Nói chuyện thơ trên đường đi chùa Hương

Posted: 05/07/2013 in Phạm Đức Nhì, Tùy Bút / Tản Văn / Ký Sự

Phạm Đức Nhì

thuyen_di_chua_huong

Cũng tại một bài thơ của Nguyễn Nhược Pháp mà trong lần về Việt Nam thăm nhà năm ngoái tôi đã đóng tiền đi “tua” lễ hội chùa Hương. Đoàn chúng tôi 28 người, ở rải rác quanh khu vực Đồ Sơn, được người tổ chức sắp xếp đi chung một chiếc xe đò đúng … 28 chỗ ngồi.

Xe khởi hành lúc 6 giờ chiều, đến Bến Đục thuộc địa phận xã Hương Sơn, huyện Mỹ Đức, ngoại thành Hà Nội lúc 10 giờ 30 tối. Mọi người ghé vào ngôi chùa ở ngay sát bến làm lễ rồi lên một chiếc thuyền lớn (đã ký hợp đồng trước) theo dòng suối Yến Vĩ vào chùa Ngoài, tên chữ là chùa Thiên Trù. Theo quy định thì 5 giờ sáng thuyền mới được rời bến, nhưng chắc chủ thuyền đã ăn ý với công an nên chúng tôi được “dù” vào lúc nửa đêm. Để khỏi phải chen lấn đến đổ mồ hôi, nghẹt thở (nếu đi đúng giờ, đúng luật) mỗi người phải chi thêm 60.000 (VN). Hôm ấy nhằm ngày mùng 4 tháng 2 âm lịch nên:

“Sơ tam, sơ tứ nguyệt mông lung” (1)

Trăng mờ mờ, ảo ảo. Bầu trời lại đầy sao nên phong cảnh thật thơ mộng, hữu tình. Anh lái đò tuổi khoảng trên dưới 40, mặt mũi sáng sủa – có vẻ là người có học – bỗng cao hứng đọc nho nhỏ bài thơ Chùa Hương của Nguyễn Nhược Pháp.

Hôm qua đi chùa Hương
Hoa cỏ mờ hơi sương.
Cùng thầy me em dậy,
Em vấn đầu soi gương.

Khăn nhỏ, đuôi gà cao,
Em đeo giải yếm đào;
Quần lĩnh, áo the mới,
Tay cầm nón quai thao.

Me cười: “Thầy nó trông!
Chân đi đôi dép cong,
Con tôi xinh xinh quá!
Bao giờ cô lấy chồng?”

Anh đọc hay quá. Giọng bắc, trong, phát âm chính xác, rõ ràng, lời thơ lại hợp cảnh, nên tôi khoái chí gật gù, chăm chú lắng nghe. Anh nhìn tôi, nheo mắt cười rồi đọc tiếp:

Em tuy mới mười lăm
Mà đã lắm người thăm,
Nhờ mối mai đưa tiếng,
Khen tươi như trăng rằm.

Nhưng em chưa lấy ai,
Vì thầy bảo người mai
Rằng em còn bé lắm!
(Ý đợi người tài trai).

Em đi cùng với me.
Me em ngồi cáng tre,
Thầy theo sau cưỡi ngựa,
Thắt lưng dài đỏ hoe.

Thầy me ra đi đò,
Thuyền mấp mênh bên bờ.
Em nhìn sông nước chẩy
Đưa cánh buồm lô nhô.

Bỗng có tiếng của bà phụ lái ngồi ở mũi thuyền la lên:

– Có thuyền ở phía trước!

Anh lái đò ngừng đọc thơ để chú tâm vào điều khiển con thuyền. Rồi sau đó, có lẽ mất hứng, không thấy anh đọc tiếp nữa. Tôi, ngồi ở lái thuyền, cạnh anh, lân la bắt chuyện:

– Anh đưa đò thế này lâu chưa?

– Cũng được 6, 7 năm rồi.

– Đưa đò thì chỉ có mấy tháng xuân. Thế hết mùa lễ hội anh làm gì?

– Em công tác ở Phòng Văn Hóa huyện. Lương lậu không đủ nuôi vợ, nuôi con nên cứ đến mùa lễ lại chở đò đưa khách để kiếm thêm tý thu nhập rồi dành dụm tiêu dần cả năm.

– À ra là cán bộ Phòng Văn Hóa. Thảo nào mà văn chương, thơ phú tỏa sáng cứ như sao lấp lánh trên trời.

Cả hai cùng cười vui vẻ. Tôi hỏi tiếp:

– Thế ngày nào chở đò anh cũng đọc thơ thế này hay sao?

– Không đâu anh ơi! Những ngày tâm hồn thanh thản như hôm nay thì ngâm nga mấy câu chơi cho vui, chứ những ngày đầu óc rối bời trăm mối “vợ đẻ, con đau, nhà nước lụt” thì còn tâm trạng đâu mà thơ với thẩn.

Tôi chộp ngay cơ hội khoe 4 câu thơ của mình:

Có lúc nghĩ đến thơ là chán
Đọc nửa câu đã ngán
Nhưng cũng có ngày
Ngâm nga hồn cứ bay bay mơ màng.

– Thơ của tôi đấy. Anh thấy thế nào?

– Thơ của anh nghe cũng tạm được. Có vẻ như song thất lục bát, nhưng số chữ trong câu thay đổi tuỳ tiện, rất tự do, thoải mái.

Tôi giật mình! Chà! Kiến thức về thơ của tay này cũng khá đấy chứ. Mình phải cẩn thận kẻo bị hố, làm trò cười cho hắn thì …ê mặt.

Anh ta nói tiếp:

– Em biết 4 câu lục bát cũng diễn tả cái ý ấy – hơi tục – nhưng rất dân gian, rất sinh động. Em nói rõ là hơi tục đấy nhé; anh có muốn nghe không?

– Không sao. Tôi cũng thích thơ tục lắm. Và cũng có làm mấy bài thơ tục để “minh họa” một số ý niệm về thơ. Anh cứ đọc đi! Nhưng nhỏ nhỏ thôi, kẻo mấy bà, mấy cô nghe được thì phiền lắm.

Anh vừa chèo thuyền vừa ghé vào tai tôi đọc nhỏ:

Vợ tôi hay mộng hay mơ
Hôm qua nổi hứng dí thơ vào l.
Thế rồi khi dại, lúc khôn
Hôm nay nó lại dí l. vào thơ.
(xem đoạn viết thêm ở phần cuối)

Tôi phì cười. Đoạn thơ hay quá! Sợ tôi không hiểu, anh nghiêng người qua giải thích:

– Mẹ mua về cho đôi khuyên tai. Cô con gái vừa thấy là chộp ngay lấy. Bà mẹ mắng yêu: “Cái con khỉ này! Cứ thấy vàng là dí ngay vào l.” Thí dụ như thế anh hiểu không?

Anh ta như ông thầy giáo tận tâm, cố đem hết khả năng sư phạm của mình truyền đạt cho cậu học trò không có năng khiếu văn học, một bài thơ khó.

Tôi gật đầu, rồi đóng vai cậu học trò, hỏi lại thầy giáo cho chắc ăn:

– Dí cái gì đó vào l. là THÍCH cái đó, phải không?

– Đúng vậy. Còn bây giờ là lời một cô gái nói với bạn – người đã giới thiệu cho cô một anh chàng nhà giàu nhưng đã “không đủ thước tấc” lại hơi “hâm hấp”: “Cái thằng vừa lùn vừa điên ấy, có giàu nứt đố, đổ vách tao cũng dí l. vào.”

– À! Tôi hiểu rồi. Dí l. vào cái gì là KHÔNG THÍCH cái đó, đúng chưa?

– Không sai tí nào.

Đôi mắt anh sáng lên một cách tinh quái rồi thì thầm vào tai tôi:

– Nói đến cái khoản tục này anh cũng tỏ ra sáng dạ đấy chứ!

Tôi có bà mẹ bắc kỳ, ít học, lại cũng không ngại ví tục, nói tục nên câu chửi này tôi hiểu ngay. Tôi chỉ bắt tay anh cười cười, không nói. Đúng như anh ta nói lúc đầu, đoạn thơ cũng diễn tả cái ý trong bài thơ con cóc của tôi nhưng có tý “ấy” vào tứ thơ mới lạ và tươi mát hẳn lên , lời thơ thì rất sinh động, rất dân gian, rất tục và rất … tuyệt.

Tôi thân mật nói nói với anh:

– Ôi! Nghe xong 4 câu thơ dân gian này chắc bài thơ của tôi phải vất vào sọt rác quá, anh bạn ơi.

– Ấy! Đừng vất. Anh cứ để đấy. Mỗi người một vẻ. Vườn hoa phải có đủ loại hoa chứ. Cây hoa hồng có thêm cụm hoa cứt lợn đứng bên cạnh nữa cũng đâu có sao.

Tay này thâm thật. Thơ mình mà hắn ví như hoa cứt lợn thì … cay quá. Nhưng rồi nghĩ đến chỗ đứng khiêm tốn của mình trong làng thơ, tôi cao giọng nói đùa:

– Thôi thì cứ để cụm hoa cứt lợn đấy cho nổi bật cái đẹp của hoa hồng. Như vậy, ít ra thơ của tôi cũng đóng góp một chút xíu gì đấy cho đời, phải không nào?

Câu chuyện đến đây thì thuyền đã chuẩn bị cập bến chùa Thiên Trù. Chúng tôi sẽ lễ Phật rồi leo núi lên động Hương Tích vào chùa Trong. Tôi hỏi anh:

– Thế lát nữa anh có chờ để chở chúng tôi ra Bến Đục không?

– Không đâu anh. Em phải kết hợp với nhóm bạn, chở đợt khách kế tiếp ra đấy cho họ. Còn các anh, khi thăm động Hương Tích xong, người của họ sẽ thay em chở các anh ra sau. Em phải về chợp mắt một chút để sáng đi làm.

Trước khi bước lên bờ tôi dúi vào tay anh 100.000 (VN) và nói thầm “Cho tôi gởi các cháu ăn quà,” rồi bắt tay anh thật chặt.

Đảo mắt nhìn quanh tôi chợt thấy mình lạc lõng lạ thường. Những người đi lễ hội như tôi, từ lúc xuống thuyền cho đến bây giờ – chuẩn bị leo lên Nam Thiên Đệ Nhất Động (2) – ai ai cũng mặt mày nghiêm trang, thành khẩn, dọn lòng để cầu danh, cầu lợi, cầu bình an, phước đức cho bản thân và gia đình. Riêng tôi, ngay giữa chốn linh thiêng mà đầu óc cứ vương vấn mãi cái hình ảnh mà nữ sĩ Hồ Xuân Hương đã có lần miêu tả:

Bày đặt kìa ai khéo khéo phòm
Nứt ra một lỗ hỏm hòm hom
(Chùa Hương)

Mà thật lạ! Cái hình ảnh hấp dẫn đó đã không khơi gợi trong tôi một ý niệm tà dâm nào. Hình như nhờ đó tôi đã hiểu rõ hơn, không, phải nói là đã thực chứng được, cái tâm trạng của con người đối với thơ ca: khi mê say, khi chán chường, đổi thay bất chợt như thời tiết lúc mưa, lúc nắng.

Sao đã lặn gần hết. Trăng móc câu ánh sáng chỉ mờ mờ. Tôi không thưởng thức được trọn vẹn vẻ đẹp hùng vĩ của cảnh non xanh nước biếc. Nhưng có hề gì. Người tôi đang thấm đẫm men say của 4 câu thơ thật tục mà lại thật hay.

Tôi lặng lẽ theo đoàn người lên núi, tâm trí bồng bềnh như mấy bụi cây hai bên đường ngả nghiêng theo gió. Và lòng tràn ngập hồn thơ.

Phạm Đức Nhìnhidpham@gmail.com
Nguồn: Tác giả gừi

Chú thích:

(1) Mùng ba, mùng bốn trăng mờ mờ, ảo ảo

(2) Tên khác của động Hương Tích do Tĩnh Đô Vương Trịnh Sâm đặt.

Đoạn viết thêm cũng là chú thích về xuất xứ của 4 câu thơ

Khi bài viết được gởi đến mấy chỗ thân tình để xin ý kiến (hoặc nhờ sửa chữa) thì nhà thơ Trịnh Anh Đạt ở Đồ Sơn đã e-mail cho biết 4 câu thơ tục đó xuất xứ từ bạn anh, nhà báo, nhà thơ Bùi Hoàng Tám. Anh cũng kèm theo bài viết Về Bài Thơ “Vợ Tôi Dở Dại, Dở Khôn” trong đó nhà báo, nhà thơ Bùi Hoàng Tám kể khá tỉ mỉ nguyên do phát sinh mấy câu thơ đó – và sau này là cả bài thơ. Bốn câu thơ trong bài viết của Bùi Hoàng Tám như sau:

Vợ tôi dở dại, dở khôn
Ngày dăm bẩy bận dí l. vào thơ
Tôi thì ra ngẩn vào ngơ
Ngày dăm bẩy lượt dí thơ vào l.

Sau đó một ngày, anh Trương Vấn, người phụ trách trang web T-Vấn&BH gởi cho tôi bài thơ Thơ Một Chữ – Vỗ Một Tay của Nguyễn Bảo Sinh trong đó cũng có đoạn giống 4 câu thơ trên:

Vợ tôi dở dại, dở khôn
Có lúc nó bảo dí l. vào thơ
Vợ tôi nửa tỉnh nửa mơ
Có lúc nó bảo dí thơ vào l.

Theo tôi, có lẽ Bùi Hoàng Tám và Nguyễn Bảo Sinh đều lấy hai nhóm chữ “dí lồn vào thơ” và “dí thơ vào lồn” trộn lẫn với một lô các con chữ xà bần khác thành những câu vè tục, đầy tính chơi chữ, đọc với nhau cho vui. Nhà thơ lục bát nổi tiếng ở Hải Phòng Trịnh Anh Đạt đã nói chắc như đinh đóng cột rằng:

“Bài của Bùi Hoàng Tám hay Nguyễn Bảo Sinh ở dạng này chỉ là vè. Không thể gọi là thơ!”

Tôi không biết con đường tiến hóa của 4 câu thơ bắt đầu từ đâu; từ bài Thơ Một Chữ – Vỗ Một Tay của Nguyễn Bảo Sinh hay từ bài Vợ Tôi Dở Dại, Dở Khôn của Bùi Hoàng Tám? Nhưng tôi biết chắc một điều – do hình ảnh mộc mạc, gần gũi, tục mà thanh – những câu ấy đã đi vào lòng người, truyền qua không biết bao nhiêu là cái miệng, trong đó có không ít miệng của những nghệ sĩ dân gian đầy tài năng, ẩn mình giữa đám đông thầm lặng. Đến cửa miệng của anh lái đò, 4 câu ấy đã được thay đổi, chắt lọc để không còn là những câu vè tục tằn vui chơi, mà đã thành những câu thơ hay, ý nhị, độc đáo, có giá trị nghệ thuật cao, mang đến cho người nghe, người đọc một thông điệp về thơ rõ ràng, sinh động.

Phụ Lục 1 (Nguyên văn)

Về bài thơ “Vợ tôi dở dại dở khôn…”
Bùi Hoàng Tám

Khoảng năm 1990, khi đó báo Văn Nghệ tổ chức cuộc thi thơ rất hoành tráng. Nhà thơ tật nguyền Đỗ Trọng Khơi được giải nhì với chùm Ánh trăng. Do không đi nhận giải được, báo Văn nghệ tổ chức về tận nhà trao giải. Đoàn gồm nhà văn Nguyễn Khắc Trường- Phó TBT, trưởng ban thơ Bế Kiến Quốc…

Hôm ấy, Hội Văn nghệ Thái Bình tiếp đoàn ở quán cạnh nhà tôi. Dạo đó, tôi còn bán thịt chó ở Thái Bình (nhân dân Thái Bình có tặng tôi 2 câu thơ: Thái Bình có chú Bùi Hoàng Tám bán quán thịt… chó làm thơ hay. Giời ạ, tôi làm thơ ra cái… chó gì).

Nhòm qua khe cửa, thấy nhà thơ Bế Kiến Quốc đeo kính, ngồi quay lưng ra phía ngoài. Tôi bèn gấp mấy bài thơ, đưa cho cô con gái khi đó mới 9 – 10 tuổii bảo: Con đem sang đưa cho cái bác đeo kính kia nhé. Nhìn qua khe cửa, tôi mong ông giở ra lướt qua cho một cái. Nhưng không. Ông thản nhiên cuộn cuộn nhét vào cái túi như túi dết rồi tiếp tục câu chuyện. Thế là toi rồi. Tôi tự nhủ.

Cũng cần nói thêm ngày ấy được in thơ trên báo Văn Nghệ là niềm mơ ước không chỉ của loại văn sĩ tép riu như tôi. Nếu tôi nhớ không nhầm thì dạo đó, lũ văn sĩ ở Thái Bình mới chỉ có khoảng 5 -6 người (nói như quê tôi là chưa đầy một cỗ) có thơ in trên Văn nghệ. Tôi nhớ có lần chúng tôi đang ba hoa thơ phú, một nhà thơ đàn anh ngồi lặng lẽ nghe, rồi phán nhẹ một câu: Năm một nghìn chín trăm mấy mấy, mình có bài in trên Văn Nghệ”. Thế là chao ôi, cả bọn ngồii im như thóc giống. Vì vậy chuyện được in trên Văn nghệ như một chứng chỉ “bảo kê” cho tầm văn chương “vượt qua phà Tân Đệ”. Do đó, tuy thất vọng nãp nề nhưng tôi không buồn và cũng mau quên “niềm vinh quang” ảo tưởng đó đi.

Mấy tuần sau, tôi ra bưu điện mua báo Văn Nghệ. Lại nói thêm rằng Văn Nghệ thời Nguyên Ngọc là niềm chờ đợi mỗi chiều thứ sáu. Người ta mong ngóng, người ta chờ đợi như chờ cửa hàng thực phẩm bán cá mè ranh cắt ô số 6, đợi nhưđợi kết quả số đề. Cầm tờ Văn Nghệ trên tay, đọc lướt qua trang nhất, phần giới thiệu nội dung. Giời ạ, gì thế này. Tôi xoa mặt, dụi mắt. Thơ Bùi Hoàng Tám… Dụi hai ba lần cho tỉnh hẳn, tôi tự trấn an: Chắc thằng cha nào đó cùng tên chứ mình thì làm gì có của!? Giở trang trong. Giời đất ơi, thơ mình. Đúng thơ của mình. Tự dưng thấy chân tay rủn rủn, mồ hôi lấm tấm lưng, tóc gáy hơi giật giật.

Tôi không biết lão ÔBAMA với lão JONMĂCKÊN khi trúng cử tổng thống Mỹ mừng đếm mức nào nhưng cứ theo tôi, khó có thể hơn tôi khi đó. Thế là từ nay trong các cuộc nhậu tôi sẽ im lặng. Đợi đến lúc cao trào nhất, tôi mới gại giọng bảo rằng: Năm một nghìn chín trăm mấy mấy, mình có bài in trên Văn Nghệ… Cứ nghĩ đến mấy lão bạn thơ hàng tỉnh mặt nghệt ra như ngỗng ỉa, mồm câm như thóc giống thì còn gì sung sướng cho bằng nữa. Hình như khi đó, để trấn tĩnh mình, tôi lẩm bẩm hát “Tổ quốc ơi, ta yêu người mãi mãi” Hay “Chưa có bao giờ đẹp như hôm nay”… Đại loại thế.

Sẵn có 10.000 ngàn trong túi, tôi mua tất cả 5 tờ Văn nghệ. Rồi lặng lẽ leo lên gác xép để nhấm nháp niềm hạnh phúc. Tôi như chú gà, đẻ được quả rứng muốn vỗ cánh chạy toáng ra đường mà hét lên cục ta cục tác. Nhưng do không là gà nên dành cục tác thầm vậy.

Đêm đó tôi trằn trọc, thỉnh thoảng lại sờ tay xuống gối xem thật hay mơ. Bây giờ kể lại chuyện này, có thể có người bảo ‘Lại bốc phét” nhưng đó là cảm gác rất thật. Không vui sao được khi từ ngày mai, trong những cuộc nhậu, khi mọi người đang “khủng bố thơ ca”, tôi sẽ lặng im, rất lặng im, chờ cho mọi người lắng giọng ới thủ thỉ rằng: Năm …. cứ nghĩđến đó đã sung sướng phát rồ, phát dại lên rồi. Thế là từ mai, tôi sẽ đổi thành phần, nâng giai cấp. Tôi sẽ như bố tôi ngày cải cách ruộng đất được từ địa chủ biến thành trung nông. Còn với tôi, sẽ là một cuộc cách mạng số phận từ thằng bán thịt chó tỉnh lẻ trở thành nhà thơ có tác phẩm vượt bến phà Tân Đệ.

Nhìn sang bên cạnh, thấy mụ vợ cứ thản nhiên ngủ mà bực cả mình. Người đâu mà vô duyên thế, cái ngày trọng đại nhưthế này mà y ngủ được thì rõ là loại vợ gì không biết. Đã thế lại còn ngáy, tiếng ngáy du dương, bổng trầm như có vần, có điệu mới tức nữa. Rồi chợt nhớ, chưa báo cho hắn biết thì hắn làm sao mà chẳng ngủ, chẳng ngáy. Đợi đấy sáng mai, ta sẽ trịnh trọng tuyên bố để cho mụ biết tay. Từ mai, ta se tha hồ uống rượu rồi nếu vợ cằn nhằn, ta sẽ bảo làm thi sĩmà không có bầu rượu tùi thơ thì là loại thi sĩ hạng bét. Và từ mai, ta cũng quyết không rửa bát, quét nhà nữa. Một nhà thơ lớn không thể phải rửa bát, quét nhà. Đó là chân lý.

Sáng hôm sau, chờ cho mụ vợ chuẩn bị hòm hòm hàng họ, tôi mới thẽ thọt:

– Anh có bài đăng báo Văn nghệ…

– Cái gì…?

– Anh có bài đăng báo Văn nghệ…

– Bài gì? Mụ vợ cao giọng hỏi, kèm theo cái nhìn sắc như dao hoạn lợn.

– Bài… THƠ!

– Dí L… vào, Dí L… vào. Thơ với chả thẩn. Đi làm hàng cho tôi bán hàng.

Tôi như người đang lên cơn sốt xuất huyết bị dội nước lạnh. Toàn thân giận run lên. Thế mà cả đêm qua, tôi cứ tưởng tượng ra cái khuôn mặt tươi như hoa mào gà của mụ khi tôi báo tin này. Thế mà… Ức thật, thế này thì ức thật. Ức hơn Chí Phèo chờ Thị Nở cái đêm ở bờ sông. Chả lẽ nhà thơ, lại chửi bậy chửi bạ như ánh Chí. Đành nuốt cả “một mối căm hờn trong cuống họng”. Đi nhậu. Khi chai rượu đã vơi đi già nửa, tôi chợt phì cười. Ơ, với cái mụ vợ này thì đến thằngđẻ ra thơ là mình thì mụ cũng dí L… vào từ đỉnh đầu đến gót chân chứ nói gì đến “đứa con tinh thần với chả tâm thần có tên là THI CA?”. Và bật cười. Và làm thơ.

Thơ rằng: Vợ tôi dở dại dở khôn – Ngày năm bảy bận dí L… vào thơ”.

Nhà thơ Kim Chuông, người luôn đội mũ (vì bị ngứa đầu) và đeo kính (vì bị cận nặng) cả khi làm tình lẫn lúc… tắm (tôiđã tận mắt chứng kiến cả 2 cảnh này nên thề có trời đất, không bịa), đặc biệt là lúc nào cũng lảm nhảm đọc thơ, kể cảkhi… ngủ (Anh em đã từng có lần phác họa chân dung rằng: Thái Bình có bác Kim Chuông – Đội mũ, đeo kính, cởi truồng – ĐỌC THƠ) chợt nghiêng nghiêng vành mũ lảm nhảm đọc theo. Tan cuộc, Kim Chuông về Hội (Tức là Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật, chứ không phải hội Nuôi ong, mà quê tôi có thơ rằng: Từ ngày có Hội nuôi ong – Thì chất lượng mật lại không ra gì) ông ổng đọc. Nhà viết kịch Trọng Khuê (lại mở ngoặc: Thái Bình có hội Văn nghê (tức là Văn nghệ) – Kim Chuông đánh vợ, Trọng Khuê đốt nhà) nghe được, mới thêm vào: “Còn tôi ra ngẩn vào ngơ – Ngày dăm bảy lượt dí THƠ vào L…”. Bài thơ bây giờ đã có 4 câu: Vợ tôi dở dại dở khôn – Ngày dăm bảy bận dí L… vào THƠ- Tôi thì ra ngẩn vào ngơ – Ngày dăm bảy lượt dí THƠ vào L…” Đến khổ thứ ba: “Kỳ này xét giải Quý Đôn – Đề nghị xét cả cho L… và THƠ” thì có hai dị bản. (Giải thưởng mang tên Nhà bác học Lê Quý Đôn – (Khổ thế) 5 năm một lần ở Quê lúa, cũng nói thêm là lần nào cũng kiện tụng. Cả giải lần này, đang xét nhưng đã kiện tùm lum rồi).

Dị bản một là ở Thái Bình, nhiều người nói là của họa sỹ Hà Trí Dũng. Dũng là họa sỹ điêu khắc, từng là ĐB QH, tác giả của tượng Trần Hưng Đạo ở Kim Môn – Hải Dương và tượng Lê Quý Đôn ở TP Thái Bình. Dạo ấy, Dũng vừa khánh thành tượng Lê Quý Đôn, được Giải thưởng mang tên cụ Thám hoa này. Trong một lần tức khí gì đó, Dũng đã làm hai câu tiếp theo.

Dị bản thứ hai là của bác Nguyễn Trọng Tạo. Dạo đó, Hội Văn nghệ Thái Bình mời Hội Văn nghệ Thừa Thiên Huế ra chơi. Có một em tên là Oanh hay Yến đẹp nức nở và cuồn cuộn nhuệ khí như sống Đà, sông Hồng chứ không yên ả nhưsông Hương quê em. Người cao, chân dài, ngực nở (nghĩa là thừa tiêu chuẩn cấp bằng lái xe của bác Nguyễn Quốc Triệu mà xấp xỉ cái cân đo đong đếm của Bác Dương Kỳ Anh) lại thơm lừng nóng bỏng… Thôi, chả tả nữa kẻo… thiên hạthèm! Bác Tạo ra cùng đợt này. Và hai câu: “Kỳ này…” là của Thi sĩ Nguyễn Trọng Tạo.

Chẳng biết thực hư thế nào, xin kể lại những điều mình nghe thấy.

Khi lên Hà Nội, có lần nghe tôi kể chuyện về “tác phẩm văn học bất hủ” này, nhà văn Nguyễn Uyển khi ấy là Trưởng ban công tác Hội nhà báo Việt Nam và nhà báo Nguyễn Đoàn (TBT báo Bưu điện VN) thêm vào hai câu cuối: “Mấy tay giám khảo ất ơ – Lại đem bỏ tuốt cả thơ ra ngoài”. Thế có tệ không cơ chứ. Chỉ xét mỗi… cái ấy.

Xin chép lại cả bài của “tổ hợp văn chương” đọc cho vui nhé:

Vợ tôi dở dại dở khôn
Ngày dăm bảy bận dí L… vào THƠ
Tôi thì ra ngẩn vào ngơ
Ngày dăm bảy lượt dí THƠ vào L…
Kỳ này trao giải Quý Đôn
Đề nghị xét cả cho L… và THƠ
Mấy tay giám khảo ất ơ
Lại đem bỏ tuốt cả THƠ ra ngoài – (không xét).

Bài thơ này, nhiều người về sau cứ tưởng của tôi tất cả. Nhưng thực tình, tôi chỉ là kẻ làm câu đầu tiên, và có ¼ sản phẩm. Xin học tinh thần tự phê nghiêm túc của báo Lao động mà “Nói lại cho rõ”.

Đoạn kết

Bài thơ từ đó lan truyền, nhiều người bạn khi giới thiệu tôi với nguopwì lạ thường gắn liền tên người với tên tác phẩm. Kiểu: Đây là Bùi Hoàng Tám “Vợ tôi nửa dại…”. Điều ngạc nhiên là cách giới thiệu này rất hiệu quả chứng tỏ bài thơđã được “toàn dân” biết. Sau này, Nhà thơ Nguyễn Huy Thiệp trong bài Trò chuyện với hoa Thủy tiên” có trích dẫn: “Giai thoại có một nhà thơ nói về thơ trong tình cảnh sau đây (tôi đã đưa chuyện này vào trong tiểu thuyết của tôi vì nó quá hay) khá tiêu biểu cho thực tế đó: Vợ tôi nửa tỉnh nửa mơ – Hôm qua nó bảo dí thơ vào L… – Vợ tôi nửa dại nửa khôn – Hôm nay nó bảo dí L… vào thơ, tôi cũng không phủ nhận cảm tình của nhân dân đối với thơ nhưng quả thực trên thực tế, cái danh nhà thơ là một thứ nhìn chung chung, chỉ là nhưng nhít, hữu danh vô thực, chẳng ai muốn dây vào nó, . Nhà thơ đồng nghĩa với sự chập cheng, hâm hấp, quá khích, vớ vẩn, thậm chí còn lưu manh nữa” (nguyên văn).

Rất may cho tôi là bài này của bác Nguyễn Huy Thiệp in sau khi tôi đã vào Hội Nhà văn rồi. Nếu không thì chắc đứt vì có một ông trong Hội đồng nói thẳng rằng “nếu thằng Thiệp nó tung ra trước thì chú mày… mạt kiếp”. Giời ạ, may thế. Tôi vào Hội như một thứ giời cho, xin kể chuyện này vào dịp khác.

Nguồn (http://bhoangtam.vnweblogs.com/post/8785/107344)

Phụ Lục 2 (Nguyên văn)

Thơ một chữ – Vỗ một tay

Vợ tôi nửa dại nửa khôn
Có lúc nó bảo dí lồn vào thơ
Vợ tôi nửa tỉnh nửa mơ
Có lúc nó bảo dí thơ vào lồn
Thế là tôi cứ bồn chồn
Giữa tôi, giữa vợ, giữa lồn và thơ
Thế là tôi cứ ngẩn ngơ
Giữa tôi giữa vợ giữa thơ và lồn
Thế là như kẻ mất hồn
Tôi không phân biệt giữa lồn và thơ
Thế là nửa tỉnh nửa mơ
Trông đâu cũng thấy nửa thơ nửa lồn
Thế là dại quá hóa khôn
Ngộ ra mới biết trong lồn… có thơ
Thế là tỉnh một giấc mơ
Ngộ ra mới biết trong thơ… có lồn
Thế rồi vượt cả dại khôn
Ngộ thấy tất cả từ lồn mà ra
Mỹ nhân, thiên tử, anh hùng
Tất cả đều tự tinh trùng sinh ra.

(Nguồn : http://phannguyenartist.blogspot.com)

Đã đóng bình luận.