô trên mặt Duyên / để ta nghe thoáng tiếng mưa vội đến / những giọt run run ướt ngọn lông măng / những giọt run run ướt ngọn lông măng / khiến người trăm năm đau khổ ăn năn / khiến người tên Duyên đau khổ muôn niên“.

Tôi hỏi Quỳnh, “Mày biết tại sao Duyên đau khổ ăn năn, đau khổ muôn niên không?” Quỳnh lưỡng lự rồi trơ mắt ếch nhìn tôi lắc đầu, tôi nghiêm nghị bảo, “Tại Duyên từ chối không cho Nguyễn Tất Nhiên xin sợi lông măng nên nhà thơ khùng!” Quỳnh cười hỏi, “Mẹ! Lại bố láo gì đây?” Tôi trả lời, “Duyên từ chối vì nhà thơ xin rằng: Cho anh một sợi lông măng / anh cất để lấy xỉa răng khi buồn.” Quỳnh gật gù cười híp con mắt, “Mẹ cha thằng phịa!”

Lúc có kết quả khóa 1 Tú Tài 2 xong, Quỳnh chạy ngay xuống nhà tôi gom ôm một số sách và tập tôi ghi chép đem về nhà gạo. Rồi từ đó Quỳnh bặt tăm không tin tức, đến lúc “đứt phim” cũng chẳng ai biết tin tức về Quỳnh. Chẳng biết bây giờ Quỳnh làm gì và lưu lạc ở đâu trên cõi đời ô trọc này? Không biết rằng Mai có biết chút gì về tin tức của Quỳnh không?

Phạm Khắc Trung
Nguồn: Tác giả gửi

Đã đóng bình luận.