Hai mươi năm sau

Posted: 03/05/2013 in Ngũ Lang, Truyện Ngắn

Ngũ Lang

thuong_phe_binh-2

– Mời bà mua giùm vài tấm vé số!

Nghe tiếng mời Thuận ngẩng lên bắt gặp một thân hình ốm yếu, gương mặt bơ phờ đứng không vững phải dựa cả thân hình trên cây nạng gỗ. Thuận ngừng ăn quay sang nói với người bán vé số

– Vé số bao nhiêu tiền một tấm vậy ông?

– Thưa bà hai ngàn một tấm, bà mua mấy tấm?

Thuận giật mình vì âm thanh của người bán vé số nghe thật quen. Thuận liên nhìn ông ta như cố tìm một nét quen thuộc nào đó trên gương mặt có vẻ như già trước tuổi của người đàn ông trước mặt.

– Ông còn bao nhiêu tấm vé số vậy?

– Ở đây tôi còn hai mươi tấm thôi, bán từ sáng đến giờ cũng được mấy chục tấm rồi.

Thuận đưa cho người bán vé số tờ giấy năm chục ngàn và nói

– Cho tôi mua hết hai chục tấm vé số này và ông cầm luôn số tiền còn lại, coi như một chút quà của người ở xa về.

Người bán vé sô dùng cánh tay mặt nắm chặt cây nạng gỗ và dựa cả thân mình trên đó, nhận tiền bắng bàn tay trái. Khi Thuận nhìn thấy bàn tay trái của người bán vé số chỉ còn ba ngón, hai ngón út và ngón đeo nhẫn bị cụt sát bàn tay Thuận cảm thấy toàn thân run rẩy. Nàng nhìn người bán vé số chăm chăm bỗng lên tiếng hỏi:

– Ông có phải tên là Hoàng không, Thuận thảng thốt kêu lên … phải đúng anh Hoàng rồi!

Người bán vé số hình như cũng rất xúc động nhưng cố làm ra vẻ bình tĩnh, đưa trả lại số tiền mười ngàn cho Thuận rồi mới chậm rãi trả lời:

– Không, bà lầm người rồi, tên tôi không phải là Hoàng. Xin trả lại bà mười ngàn còn dư và cám ơn bà đã mua hết những tấm vé số của tôi.

– Không, em không thể lầm được. Ngoại hình anh có thể thay đổi, nhưng em không thể nhận lầm giọng nói của anh được. Tại sao anh lại cố tình không nhận anh chính là Hoàng. Chẳng lẽ anh không biết được cái bản tính lì lợm của “bé Thuận” của anh khi xưa sao?

Vả lại anh quên mất là bàn tay trái của anh đã mất hai ngón khi anh bị thương trong một trận đánh trước kia? Anh cứ trêu em là không còn ngón tay đeo nhẫn cưới nữa rối. Anh còn nhớ em đã nói với anh như thế nào không: “ Cái nhẫn cưới không nói được gì cho sự trung thành trong tình yêu vì đó là nhiệm vụ của trái tim”

Thuận đã đổi cách xưng hô và nói như người trong mơ. Nàng tin chắc không thể lầm lẫn giọng nói của người bán vé số đang đứng trước mặt với Hoàng của hai mươi năm về trước.

Nàng chăm chú nhìn gương mặt sạm đen gầy guộc, với mái tóc bù xù nhưng đã không che giấu hết được dáng quen thuộc của Hoàng. Nhất là đôi mắt, đôi mắt như cuốn hút nàng bước vào cuộc tình định mệnh khắc nghiệt.

Thuận kéo ghế rồi nắm tay kéo Hoàng ngồi xuống. Tới lúc này Hoàng hầu như đã không còn đủ sức chối bỏ thân phận của mình nữa nên ngoan ngoãn ngồi xuống ghế khẽ nói:

– Cám ơn Thuận. Khi nhận ra Thuận tôi tính bỏ đi nhưng không còn kịp nữa. Tôi không muốn nhận sự thương hại của bất cứ ai cả dù người đó là Thuận.

Thuận sụt sùi giọng đầy nước mắt,

– Em biết bản tính anh không muốn đẩy em rơi vào tình cảnh khó xử. Nhưng anh quên một điều là em yêu anh, em là vợ anh mà. Gần hai mươi năm nay em đã nhờ những bạn bè cũ cố gắng tìm kiếm anh nhưng đều thất bại. Anh còn nhớ anh Chu không? Có lần anh ấy cho em biết một chút tin tức về anh, nhưng sau đó thì anh Chu lại viết thư cho em nói anh đã biến mất rồi. Anh ấy cho biết là anh đã trở thành một người tàn phế. Vì bản tính của anh nên anh trốn tránh không muốn gặp lại những người quen biết khi xưa.

Trong ba năm nay năm nào em cũng về Việt Nam một lần với mục đích độc nhất là kiếm ra anh cho bằng được. Em nghe nói anh thường bán vé số ở bến xe này. Một tuần nay ngày nào em cũng ra đây, ngồi hết quán này tới quán khác với hy vọng kiếm được anh. Em có hỏi mấy người bán vé số  và họ cho em biết có một người thương binh què một chân thường bán vé số quanh bến xe này. Họ còn nói người thương binh ấy ít nói lắm, lúc nào cũng lầm lì chỉ trả lời những câu hỏi cần thiết; ngoài ra cái gì cũng trả lời “không biết”. Họ cũng không biết tên anh là gì nên cứ gọi anh là “người Thương Phế Binh bán vé số.” Linh tính báo cho em biết người đó chắc chắn là anh. Thật trời phật đã không phụ lòng mong đợi nên hôm nay đã cho em gặp lại anh.

Tại sao hai chục năm nay anh cứ trốn tránh không chịu liên lạc với em và con?

Vừa nghe nói đến tiếng con gương mặt Hoàng bỗng sáng lên hỏi dồn:

– Thuận nói sao, em nói con của anh?

Tới lúc này nước mắt Thuận đã dàn dụa trên đôi má, hai tay nắm chặt lấy tay Hoàng nức nở:

– Vâng, con của anh; phải nói con của chúng ta mới đúng. Hoàng Uyển, em đã lấy tên anh ghép vào trước tên con để mỗi khi gọi con, em lại gọi cả tên anh… Con chúng ta bây giờ đã tròn hai mươi tuổi, một cô gái xinh xắn mang đôi mắt của anh.

Con luôn luôn hỏi tại sao bố không về với nó. Con hay soi gương một mình vì em nói con có đôi mắt giống bố, và có cái miệng của mẹ.

Ngày đó em đã không kịp báo cho anh biết là em đang mang giọt máu của anh trong bụng. Em chờ ngày anh về để báo tin mừng, nhưng trận chiến cứ lan tràn và mỗi ngày một thất vọng. Khi em nhận được lá thư của anh do một người lính mang đến cho em với lời nhắn “Hãy đi về Sàigòn, anh sẽ tìm cách liên lạc sau.” Em còn chần chừ chờ anh, nhưng cuối cùng em phải theo chuyến bay chót rời Đà Nẵng vì nghe đâu Việt cộng đang tiến gần thành phố. Nhất là em nghĩ đến sự an toàn cho đứa con tình yêu của chúng ta em đang mang trong người

Nghe tin vùng I chiến thuật, thành phố Đà Nẵng rơi vào tay cộng sản, em chạy đôn chạy đáo dò hỏi tin tức của anh. Nhưng không ai biết đơn vị của anh lúc đó ra sao nữa, ngay cả Bộ Chỉ Huy Biệt Động Quân ở Sàigòn cũng nhìn em lắc đầu!

Ba má quyết định ra đi nên cuối cùng em phải về ở với mẹ em để tiếp tục tìm kiếm tin tức của anh.

Sau khi sanh bé Hoàng Uyển xong thì em gặp được một người lính cũ ở đơn vị anh. Anh ấy cũng rất mừng rỡ khi nhận ra em đang ngồi bán mấy món đồ cũ trên lề đường Hàm Nghi. Anh ấy vừa nói vừa rơm rớm nước mắt: “Đơn vị không chịu ra hàng, cuối cùng hết đạn đơn vị bị địch quân tràn ngập. Em nằm lẫn vào với những xác chết chờ đến đêm em lần mò trốn ra ngoài. Cũng may em gặp một nhà dân phía Quốc Gia cho em bộ quần áo và ít tiền nên em kiếm phương tiện về Nam.”

Anh ta cũng cho em biết là giờ phút cuối cùng trước khi đơn vị bị tràn ngập không gặp anh đâu cả. Anh ấy cho em biết là rất ít hy vọng anh còn sống sót. Lúc đó em quá thất vọng nhưng phải ráng sống vì còn đứa con nhỏ, giọt máu của anh.

Năm 1979 em đã được người cậu họ, em của mẹ em cho đi vượt biên. Rất may mắn là chuyến vượt biên không gặp trở ngại gì cả. Sau năm ngày lênh đênh trên biển em và con đã đến Mã Lai. Tám tháng sau, khoảng giữa năm 1980 em và con được cho đi định cư ở Mỹ.

Hiện nay Hoàng Uyển, con của chúng ta đang học năm thứ ba đại học. Theo ý con nó muốn theo đuổi ngành y khoa vì em nói với con là trước kia bố cũng muốn trở thành một bác sỹ để có thể giúp mọi người.

Sau khi vào Mỹ em lên ở nhà anh Tiến ở Falls Church, Virginia để có thể vừa đi học vừa đi làm để kiếm tiền chi tiêu.

Em cố gắng theo đuổi việc học và cuối cùng em đã tốt nghiệp kỹ sư điện tử năm 1986. Em phải xa anh Tiến vì em xin được việc làm ở thành phố San Jose. Hiện giờ em sống với con ở thành phố này.

Cách đây mấy năm anh Chu cho biết anh còn sống và hiện ở quanh vùng Sàigòn. Em nuôi hy vọng gặp lại anh nên năm nào em cũng để dành những ngày nghỉ phép thường niên để về đây tìm kiếm anh.

Trời Phật không phụ em nên cuối cùng ngày hôm nay em đã gặp lại anh. Chắc chắn con sẽ rất vui mừng gặp lại bố nó.

Hoàng như người lạc vào một cơn mơ. Không ai dám nuôi hy vọng sau những ngày đau khổ nhục nhã trong tù đày anh đã gặp lại Thuận, người tình và cũng là người vợ mà anh yêu thương.

Sau khi ra khỏi nhà tù cộng sản Hoàng thất vọng với tấm thân tàn tạ nên anh đã lẫn trốn thực tại. Anh lẫn trốn tất cả những người quen biết, chấp nhận những bất hạnh của riêng mình.

Bây giờ Thuận đang ngồi trước mặt anh, nắm đôi bàn tay anh mà anh không bao giờ có thể tưởng tượng là còn có thể nhận được cử chỉ yêu thương này. Anh đắm đuối ngắm gương mặt của Thuận đã một thời làm anh say mê, thì thầm bên tai nàng: “Cám ơn em” rồi xiết chặt đôi tay người vợ đã hy sinh cho anh trọn vẹn!

oOo

Hoàng là bạn học cùng lớp với Tiến nên thường hay đến nhà Tiến chơi trong những ngày nghỉ học. Để rồi như một định mệnh Hoàng đã bị nụ cười thật quyến rũ của Thuận hớp hồn vào một buổi chiều mưa lâm râm.

Hôm đó Hoàng đến nhà thì Tiến theo bố mẹ về thăm ngoại ở Biên Hoa. Anh gõ cửa thì chính Thuận là người ra mở cửa đón anh. Những lần trước Hoàng không mấy để ý đến cô em út này của Tiến. Hoàng bước vào nhà thì Thuận cho biết là Tiến đi vắng. Hoàng tính từ giã thì Thuận đã liến thoắng:

– Anh Tiến biết thế nào chiếu nay anh cũng đến nên bảo em mời anh ở lại chơi vì anh Tiến cũng sắp về. Rồi như để trêu chọc Hoàng Thuận lí lắc tiếp:

– Em là Thuận là em út của anh Tiến. Í mà anh đâu biết em vì anh còn mấy chị lớn lúc nào cũng nhởn nhơ bên anh mà. Hoàng cũng cảm thấy vui và tự nhiên theo cái hồn nhiên của Thuận.

– Không phải vậy đâu “bé Thuận” ơi, anh không có đào hoa như cái anh chàng Tiến. Mấy cô bu là bu theo ông anh Tiến của “bé Thuận” chứ đâu phải theo anh.

Thuận ngúng nguẩy vẻ hờn dỗi:

– Em lớn rối nhe, mười sáu rồi chứ bộ. Cái gì mà cứ gọi người ta là “bé Thuận này bé Thuận nọ” hoài vậy. Bộ anh Hoàng lớn lắm rồi hả.

Hoàng cũng trả đủa lại:

– Lớn hồi nào đâu, hôm trước anh còn thấy “bé Thuận” nhè khi không được đi coi ciné với bạn nè. Cũng may có Tiến can thiệp chứ không cái nhà nay đã bị trôi mất tiêu vì nước mắt của bé rồi.

Thuận xông lại vừa đấm lên lưng Hoàng vừa la toáng lên

– Anh Hoàng này nha, cứ nói xấu em không hà.

Vừa lúc đó Tiến cùng mẹ mở cửa vào nhà. Tiến lên tiếng bênh em gái:

– Cái thằng Hoàng này chỉ chuyên môn ăn hiếp con nít không à.

Thuận lại càng mếu máo dậm chân thình thịch

– Em không biết đâu, anh Hoàng thì gọi em là bé, còn anh lại gọi em là con nít. Các anh về phe với nhau ăn hiếp em không thôi.

Bà Mẹ cười vui vẻ với tính trẻ thơ của con gái:

– Ừ hai cái thằng anh này cứ chọc ghẹo con gái rượu của mẹ. Con gái mẹ lớn như thế này đâu còn nhỏ gì nữa.

Được mẹ lên tiếng về phe mình, Thuận cười khoái chí, trề môi trêu chọc lại Tiến và Hoàng.

Cuộc chiến mỗi ngày càng thêm khốc liệt. Cả Hoàng và Tiến đều phải bỏ mộng ước trở thành bác sỹ và luật sư để mặc vào người bộ quần áo lính. Sau chín tháng đổ mồ hôi trên ngọn đồi Tăng Nhơn Phú Tiến được về phục vụ ở Nha Quân Pháp tại Sài Gòn nhờ vào chứng chỉ Luật,  còn Hoàng sách ba lô ra trình diện Liên Đoàn I Biệt Động Quân ở tuốt ngoài Đà Nẵng.

Lúc đó Thuận cũng đã tròn đôi mươi và trở thành một cô gái với những cây si trồng ngay trước nhà. Trong suốt thời gian trong lò luyện thép để trở thành những cấp chỉ huy trong quân đội, tuần nào Thuận cũng mang quà lên thăm Tiến và Hoàng.

Tiến chọc Thuận làm cô nàng mặt mày đỏ ké:

– Thuận mang quà lên cho Hoàng chứ đâu phải cho anh đâu. Toàn những món hợp khẩu vị thằng Hoàng không à. Hoàng ơi mày tập gọi tao bằng anh đi cho rồi.

Bị Tiến chọc ghẹo mặt mày Thuận đỏ tìa tai đấm Tiến thùm thụp.

– Anh Tiến còn chọc em nữa em không thèm lên thăm anh nữa đâu…

– Đúng rồi em lên thăm Hoàng chứ đâu phải thăm anh đâu mà dọa.

Bị Tiến đoán đúng tim đen của cô nàng, nên đành im thin thít.

Những tuần sau Tiến hẹn với cô bạn lên thăm rồi rủ nhau đi tâm sự ở nơi khác cho cô em gái và Hoàng được tự nhiên. Tiến biết tỏng là hai đứa đã cùng bị rơi vào thế giới của con ma tình ái từ lâu rồi.

Ngày rời Sài Gòn đi trình diện đơn vị Thuận đã khóc sướt mướt lúc chia tay. Mối tình của hai người đã lớn dần theo thời gian với những lá thư tình đầy ắp nhớ thương như những cánh bướm đi về. Hoàng thì rất e ngại vì cuộc chiến khốc liệt miền giới tuyến nên chưa giám nghĩ đến việc chung sống của riêng hai người.

Bản tính gan lì coi trời bằng vung của Hoàng đã tạo những chiến thắng cho Trung đội Hoàng chỉ huy. Hoàng đã nhận được nhiều huy chương đủ loại và hai lần được thăng thưởng ngay tại mặt trận.

Khi Tiến mới có một bông mai thì trên cổ áo Hoàng đã là ba bông mai vàng với một ngực huy chương.

Trong một cuộc đụng độ Hoàng bị thương nhẹ. Lúc đó Hoàng là một Đại Đội trưởng xuất sắc. Sau khi xuất viện Hoàng được chỉ định về phục vụ ở Bộ Chỉ Huy Biệt Động Quân vùng I Chiến Thuật. Cũng vào dịp này Thuận đã nằng nặc đòi Hoàng phải đi đến quyết định cuối cùng vì những cây si trước nhà càng ngày càng nhiều. Bà mẹ cũng muốn cho cô con gái út yên phận gia đình vì tuổi mỗi ngày một cao.

Một đám cưới đã được tổ chức với sự chấp thuận của cả hai gia đình. Thuận phải xin chuyển ra dạy học ngoài Đà Nẵng. Cuộc sống của cặp vợ chồng trẻ là những ngày hạnh phúc, nhưng cũng đầy âu lo vì tình hình chiến sự mỗi ngày thêm xấu đi.

Mấy tháng sau ngày cưới mặt trận vùng hoả tuyến trở nên càng ngày càng khốc liệt. Hoàng được điều động ra thay thế một Tiểu Đoàn Trưởng mới bị thương. Hoàng đành an ủi vợ sách ba lô ra nhận Tiểu Đoàn, lúc đó đã vào đầu năm bảy lăm. Cùng lúc Thuận nhận thấy cơ thể mình có những thay đổi. Bác sĩ đã cho Thuận hay là Thuận sắp được làm mẹ. Thuận mong mỏi Hoàng trở về để báo tin vui mà cả hai cùng mong đợi.

Nhưng ngày bi thảm của đất nước cũng là ngày tang tóc phủ lên người dân Việt trên mảnh đất miền Nam tự do không chừa một ai.

Tin mừng muốn báo cho người chồng yêu quý Thuận đã phải chờ đợi hai mươi năm sau. Lòng trung thành, và tình yêu chân thực của Thuận đã được đền bù sau hai mươi năm dài đầy nước mắt của nhớ thương, với âu lo!

oOo

Hoàng ngưng kể câu chuyện của đời mình, mời bạn bè nâng ly mừng cuộc họp mặt sau những ngày chinh chiến và tù đày. Hoàng cười rạng rỡ nói với các bạn”

– Đấy, câu chuyện của tao chỉ có vậy, nghe như tiểu thuyết phải không tụi mày. Hai năm sau tao sang tới Mỹ trong vòng tay yêu thương của Thuận và đứa con gái. Trong những ngày “Tuần trăng mật” lần này Thuận lại cho tao một thằng boy năm nay cũng được hơn mười tuổi rồi.

Hoàng kéo ống quần lên khoe cái chân giả:

– Khi qua tới Mỹ nhờ tình yêu thương của Thuận và đứa con hết lòng dành cho tao nên sức khỏe của tao hồi phục rất nhanh. Và vui nhất là tao được lắp cái chân giả này nên đi đứng tuy không bằng chân thật nhưng cũng đủ cho những hoạt động khi đi làm cũng như lúc ở nhà.

À mà tao quên khuấy không kể cho tụi mày nguyân do nào tao trở thành “Tôn Tẫn” bất đắc dĩ như thế này.

Trong những ngày miền Trung lên cơn sốt của chiến cuộc, mọi người đều tìm cách suôi Nam. Có những đoàn dân chúng thì theo các đơn vị như Dù và Thuỷ Quân Lục Chiến. Một số khác dồn vào phi trường hay các bến tàu để tìm đường chạy càng xa vùng bom đạn càng tốt.

Thế giới mù tịt về “cuộc bỏ phiếu bằng chân của hàng triệu người với cả mạng sống để chốn chạy cộng sản” này. Mấy tên nhà báo và bọn chính trị sa lông cũng như mấy tên phản chiến vung vít viết bài ca tụng thành tích vô nhân đạo của bọn cộng sản mà không biết xấu hổ.

Tao khoái câu tuyên bố của cái anh chàng phi công John McCain khi trở lại Hà Nội lần đầu: “Kẻ ác đã thắng trong cuộc chiến”

Chỉ đến cuối thập niên tám mươi, cả thế giới mới bàng hoàng vì sự tàn ác dã man của thế giới cộng sản khi bức màn sắt bị bung ra. Cùng một lúc là sự xụp đổ của tất cả những nước cộng sản Đông Âu cùng với thành trì cộng sản Liên Xô.

Sau khi liên lạc với các đơn vị yểm trợ không được tao biết họ dông cả rồi. Tao tập họp đơn vị báo cho anh em biết rõ tình hình để anh em tự quyết định ở lại cùng đơn vị hay về với gia đình.

Đa số anh em trong Tiểu đoàn xin được chiến đấu đến cùng. Số anh em bỏ về vì vợ dại con thơ khoảng một phần ba quân số. Trước khi buông súng rời địa điểm đóng quân anh nào cũng lại chào từ biệt anh em, nước mắt ướt đẫm những gương mặt phong sương, rồi ù té chạy. Người nào cũng không nỡ rời bỏ đơn vị và bạn bè. Tình cảm này cũng không có gì lạ đối với những người mặc áo lính như bọn mình. Có anh đã đi thật xa lại chạy trở về xin ở lại với anh em!

Cuối cùng kiểm điểm lại Tiểu Đoàn còn hơn một trăm tay súng với ba Đại Đội Trưởng và năm chàng Trung Đội Trưởng.

Tao tổ chức lại thành ba Đại Đội trừ rồi cho di chuyển trở lại những căn cứ cũ chuẩn bị một cuộc chiến đấu mới mà cá nhân tao nghĩ rủi ro nhiều hơn thành công. Nhưng đối với những người lính như tụi mình thì làm sao có thể chịu đựng được sự trả thù hèn mọn của bọn phi tổ quốc, những con thú đánh mất nhân tính của tập đoàn cộng sản bán nước hại dân.

Mỗi người lính sau khi được tiếp tế chưa đụng trận nên vẫn còn hai cấp số đạn. Thêm số đạn những người bỏ về nữa nên cũng đủ dùng trong một thời gian. Tất cả vũ khí một số anh em chia nhau mang theo, số còn lại tháo cơ bẩm ra vất xuống cái hồ gần đấy.

Tuần lễ đầu cả đơn vị hồi hôp chờ đợi một cuộc tấn công. Nhưng tình hoàn toàn im ắng. Vì là một căn cứ cũ vừa vội vã bỏ lại nên còn rất nhiều lương khô. Ban ngày tao chia ra từng tổ đi vào rừng trồng khoai mì và ngô cũng như khoai lang để có lương thực cho một cuộc chiến đấu chưa biết kết thúc ra sao. Tất cả đều quyết tâm không muốn đầu hàng địch quân vì những nhục nhã phải chịu đựng.

Ban đêm thì nửa trong ra ngoài phục kích ở các cao điểm. Phân nửa ở ngoài trở về căn cứ được nghỉ ngơi, cứ luân phiên như vậy. Tụi tao cũng tiên đoán sớm muộn cũng bị bọn con cháu hồ ly phát giác nên đã ấn định địa điểm tập trung lúc phòng tuyến bị bể và bị địch tràn ngập.

Một vài người lính quê ở địa phương giả làm thường dân đi dò la tin tức. Đồng thời xem có bắt tay được với đơn vị bạn nào còn chiến đấu gần đó không.

Hai tuần lễ trôi qua vẫn chưa có dấu hiệu gì khả nghi là địch đã ngửi thấy mùi bọn tao. Số lương thực cũng cạn dần nên phải chia người đi đào các loại củ rừng và đặt bẫy để mưu sinh.

Kinh nghiệm mưu sinh thoát hiểm của anh em cũng thật cừ. Cách một hai ngày lại kiếm được thịt rừng. Tao cũng gửi đi một vài tên thân cận lân la về các xóm dân gần đó để nắm tình hình, tiện thể kiếm gạo. Lúc đó những xóm làng ở xa, tụi hủi chưa kiểm soát được nên kế hoạch trót lọt. Cái khó khăn là số dân chúng quanh vùng đa số theo Quốc Gia nhưng cũng lẫn vào đó những gia đình có con em theo bọn hủi nên tụi tao phải cảnh giác tối đa.

Sự chờ đợi cuối cùng cũng đã đến. Cả ngày hôm đó tụi tao nhận thấy lạ vì có nhiều thú rừng như nai, thỏ chạy qua vị trí đóng quân. Rồi từng bầy chim rừng hoảng hốt bay lên từ nhiều nơi. Tao biết là địch quân đã phát hiện ra tụi tao và đang điều động quân bao vây. Cả buổi chiều tao cho gài tất cả số mìn còn lại ở những hướng tiên liệu địch có thể tấn công. Lực lượng được chia thành bốn cánh quân. Một cánh trụ lại trong căn cứ với tao, còn ba cánh do ba Đại Đội Trưởng chỉ huy phục trên các cao độ xung quanh. Tất cả vũ khí cộng đồng với số đạn dược còn lại đều được bố trí sẵn sàng ở các công sự kiên cố quanh đơn vị.

Không ngoài dự đoán, khoảng mười giờ đêm cánh quân A báo cho biết đã phát hiện đơn vị địch đang tiến về phía căn cứ. Cánh quân B báo nghe được tiếng cơ giới, có thể là xe tăng. Tao cho chuyển những cây súng chống chiến xa M2 và M79 với đạn chống chiến xa sẵn sàng ở hướng đó.

Khoảng nửa đêm những tiếng nổ vang lên phá tan sự tĩnh mịch của đêm đen. Một cánh quân địch đã rơi vào đúng bãi mìn chờ đợi họ. May mắn lúc đó có ánh sáng mờ mờ của vành trăng lưỡi liềm ló dạng soi khá rõ địch quân đang áp sát hàng rào phòng thủ. Khẩu đại liên M60 trong tay người xạ thủ gan dạ khạc đạn từng tràng ngắn theo đúng kế hoạch, đốn ngã những tên con cháu họ nhà cáo.

Đợt xung phong đầu tiên của địch đã bị khựng lại. Ngay lúc đó bãi mìn thứ hai cũng vang lên những tiếng nổ chát chua kèm theo từng tràng đại liên quét về hướng đó. Dưới ánh sáng mờ mờ lạnh lẽo để có thể nhìn thấy những thân hình bật ngã khi vừa chạm đến hàng rào concertina.

Sau hai đợt tấn công thất bại, không gian trở nên yên tĩnh đầy chết chóc. Sự lo lắng nhất của tao đã xuất hiện khi những tiếng gấm rú của động cơ kèm theo tiếng xích sắt của chiến xa di chuyển mỗi lục một gần. Tất cả vũ khí chống chiến xa được chuẩn bị cho một cuộc chiến đấu không đồng cân lượng. Nhưng với ý chí sắt đá của những người lính quyết tìm lấy cái chết vinh quang hơn sống nhục nên ba xác chiến xa đã nằm bất động mà phòng tuyến vẫn còn nguyên vẹn.

Theo sau những chiến xa tới bộ binh địch xuất hiện dày đặc. Tụi nó quyết tâm làm cỏ tụi tao trong đợt tấn công này. Đạn dược của tụi tao cạn dần, hoàn cảnh này tao thấy không thể chống đỡ được nữa. Tao kiểm điểm lại thì chỉ còn khoảng hơn mười tay súng. Tao quyết định là phải mở đường máu thoát thân để cứu đồng đội.

Tao ra lệnh cho cả ba cánh quân phía ngoài nổ súng để phân tán sự chú ý của địch quân. Cũng may trong thời gian về căn cứ này tao đã cho khai thông con đường hầm bí mật để phòng hờ lúc cần rút đi.

Tụi tao vừa ra khỏi đường hầm thì rơi ngay vào ổ phục kích của địch chờ sẵn. Những viên đạn cuối cùng nổ liên tục, trong ánh sáng mờ mờ lúc rạng đông, những thân người bị đốn ngã gục xuống. Địch quân bao vây hàng hàng lớp lớp sung quanh.

Tao rút cây Browning ra để tự xử, nhưng tao bỗng cảm thấy lạnh buốt nơi chân trái và sau đó rơi vào hôn mê. Khi tỉnh lại cả thân mình tao đau buốt, hai tay bị trói quặt về phía sau.Toàn thân phía dưới như tê dại không còn chút cảm giác nào. Sau này tao mới nhận ra sở dĩ tụi nó không giết tao là vì muốn khai thác những cánh quân khác mà chúng muốn biết.

Ngày nào cũng bị lôi ra hỏi cung. Hết đe dọa lại ngọt ngào nhưng tao chỉ trả lời không biết vì chỉ có tao chỉ huy cánh quân này mà thôi. Hình như tất cả những người lính của tao cũng đều khai như vậy. Sở dĩ tao không bị chúng mang ra bắn trả thù có lẽ mạng tao chưa đến ngày chết.

Tao bị giải về một trại giam trong căn nhà đổ nát của cái đồn điền cà phê cũ của Tây hồi xưa, hình như ở Khe Sanh. Nhờ có mấy ông Bác Sĩ phe ta cũng bị đưa về đây nếu không có lẽ tao cũng không sống nổi. Lúc đó vết thương ở chân của tao đã bị nhiễm trùng xưng tấy lên và đã bắt đầu thối. Mấy ông này còn thủ được một ít trụ sinh, và các ông dùng luôn cả những loại cây có tính sát trùng cộng với nước muối nên một thời gian sau vết thương lành dần. Từ đó tao trở thành “Tôn Tẫn” bất đắc dĩ.

Công việc của tao là phụ nuôi heo với một tay nữa, anh chàng này là một sĩ quan Lực Lượng Đặc Biệt. Anh em chắc mẩm khi bầy heo lớn lên sẽ có ít mỡ tráng cái bao tử luôn lép kẹp. Nhưng khi “thành quả lao động” tới hồi vinh quang thì có lệnh chuyển trại. Anh bạn Lực Lượng Đặc Biệt giận lắm, bèn cho bầy heo sơi nấm độc. Cả bầy heo nằm liệt hết nhúc nhích. May mắn sang trại mới nên vụ “hạ độc thủ bầy heo” cũng chìm xuồng luôn.

Về trại mới tao được giao phụ trách vệ sinh trại tù, cũng có thời gian bị sung vào tổ đan tre. Giai đoạn chuyển qua trại tù do công an quản lý càng thê thảm hơn. Nhưng thôi để dịp khác tao sẽ kể cho tụi mày nghe.

Tao được tha tào sau mười năm lây lất trong các trại tù từ Nam ra Bắc rồi trở về Nam.

Ngày cầm tờ giấy ra trại mới thê thảm vì tao đâu có nơi nào để về. Tao chống cây nạng tự chế lò mò ra đến Quốc lộ 1 chờ xe ở ngã ba Ông Đồn cùng với vài anh em được tha cùng đợt. Chiếc xe đò cà rịch cà tang ngừng lại cho tụi tao leo lên. Tao thấy một cái bình to nằm chình ình ngay đàng sau. Người lơ xe như hiểu ý nên giải thích “xe chạy bằng than đấy” À hóa ra là như vậy. Một thành quả to lớn của chế độ “xuống hố cả nút!”*

Xe ngừng lại ở ngã ba Giầu Dây. Tất cả hành khách xuống hết chỉ còn ba tên tù mới được thả ngồi nhìn nhau. Người lơ xe bước đến nói nhỏ

“Mời các ông thày xuống ăn tô hủ tíu, uống ly cà phê. Em là lính hồi xưa, các ông thầy cứ tự nhiên em thanh toán cho”

Ba đứa cảm động với tình cảm của những người lính dành cho nhau. Trên đời này có lẽ tô hủ tíu mì và ly cà phê ở cái quán cóc ngã ba Giầu Dây là ngon nhất. Ngon vì mười năm vị giác không được tiếp xúc với những thức ăn “cao cấp” này. Ngon vì “tình huynh đệ chi binh” Cả ba đứa không giấu được sự cảm động khi bước lên xe.

Một kỷ niệm nữa cũng không thể nào quên trong đời. Khi đang xì xụp “nghe” dòng nước xúp và những cộng hủ tìu trôi dần xuống bao tử thì tiếng đàn từng tưng vang lên bên tai.

Một anh chàng cũng Tôn Tẫn như tao ôm cây đàn, giắt theo anh chàng mù cả hai mắt với một vết xẹo dài trên gương mặt đang gân cổ hát. Tụi này biết bài gì không. Hai anh chàng Thương Phế Binh này hát cho tụi tao nghe bài “Giã từ vũ khí!” Cả ba đứa mới bước ra khỏi nhà tù cộng sản không thằng nào chặn lại được dòng nước mắt nghẹn ngào!

Chưa hết đâu. Người mắt sáng móc túi đưa cho tụi tao những đồng tiền nhăn nhúm nói trong nghẹn ngào “Các ông thầy chia nhau xài đỡ, tụi em chỉ có bằng này!”

Tới lúc này thì dòng nước mắt đã dàn dụa trên gương mặt ba đứa tụi tao. Cơn xúc động làm toàn thân tê cứng lại vừa dịu xuống thì hai người Thương Phế Binh đã chuyển sang hát ở một bàn xa.

Khập khểnh trên cây nạng ra xe, tao cảm thấy cơ thể như không còn chút sức lực nào. Nhưng một niềm vui lại tràn ngập kéo đến. Tao vui vì những người lính không bao giờ lạc nhau trong cuộc sống còn lại dù ở bất cứ đâu và trong bất cứ hoàn cảnh nào.

Về đến Sài Gòn tao không biết làm gì để sống. Trở lại căn nhà cũ của bố mẹ thì đã bị ăn cướp từ khi ông bà ra đi. Chủ nhân căn nhà bây giờ nghe nói là một tên nón cối làm việc trên quận.

Tao đang bơ vơ không nơi nào nương tựa, lang thang kiếm bạn bè và họ hàng, nhưng hoàn toàn thất vọng! Tất cả đã bỏ đi từ khi giặc về thành phố. Tao cũng chẳng nhớ phải ngủ lề đường bao nhiêu đêm. Cũng may có ít tiền còm của các chiến hữu ngày ra tù nên tằn tiện bữa đói bữa no.

Cuối cùng tao lại gặp may. Một đêm đang nằm dựa vào tường bên hàng hiên khu chợ Tân Định ngủ lơ mơ thì bị đánh thức giậy. Một giọng nói lè nhè bên tai với mùi rượu sặc sụa:

“Ê lại nhậu với tụi tao thằng què” Đúng là “mèo mù vớ cá rán” tao nhập bọn liền không khách sáo gì cả. Tao nhai luôn một lúc hết ổ bánh mì không rồi ực nguyên ly đế.

Khi biết tao là một sĩ quan mới đi tù về không nhà không cửa. Một anh vội chạy đi mua về cho tao một ổ bánh mì thịt, nói:

“Tụi em đâu biết ông thầy là phe ta mới ra khỏi tù. Mấy đêm thấy ông thầy nằm ngủ, tủi em cứ tưởng ông thầy là một tên phế binh Việt cộng. Như vậy mời ông thầy nhập bọn với tụi em cho vui”.

Tao hỏi các anh em làm gì để sống. Mấy anh em cười hề hề trả lời:

“Ông thầy đừng lo, tụi này không làm bất cứ điều gì mất danh dự của những người lính đâu. Đứa đi bán vé số, đứa nào còn sức thì làm phu khuân vác ở bến xe. Tối đến hẹn hò tập trung tại những nơi thay đổi để cùng ăn uống, chia nhau tí men cho vui, cho quên đời!”

Từ đó tao trở thành một anh chàng bán vé số. Chỗ ngủ hàng đêm không có nơi nào nhất định cả. Đêm thì gầm cầu, đêm thì hàng hiên. Những hôm kiếm khá lại cùng ôm đế ra mấy gò mả ngồi nhậu cho đến say mèm, nghêu ngao hát. Cuối cùng nằm lăn quay ra ngủ cùng người chết.

Cho đến một hôm… Như đoạn kết tụi mày đã biết rồi.

Thôi tụi mày uống với tao một ly nữa để mừng cho tao và mừng cho cuộc trùng phùng của gia đình tao và với tụi mày: Những thằng lính năm xưa chưa kịp chết !

Ngũ Lang
Viết xong vào ngày buồn tháng tư năm 2007
Nguồn: Tác giả gửi

* Xã hội chủ nghĩa

 

Đã đóng bình luận.