Buồn vui đời thuyền nhân – Chương 15: Một diệu kế không vui

Posted: 16/04/2013 in Hồi Ký, Lâm Hoàng Mạnh

Lâm Hoàng Mạnh
Tặng mợ và các con.

Đã đăng: Chương [Lời nói đầu, 1a], [ 1b], [ 1c], [2], [3a], [3b], [4], [5], [6], [7], [8], [9], [10], [11], [12], [13], [14], [15]

bia_sach_bvdtn-lhm

Quận Croydon tỵ nạn Việt Nam ít, ở rải rác. Tôi lính mới nhập cư, chưa quen thông thổ, phải dành nhiều thời gian tìm hiểu.

Ngày nào cũng vậy, làm về chỉ ngủ 5 tiếng, tôi và chú Thịnh đi vào Job Centre tìm việc làm mới, gặp gỡ người quen, tìm hiểu đời sống, cách kiếm tiền của người Việt.

Chợ trời Brixton có quầy bán đồ điện tử, giày dép, hàng trang sức rẻ tiền của người Việt. Chợ trời Deptford, Catford, East Street (Camberwell Green) cũng có quầy bán đồ điện tử, giày, y chang chợ Brixton.

Sau nhiều năm cần cù kiếm sống, nay họ đã trở thành những ông chủ cửa hàng quần áo, chuỗi nhà hàng đồ khô, tiệm Nails… giàu có.

Một số làm trong xưởng may, đưa hàng, là (ủi) đồ, đóng khuy, vắt sổ, từ thân phận làm thuê, làm nhiều ăn ít, ky cóp, mở xưởng may. Năm 1987 trở đi, số lượng xưởng may do người Việt làm chủ bùng nổ ở Hackney, tới trăm xưởng. Từ năm 1993, nghề may London suy giảm, một số chuyển sang mở nhà hàng, tiểu siêu thị. Năm 1994 chính phủ Việt Nam mở cửa, có người nắm bắt được cơ hội, đem tiền về đầu tư mở xưởng may, liên kết với thân nhân buôn bán bất động sản, phất lên như diều.

Cô chú Thịnh có bạn từ thời ở Hà Nội, nay định cư ở Woolwich, may gia công tại nhà, vợ tôi theo cô Linh đến xem và học cách may. Nhà tôi bảo, máy to lắm, chạy điện, mô-tơ to đùng, hơn bắp chân, khác chiếc Singer đạp chân. Chỉ khẽ ấn vào bàn đạp, động cơ rít lên, vải dưới chân vịt chạy như điên. Muốn nâng chân vịt, ngay sát đầu gối có cần, gạt nhẹ, chân vịt nâng lên nâng xuống dễ dàng. Bạn cô Linh may giỏi lắm, không biết bao giờ mới may được như thế.

Cô Linh bảo, chị còn biết may sơ sơ từ hồi ở Việt Nam, chứ em chưa may vá mới khó chứ.

Quả thật vợ tôi đã biết may chút đỉnh. Từ năm 1977, đời sống ở miền Bắc mỗi ngày một tồi tệ, lương không tăng, giá cả các mặt hàng tiêu dùng tăng chóng mặt. Nghèo lại càng nghèo thêm. Thịt lợn theo giá tem phiếu 2 đồng 7/kg nhưng phải mua chợ đen 22 đồng/kg. Gạo mua chui 20 đồng/10 kg, trong khi giá quy theo sổ có 4 đồng/10 kg. Đời sống siêu điêu, ai cũng tìm nghề phụ, kiếm thêm bằng mồ hôi và sức lao động của chính mình. Chúng tôi thời ấy vẫn còn giữ được y đức, chưa có 1001 kiểu trấn lột, móc túi bệnh nhân một cách trơ trẽn, khốn nạn như ngày nay.

Thị xã tỉnh tôi thời ấy có 4 nghề kiếm tiền:

1. Vào rừng chặt gỗ, bương, nứa, cây chit (làm chổi quét), kiếm củi…

2. Trồng rau, nuôi lợn.

3. Đan cót.

4. Cạo nứa.

Chủ Nhật, đàn ông, thanh niên vào rừng như chảy hội. Đàn bà ở nhà lột cật nứa, bện chổi chit. Trẻ con đan cót. Ngày thường, hết giờ làm việc, cơm xong cả nhà làm cật lực cho đến khuya. Bốn nghề thật vất vả, nhưng vào rừng chặt gỗ, cạo tinh nứa, theo tôi, khốn khổ nhất.

Nứa tươi loại bánh tẻ, không non cũng không già, đặt nằm trên hàng cọc. Dao thật sắc, cạo hết tinh, sau đó cưa từng dóng, chẻ đều 5 phân, phơ khô. Chẻ không đều, bị loại, hoặc xuống loại 2. Cửa hàng ngoại thương thu mua theo ki-lô, xuất sang Nhật. Nhật mua về làm gì, chịu, chẳng ai biết và cũng khỏi cần biết. Tiếng dao cạo vào tinh nứa, két két, ghê tai, sợ lắm, răng như muốn rụng. Đàn ông phải khỏe, dai sức mới làm nổi nghề này. Người ngả về phía trước, hai tay cầm lưỡi dao nghiêng 35-40 độ, kéo cật lực về phía sau, tinh nứa mới bong ra từng phoi xanh xanh cuộn tròn rơi xuống đất. Giống hệt anh thợ bào gỗ. Mùa hè, may-ô quần đùi, “của quý” trong quần cứ lắc lư, lên xuống, ngang dọc theo nhịp kéo dao. Một anh bác sĩ, gia đình ở quê Thái-bình, lương gửi về nuôi vợ con, cũng tham gia hội cạo nứa. Trông thấy anh cạo, có người đùa, phong chức trưởng khoa “Đầu Gật Gù, Dái Lắc Lư.”

Bốn nghề trên, vợ chồng tôi đầu hàng, nhưng không thể không tham gia đội quân kiếm nghề phụ, thêm rau mắm nuôi đàn con.

Tôi quen một anh thợ may Hàng Trống, cựu lính xưởng may 10 Châu Quỳ, Hà Nội. Anh bị bệnh dạ dày kinh niên, xuất ngũ, mở tiệm may ở thị xã. Một hôm anh đến chơi, vợ tôi phàn nàn đời sống khó khăn, anh bảo, “Cô chú mua máy khâu đi, anh dạy chú cắt, chị dạy cô may, kiếm thêm nuôi tụi trẻ.”

Mừng quá, tôi lùng mua máy khâu, gặp ai cũng hỏi. Một ông bệnh nhân cho biết ở nông trường Cao-phong có người vừa mang chiếc Singer trong Nam ra, muốn bán.

Đại hạn gặp mưa rào.

Chủ Nhật, tôi và anh thợ may Tâm đến xem. Xem xong, anh bảo, được đấy, mua 1.200 đồng. Thế là làm thợ may nghiệp dư, máy kê nhà anh Tâm. Vợ tôi nghỉ phép, 2 tuần, sáng cơm nước xong, đến nhà anh, học đến chiều, miễn phí. Hết kỳ nghỉ, vợ tôi cũng biết cách may áo sơ-mi nữ, chưa biết cắt. Đến lượt tôi học cắt. Có ông Sơn, thợ may của nông trường đã về hưu, ra khám bệnh, vào chơi, biết vợ tôi học may, tôi đang tìm thày học cắt. Ông bảo vào ông, ở đấy nhiều hàng, tha hồ tập sự. Lần này đến lượt tôi “lên núi tầm sư học nghề phó may”.

Tôi nghỉ phép, ăn ở nhà ông 2 tuần, học 2 bài: áo sơ-mi nam nữ và quần nam. Giỏi toán từ thời phổ thông, ông giảng công thức đo cắt, tôi hiểu ngay. Lại khéo tay, sau vài hôm, tôi cắt đẹp, rất vừa ý các cô gái trẻ. Bác Sơn khen tôi hết lời. Bác còn chỉ cho tôi những bí quyết nhà nghề và dạy tôi may cắt quần Ấu.

Vợ chồng tôi thành phó may nghiệp dư, sau vài tháng, khách đông, trả hàng không kịp.

Tối tối, ngày Chủ Nhật, học sinh trường Trung cấp Y tế, thanh niên thị xã kéo nhau đến, vì tôi tính giá mềm, rẻ từ 3 đến 5 hào, may cẩn thận, lại không “lây ống” (ông lấy) hay “hõm bò” (bỏ hòm) mảnh vảI thừa, như thợ may khác.

Không ngờ đi tỵ nạn, đến London, nghề phó may lại có dịp trở lại. Ở đây, may gia công, ngày tối thiểu dăm chục chiếc, công may từ £0.30 đến £0.40/chiếc. Xưởng may 10 cũng may theo dây chuyền, thợ bậc 5 chỉ may nổi 20 đến 25 chiếc/ngày là hết cỡ. Mặt hàng lại đơn giản, quanh năm có 4, 5 mẫu, nhắm mắt cũng may được. London khác, bạn cô Linh bảo, tuần nào cũng có mẫu mới. Có nghĩa là phải thật giỏi, may như vợ tôi chỉ ăn cám.

Cô chú Thịnh có nhà riêng, mua chiếc máy may Brother, hệ công nghiệp. Tôi chưa bao giờ nhìn thấy chiếc máy may và mô-tơ to như thế. Mỗi lần cô Linh ấn bàn đạp, tiếng dzí-dzí vang lên, ngang xe máy nổ. Tôi nhìn và cảm thấy không nhanh mắt nhanh tay chắc chiếc kim kia bập luôn vào ngón tay giữ vải. Điều khiển máy còn khó, làm sao mà may được những chiếc áo, quần theo đúng mẫu chủ hàng giao. Vợ tôi hàng ngày đến nhà  cô Linh cùng cô tập may. Khốn nỗi ngày nào cũng may thẳng, vài buổi ngán, ngán nhất là chẳng ra xu nào.

Tôi khuyên khích, “kiếm hàng thật dễ, may thẳng, luyện tay nghề đã.” Ok, chí phải. Tôi theo dõi quảng cáo việc làm trên báo và thấy trời không phụ chúng tôi, vì có nơi cần thợ may túi ngân hàng. Đến xin thử tay nghề, đạt yêu cầu, thế là có việc. Chủ cho người đưa hàng đến tận nhà, 1000 túi/30 bảng. Nghe mừng rơn, cô chú Thịnh gật đầu sái cổ, tưởng bét ra 1 ngày cũng may được 500 chiếc, kiếm 15 bảng ngon ơ.

Không ngờ, hàng này xương quá, khó gặm. Vải dày, bền, cứng như vải chúc bâu nhuộm hồ của Việt Nam, đủ các màu, hình vuông, cỡ 60 x 60 cm, nhiệm vụ phải làm gồm có:

1. May hèm trước.

2. Gấp đôi lại, thành hình chữ nhật 30 x 60 cm.

3. May 2 lần chỉ 3 mặt.

4. Xếp 100 chiếc/bó dây chun.

Vải chắc, thô, chạy chậm. Ban đầu vừa sức tay nghề. Mô-tơ rít, tiếng kim vỗ vào mặt vải kêu phập phập, nền nhà rung ầm ầm. Chúng tôi đang thuê nhà Jimmy làm sao kê máy được, chịu, mình cô Linh may. Cả tuần không may xong 1000 túi, thật ngán ngẩm. Người đưa hàng, dân Hong Kong, động viên, “chịu khó, làm lâu sẽ quen, người ta kiếm tiền trăm đấy, cố lên.”

Chú Thịnh và thằng con 5 tuổi về đến nhà lăn vào gấp túi, vài tháng, tay nghề lên. Kiếm được 50 bảng/tuần cũng toát mồ hôi.

Sau 2 tháng, tôi điền form xin được trợ cấp tiền nhà, tiền ăn của tụi trẻ. Xong một khoản. Chỉ còn chờ đợi được cấp nhà, không ngờ một chuyện đột xuất xảy ra.

Thằng Jimmy sau khi cho thuê nhà hơn 1 năm, dành đủ tiền sửa chữa hệ thống nước và lò sưởi. Sáng ngày 12/11/1984 tôi đi làm về, vào nhà tắm, xả nước không có một giọt. Đi tiểu, giật nước cũng không, xuống bếp pha cốc cà-phê không nốt. Nhà tôi đưa trẻ đi học về, cho hay thằng Jimmy thuê người sửa bếp, cắt nước từ đêm. Sáng nay bốn mẹ con không nước rửa mặt, phải ra W.C công cộng đi toilet. Không có xô đựng, tôi mang nồi và ấm sang nhà bên xin nước. Tay hàng xóm nghe kể, sang xem, bảo, lên ngay council, tìm Environment Department mà báo. Tôi làm theo.

Sau khi nghe chúng tôi kể, ông phó ban Mr. John Ken theo chúng tôi về nhà. Đúng như trình bày, chủ nhà đi làm, ông không gặp được. Ông bảo hai tiếng nữa sẽ quay lại.

Đúng hẹn, ông đến. Một chiếc xe van của council được điều tới chở đồ đạc giường chiếu tủ… của gia đình tôi đến flat ở West Wickham, miễn phí. Chúng tôi thuộc diện homeless được cấp nhà khẩn cấp. Vĩnh biệt Jimmy. Vĩnh biệt cảnh ăn nhờ ở đậu. Cuộc đời chúng tôi lại sang trang mới sau 5 tháng thuê nhà.

Căn hộ chung cư có phòng khách rộng rãi, 3 buồng ngủ, hai đôi, một đơn. Từ một người ở mướn 45 bảng/tuần 2 phòng nhỏ, nay 18 bảng/tuần, 3 buồng ngủ, phòng khách, nhà bếp, nhà tắm, toilet. Vui quá trời.

Nghe tin cô chú Thịnh đến thăm, mừng “tái ông thất mã”, cô Linh tính toán ngay, bảo, “nhà anh chị ở tầng 4, may sao được, ồn ào, hàng xóm bẩm báo, phiền to.” Chưa biết tính sao, sau 5 tuần bên Environment Department có người muốn trả gia đình tôi về nhà Jimmy do nhà đã chữa xong.

Mr. J. Ken phản đối, đã đi sao quay lại được. Đang tranh cãi thì đại diện South London Association Housing cho hay phường T., thuộc quận Croydon có căn nhà 4 buồng ngủ , chưa có người.

Thế là chúng tôi chuyển về căn nhà 4 buồng ngủ ngày 06/12/1984.

Hai gia đình đã có nhà riêng, bây giờ phải tìm nghề khác. Nghề bánh mỳ làm đêm tổn thọ, không trụ được lâu. Tôi bàn phải đi học nghề, có thế lương mới khá và bền. Đêm làm, sáng ngủ, chiều vào các Job Centre của quận, tìm việc và khóa học.

Chú Thịnh xin được lớp thợ hàn, học 6 tháng. Tháng 1-1985 chú Thịnh đi học, còn lại mình tôi làm ở xưởng bánh. Tháng 2-1985 có khóa sửa chữa Điện tử một năm. Nghĩ đến chiếc ti vi mua 85 bảng, chữa đòi 100. Tôi đăng ký, được giấy báo, ba tuần sau đến kiểm tra Toán và Lý trình độ A levels (tú tài).

Vào thư viện, mượn sách, mặc dù 25 năm rời ghế nhà trường, ôn lại thấy vẫn không quên kiến thức cơ bản.

Thi xong, hai tuần sau, giấy báo kết quả 72/100, được nhận học.

Mấy tháng sau, mua máy may, vợ tôi may túi, làm cật lực, 10 đến 12 tiếng/ngày, mỗi tuần chỉ kiếm được #50 bảng. Tụi trẻ đi học về, bỏ cặp sách, lăn vào gấp túi giúp mẹ. Một lần trong bữa cơm chiều, tôi hỏi, nếu có điều ước, các con ước gì. Thằng út, ước không phải gấp túi, được chơi game điện tử. Tội nghiệp con tôi!

Chúng tôi bỏ may túi chuyển qua may quần áo. Tay nghề lên dần, sau vài năm, có tuần kiếm được hai trăm bảng. Cuộc sống khấm khá dần, vốn tích lũy tăng, có tiền dành cho đàn con chi phí đại học sau này.

Năm 1987, vợ chồng Sinh điện thoại, bảo, đã chuyển về London, có nhà ở Bow.

Đến thăm, mừng rơn, thế là chúng tôi hội ngộ.

Con đường về London của cô chú Sinh khác chúng tôi. Năm 1986, dọn về ở nhờ gia đình chị gái ở Hackney.

Có quân sư bày diệu kế.

Hai gia đình cãi nhau tơi bời khói lửa, ai can cũng không xong. Hàng xóm báo cảnh sát.

Thế là được nhà khẩn cấp theo diện homeless. Đây không phải trường hợp đầu tiên và duy nhất, người Việt mình “tiếp thu” kinh nghiệm của dân Ấn, Pakistan, Jamaica, Phi châu… và chuyện cứ xảy ra dài dài cho đến năm 1990, luật về nhà cửa thay đổi, chấm dấu hết chuyện vào hostel, đập nhà, ở nhờ người thân, diễn vở “Võ Miệng”.

Ngày 08/4/1985 tôi nghỉ việc, bước vào đời học nghề làm đời thợ sửa chữa các loại máy thu thanh, thu hình, đầu video và đầu CD.

Mời đọc tiếp: Chương [16]

Lâm Hoàng Mạnh
Nguồn: Tác giả gửi

Đã đóng bình luận.