Gia tướng Hưng Đạo Vương: Yết Kiêu và Dã Tượng

Posted: 29/08/2013 in Nguyễn Minh Thanh, Tùy Bút / Tản Văn / Ký Sự

Nguyễn Minh Thanh

hung_dao_vuong-yet_kieu_da_tuong
Tượng Hưng Đạo Vương, Yết Kiêu và Dã Tượng

I. DANH TƯỚNG YẾT KIÊU PHẠM HỮU THẾ (1242 – 1301)

1. Lược sử: Yết Kiêu chính tên Phạm Hữu Thế, người Hải Dương, con ông Phạm Hữu Hiệu và bà Vũ Thị Duyên. Thuở nhỏ nhà nghèo, cha mất sớm, nhưng có tài lội lặn rất giỏi, được Hưng Đạo Vương thu nhận làm gia tướng. Vì có tài bơi lặn nên đặt tên là Yết Kiêu. Yết Kiêu cùng với Dã Tượng đã lập nhiều chiến công hiển hách. Cả hai cùng từng xông pha trận mạc, và xả thân cứu chủ tướng là Hưng Đạo Vương thoát khỏi trùng vây của giặc Nguyên Mông. Với chiến công, vua Trần đã phong tướng và tước Hầu cho Yết Kiêu: “Triều Trần Hữu Tướng Đệ Nhất Bộ Đô Soái Thủy Quân, tước Hầu”. Hiện nay tại huyện Gia Lộc, Hải Dương có đền thờ Yết Kiêu tên Đền Quát và hằng năm cúng tế rất trọng thể vào những ngày 18 – 20 tháng 8 Âm lịch. Ngoài ra còn có những đền thờ Yết Kiêu ở nơi khác. Như đền Nam Hải, huyện Chí Linh, Hải Dương, tại đây còn lưu truyền được một bảo vật vô giá, đó là chiếc mũ chiến cổ bằng đồng rất nặng của chính Yết Kiêu đội khi đi đánh trận.

Đuổi giặc xong, Yết Kiêu (còn độc thân) đã tháp tùng theo phái đoàn Sứ bộ sang Trung Hoa, Bảng Nhãn Lê Đỗ làm trưởng đoàn. Nơi ấy, ông được lòng công chúa Nhà Nguyên tên Ngọc Hoa*. Và vua Nguyên có ý muốn gả Ngọc Hoa cho Ông. Yết Kiêu tâu: xin để về nước xin phép vua Nhà Trần đã. Rồi chia tay với Công Chúa Ngọc Hoa. Phái bộ về nước. Vua Trần biết câu chuyện Yết Kiêu và Ngọc Hoa. Song, vua sợ mất viên tướng tài ba, nên làm thinh.

Các Sứ bộ lần sau, sau những lần công cán, có nhận những bài thơ của công chúa Ngọc Hoa làm, thêu vào khăn áo gửi theo đoàn Sứ bộ Đại Việt, nhờ chuyển đến Yết Kiêu. Sau đây là những bài thơ của Công Chúa Nhà Nguyên:

TIỄN BIỆT**

Dục biệt khiên Lang Y
Lang kim đáo hà xứ
Bất hận quy lai trì
Mạc hướng lâm cùng khứ.

CHIA TAY

Dứt áo quặn lòng đau
Chàng định đi chốn nào?
Chẳng ngại ngày về chậm
Chỉ xin đừng phụ nhau. . !!

(Nguyễn Minh Thanh dịch)

GIANG LÂU VỌNG NGUYỆT**

Độc thượng giang lâu tứ liễu nhiên
Nguyệt quang như thủy, thủy như thiên
Đồng lai vọng nguyệt nhân hà xứ
Phong cảnh y hy tự khứ niên.

BÊN LẦU NGẮM TRĂNG

Bên lầu côi cúc ngắm sông trôi
Lồng lộng trời trăng sóng dập dồi
Năm ngoái cùng ai vui thưởng nguyệt
Bây giờ đối cảnh ngóng xa xôi. . !!

(Nguyễn Minh Thanh dịch)

* Tương truyền: Sở dĩ, Yết Kiêu và Công Chúa Ngọc Hoa quen biết nhau là do chủ ý của vua Nguyên xếp đặt. Vua muốn dùng mỹ nhân kế để tìm hiểu và chiêu dụ danh tướng với tài đặc biệt dưới nước. Nhưng không được. Ngược lại giai nhân đã lụy tình vì danh tướng. Sau nhiều năm chờ mãi, Yết Kiêu không trở lại. Công chúa Ngọc Hoa bèn xin vua cha sang Đại Việt tìm Yết Kiêu. Khi Công chúa Ngọc Hoa đến gần biên giới Hoa – Việt (Móng Cái), Nhà Trần hay tin, nên phao rằng Yết Kiêu đã mệnh chung. Công chúa vô cùng thương xót. Lập đàn bên dòng sông cúng tế 7 ngày, cho người dùng gỗ tạc tượng Công chúa rồi thả trôi về phương Nam. Và khấn xin được xum họp cùng nhau nơi âm cảnh. Xong, Công chúa Ngọc Hoa đã gieo mình xuống dòng sông quyên sinh !! Hiện nay, đền Quát ở Hải Đương thờ Yết Kiêu và Công chúa Ngọc Hoa.

** Theo nội dung, người soạn xin phép đặt “tựa” cho 2 bài thơ trên.

2. Thơ cảm tác: Cảm phục tài ba và tấm lòng trung nghĩa của Yết Kiêu, người biên soạn cảm tác bài thơ:

YẾT KIÊU PHẠM HỮU THẾ

Hồ hải phỉ tình lội dọc ngang
Thuyền con đón chủ thoát nguy nàn*
Nghĩa trung dốc sức phò Hưng Đạo
Cơ trí toàn tâm diệt Thoát Hoan
Dưới nước đục thuyền dìm giặc dữ
Trên bờ múa kiếm giết quân gian
Anh hùng xuất chúng gương kim cổ
Đền Quát hương bay trải ngút ngàn . . !!

(Nguyễn Minh Thanh cẩn tác)

* Trong trận Chi Lăng, Hưng Đạo Vương đi thuyền nhẹ cùng với Yết Kiêu – Dã Tượng, đến Bãi Tân, một điểm bên bờ sông Lục Nam, Ngài lên bộ cùng với Dã Tượng. Dặn Yết Kiêu ở lại giữ thuyền, đợi Ngài tại đấy. Và Yết Kiêu đã đợi, dù đại quân thủy, bộ đã bị bại và chạy về Vạn Kiếp !!

II. DANH TƯỚNG DÃ TƯỢNG (không biết gia thế)

1. Lược Sử: Dã Tượng là gia tướng trung thành của Hưng Đạo Vương đời Nhà Trần. Qua những cuộc thi tài với các bộ tướng của Hưng Đạo Vương, Dã Tượng. chỉ thua Phạm Ngũ Lão. Ngoài ra ông có biệt tài thuần hóa tượng rừng (dã tượng) và chỉ huy đội tượng binh, nên được chủ tướng đặt tên Dã Tượng. Trong trận Chi Lăng (1283) quân bộ Đại Việt bại trận phải lui về Vạn Kiếp. Thủy quân thì tan rã. Hưng Đạo Vương định rút đi theo chân núi. Bỏ, không đến điểm hẹn với Yết Kiêu là Bãi Tân. Dã Tượng ngại đường núi có thể bị phục binh, nên can và nói :”Yết Kiêu chưa thấy Đại Vương thì nhất định không dời thuyền”. Tin lời, Vương bèn đến Bãi Tân, quả nhiên duy chỉ còn Yết Kiêu vẫn kiên trì cắm thuyền đợi chủ tuớng. Trước tấm lòng trung nghĩa cao vời, Hưng Đạo Vương cảm khái than: “Ôi, chim hồng hộc muốn bay cao nhờ có sáu trụ cánh, nếu không thì cũng như chim thường thôi”. Nói xong, Ngài cho lệnh thuyền tách bến. Và kỵ binh của gịặc đuổi theo không kịp. Ngoài việc thuần hoá voi rừng, Dã Tượng còn có tài xông pha trận mạc nên được vua Trần Nhân Tôn phong Tiết Chế Binh Nhung. Đền thờ Ông hiện ở Đình Câu Dương, làng Câu Dương, huyện Thái Thạnh, tỉnh Thái Bình.

Trong Việt Sử Ca của Ngô Nguyễn Trần có đoạn Sử nhạc:

DÃ TƯỢNG

Giáp bào, đao bén, đứng lưng voi
Dã Tượng anh hùng diệt quân Nguyên
Ra vào sanh tử vì non nước
Muôn đời còn nhớ đến thanh danh
. . .
. . .

NGÔ NGUYỄN TRẦN

2. Thơ cảm tác:

DÃ TƯỢNG

Xả thân giúp chủ rõ can trường
Nghĩa khí khuông phò Hưng Đạo Vương
Nghị luận quân mưu tài dũng lược
Xông pha trận địa chí kiên cường
Tượng binh huấn luyện nên thuần thục
Bộ tốt trui rèn nắm kỷ cương
Dã – Tượng phương danh lưu sử Việt
Tấm lòng trăng sáng chiếu Hồ Gươm. . .

(Nguyễn Minh Thanh cẩn tác)

III. PHẦN KẾT

Dã Tượng và Yết Kiêu là 2 cận tướng cùng vào sinh ra tử với Hưng Đạo Vương. Cả 2 anh hùng đều xuất thân là thường dân, song có tài vũ dũng và lòng trung nghĩa cao vời. Dã Tượng chỉ huy đội Tượng Binh; Yết Kiêu chỉ huy đội Thủy Quân. Cả 2 ông đều một lòng khuyên Hưng Đạo Vương bỏ thù nhà lo giúp nước. Thù nhà: Do việc Trần Thủ Độ bắt ép Trần Liễu thân sinh Hưng Đạo Vương nhường vợ thứ đang có bầu 3 tháng là Công Chúa Thuận Thiên, chị ruột của Lý Chiêu Hoàng, cho vua Trần Thái Tôn, vì Lý Chiêu Hoàng không có khả năng sinh con. Hưng Đạo Vương nghe theo lời khuyên Yết Kiêu và Dã Tượng, quên thù nhà, toàn tâm dốc sức cứu nước; 2 lần đại thắng giặc Nguyên Mông, được toàn dân Việt Nam truyền tụng tôn xưng Đức Thánh Trần cực kỳ kính cẩn. Còn Yết Kiêu – Dã Tượng được hậu thế kính yêu tôn thờ cho đến hôm nay và mãi mãi. . .

Ấy là :

Ngày xưa: Đấng hào kiệt tựu kế an bang phương danh lưu vạn cổ. . .
Ngày nay: Lũ gian hùng cầu vinh mại quốc xú tánh lụy thiên thu. . .

Nguyễn Minh Thanh
Nguồn: Tác giả gửi

Chú giải:

Yết Kiêu: tên loài kình ngư biển Đông, rất dũng mãnh.

Dã Tượng: voi rừng.

Đã đóng bình luận.