Cảm xúc của một người thơ làm lính chiến

Posted: 14/09/2013 in Biên Khảo / Phê Bình, Nguyễn Thu Hà
Thẻ:

Nguyễn Thu Hà

nguoi_linh_luan_hoan
Thi sĩ Luân Hoán

Sinh tại Hội An vào năm 1941, ấu thơ trôi qua các vùng Đông Bàn, Trung Phước, Tiên Châu Tiên Phước, Hòa Đa Hòa Vang, để rồi trụ lại và trưởng thành tại Đà Nẵng, người làm thơ ghép tên cha mẹ làm bút hiệu này, hẳn khó đoạn lìa với tình đất quê hương. Nơi chốn sinh ra cũng ảnh hưởng phần nào đến tính cách của con người. Với dải Trường Sơn trải dài vây quanh, sông Thu Bồn, phố cổ Hội An cùng nhiều thắng cảnh khác…tạo nên một cảnh sắc làm ta luôn lưu luyến và không nguôi nỗi nhớ thương, mỗi khi nhớ về chốn quê nhà. Tình yêu quê hương của ông luôn bàng bạc trong hầu hết các tác phẩm thơ. Với 2 câu dưới đây, ta có thể hình dung về tình yêu đất nước của Luân Hoán, nhà thơ và Lê Ngọc Châu, người lính Quốc Gia.

“Quê hương nhắm mắt như sờ được
Đà Nẵng muôn đời trong trái tim…”

(Cám ơn đất đá trổ thơ. Lòng ta hạt bụi vu vơ bám hoài)

Ðà Nẵng, quê hương tuổi thơ của thi sĩ, với những địa danh đáng yêu và cũng đơn sơ mộc mạc như: Hòa Khánh, Cầu Ðỏ, Chùa Bà Quảng, Giếng Bộng, Chợ Mới, Ga Lớn, Bến Mía, Xóm Chuối… cùng những bóng hồng một thời nổi danh đất Quảng: Quí Phẩm, Như Thoa, Bích Quân, Phước Khánh, Thu Hà… hay những khuôn mặt bạn bè: Tường Linh, Phạm Thế Mỹ, Lê Vĩnh Thọ, Vĩnh Điện, Thái Tú Hạp v.v… Như thế hệ cùng trang lứa, khi đất nước lâm nguy, thi sĩ cũng xếp bút nghiêng lên đường làm tròn nhiệm vụ với tổ quốc. Ông thụ huấn khóa 24 SVSQ Thủ Đức năm 1966.

Nhà thơ Luân Hoán vốn là một nhà thơ thành danh từ trước ngày ly hương. Thơ ông từng đăng trên các tạp chí có tiếng trước 1975 như Bách khoa, Văn, Văn học, Phổ thông… Học làm thơ từ năm mới hơn mười tuổi… Theo thời gian, càng ngày hồn thơ của ông cứ thế mà trôi chảy trong huyết quản. Để rồi từ đó trên văn đàn thơ miền Nam Việt Nam có thêm một nhà thơ đích thực bên cạnh các thi hữu khác. Thơ của ông đã in thành sách từ năm 1964. Cả một đời sống với thơ, cho đến khi từ giã đời binh nghiệp vì bị trúng mìn, gửi lại một phần thân thể tại mặt trận Quảng Ngãi 1969 và giải ngũ năm 1970. Ông trở về đời sống dân sự sau đó và phục vụ tại một ngân hàng cho tới năm 1975. Và năm 1985, ông đã đi theo diện ODP định cư tại CANADA.

Tuy mất một phần thân thể. Nhưng không vì vậy mà ông quay lưng lại với thơ :

“Sáng đi như đuổi ma, chiều về như ma đuổi, người hai
chân bôn ba, ta cẳng rưởi giong ruỗi”

Và vẫn ước ao được làm thơ, không muốn thay đổi:

“ví như ta được thành ta nữa
thơ thẩn một đời lại thẩn thơ
bài thơ mai mốt ra sao nhỉ
có đỡ xót xa hơn bây giờ ?”

bia_tho_luan_hoan
Một số tác phẩm thơ Luân Hoán

Với ông, tôi cảm nhận thơ như bóng với hình. Thơ là hơi thở, là nguồn sống. Thơ là người tình thủy chung nhất, trong mọi hoàn cảnh cay nghiệt của cuộc đời. Thơ vẫn luôn hiện diện khắp nơi chốn đi về của ông. Thơ thay lời muốn nói. Với thi sĩ Luân Hoán, thơ là tất cả. Và trên bước đường ly hương ông vẫn miệt mài làm thơ. Mỗi bài thơ như một sợi tơ trong chiếc kén, cho ra những sợi tơ chắc và óng ả như thơ của ông vậy. Ông như con tằm đến thác vẫn còn vương tơ. Bước chân ra xứ người, hồn thơ của ông càng tinh tế hơn. Thơ của ông góp mặt trên văn đàn hải ngoại với số lượng đầu sách thật đáng kể.

Là một người vốn ham thích thơ, thật may mắn tôi đã được đọc một số tác phẩm thơ của nhà thơ Luân Hoán. Khi đọc lời bạt trong tập thơ “Về trời” (NXB Văn học năm 1964), mà tôi xin trích dẫn vài đoạn trong lời bạt của nhà thơ Dương Kiền:

Anh Luân Hoán,

…Có nhiều lần tôi tự hỏi, trong một cuộc thế mịt mù và hỗn độn, nhiều máu và nước mắt, thi ca và tiểu thuyết có làm được gì?có thay đổi được gì? với âm thanh nào, khi mỗi ngày hàng trăm người, dù có nhãn hiệu nào gục chết trên khắp phần đất quê hương? Nhiều lần tôi cầm viết lên những danh từ to lớn mà lòng cảm thấy hổ thẹn. Chúng ta có tự lừa dối bằng những ngôn ngữ xảo trá hay không? có những lời lẽ bi thương nào sánh được với tiếng khóc của mẹ già, trẻ dại… trong tối tăm, chết chóc.

Gia tài quê hương của chúng ta đã bị xâu xé gần hết, chúng ta chỉ còn lại một di sản quý báu: tình tự con người. Tình tự con người bất chấp mọi tương tranh, chia cắt, vùi dập, thủ đoạn… nó sáng ngời trong đêm tối kéo dài từ hai chục năm nay, nó là ngọn lửa sưởi ấm những tâm hồn còn biết hướng về nhau, những con tim còn biết xôn xao mơ ước. Nó làm thành một thế giới trên những thế giới của tham vọng và hận thù.

Nhưng tôi nghĩ rằng, tôi bắt buộc phải ghi lên giấy, một ý nghĩ có thực của tôi: thơ anh là những âm thanh tình tự thiết tha và tất cả giá trị của anh là ở điều đó. Vì thế đôi khi anh bất chấp những xảo thuật của ngôn ngữ để làm tăng vẻ đẹp hình thức; anh chỉ quan tâm tới một điều: nói tiếng nói của con người, tìm thấy nhau trong nhịp điệu của sự sống đầy yêu mến thiết tha”

Dương Kiền

Từ lời bạt trên của nhà thơ Dương Kiền, tôi liên tưởng và cảm nhận nhà thơ Dương Kiền đã nhận xét chính xác về thơ, cũng như con người của nhà thơ Luân Hoán, khi đọc một quyển thơ nhạc khác của Ông.

Tập thơ nhạc này xuất bản năm 1969 và đã ra mắt bạn yêu thơ từ rất lâu. Đó là quyển HÒA BÌNH ƠI, HÃY ĐẾN. Tập thơ này được viết chung với hai người bạn, đó là nhà thơ Lê Vĩnh Thọ và nhạc sĩ Phạm Thế Mỹ. Cả ba tác giả đều nói lên những tâm tư tình cảm, những bức bối, những suy tư trăn trở về mọi mặt của mình, khi quê hương Việt Nam đang oằn mình trong khói lửa của chiến tranh và được viết với tư cách là người VN sống trong chiến tranh. Tôi chỉ xin mạn phép nói cảm nhận về phần thơ của nhà thơ Luân Hoán mà thôi.

Trong phần của mình, Luân Hoán viết tất cả 13 bài thơ, theo thể tự do. Nội dung xuyên suốt là tiếng nói xuất phát từ trái tim của một người Việt Nam và là một người lính, trực tiếp chiến đấu bảo vệ đất nước. Trên mọi nẻo đường hành quân, dù trong lúc đi hay ngơi nghỉ, ông đã dùng trái tim mình để quan sát, nhận định về quê hương, về cuộc chiến, về tình đồng đội, về tình người, về hai mặt của chiến tranh. Tất cả những gì đã xảy ra, đang xảy ra, ông đều ghi nhận và nói lên những cảm nghĩ, những mong ước, những yêu cầu, thậm chí phẫn uất…Viết với tấm lòng của con người VN, luôn yêu thương, trăn trở, khắc khoải, suy tư… trước nỗi thống khổ của toàn dân tộc về hiện tình của đất nước. Khi cuộc chiến đang ngày càng đưa con người đi đến chỗ diệt vong. Quê hương phủ màu đen tối và hòa bình như một kẻ chơi trò trốn tìm, thoắt chốc ẩn hiện, cuối cùng cũng chìm dần vào bong đêm. Xa xa hỏa châu vẫn sáng rực soi sáng một vùng tăm tối cùng âm thanh vang rền của đạn bom. Xác người vẫn cứ ngày càng chất chồng khắp nơi. Máu vẫn thấm đầy trên mọi nẻo đường của làng mạc, thôn xóm… Ôi quê hương yêu dấu: “Hòa bình ơi, hãy đến”. Chúng tôi mong lắm đàn bồ câu hòa bình tung cánh trên bầu trời trong xanh VN. Hãy đến nhé, mong lắm… Một hy vọng thật mong manh. Hy vọng trong tuyệt vọng.

Mời các bạn hãy lắng nghe ông lên tiếng:

“Trên con đường tìm đến dòng sông, trên con đường tìm đến mặt trời, trên con đường tìm đến những nụ cười anh em, chúng tôi đang bước bằng những bàn chân tha thiết, những bàn chân hân hoan xót xa, những bàn chân đã làm quen với hy vọng. Chúng tôi không cầm trong tay vật báu nào, ngoài trái tim còn nồng nàn máu nóng và bộ áo quần còn ấm áp mùi khói lửa.

Trái tim chúng tôi sẽ bỏ lại trên mỗi bước chân đi, sẽ làm chiếu hoa trải đường hay sẽ làm những mũi tên hướng dẫn.

Bộ áo quần chúng tôi xin được giữ lại trong suốt cuộc hành trình để một ngày nào đó khi giáp mặt cùng niềm vui, chúng tôi cởi ra trân trọng đặt lên bàn thờ Tổ quốc, quỳ gối, cúi đầu thảng thốt kêu lên “thôi giã từ chiến tranh, giã từ thần chết”. Hỡi anh em, hỡi bà con toàn thể đồng bào Việt Nam có thể chúng tôi là những

Ôi chúng tôi đã bắt đầu quá muộn hay đã quá vội vàng?

Ôi chúng tôi phải mời những ai cùng đi trên đoạn đường chào đón tự do này? Tay chúng tôi đã nắm chặt nhau. Lòng chúng tôi đã che chở nhau. Chúng tôi đã bắt đầu ca hát. Gió sẽ phụ họa, chim sẽ phụ họa, hát tưng bừng, hát âm thầm, hát nức nở, hát thảm thiết kêu gọi: “Hòa bình ơi, hãy đến”

Chúng tôi nguyện gào thét đến tắt hơi. Được an nghỉ trong bóng mát bình an là điều mơ ước độc nhất chúng tôi dám nghĩ tới. Quan tài của chúng tôi là đó.

Chào anh em
Chào bà con toàn thể đồng bào Việt Nam chúng ta”.
(Lên Tiếng)

Là một người lính, trực tiếp thấy những cái được và mất trong cuộc nội chiến và cũng như thấy rõ nỗi buồn chiến tranh, nhất là thời điểm 1965 trở đi. Chiến trận hầu như đang bước dần vào giai đoạn khốc liệt. Nước Mỹ, mang danh là đồng minh, đã ồ ạt mang quân sang nước ta. Một trận chiến từ lòng quê hương Việt Nam. Chỉ vì ý thức hệ, vì tham vọng bá chủ của một vài cá nhân đại diện cho một đất nước… Để  cùng một cội nguồn dân tộc mà nỡ tiêu diệt lẫn nhau. Chia đôi đất nước. Chim vẫn dang rộng cánh bay, và mây vẫn lang thang trôi trên bầu trời cao xanh lộng gió,  sông vẫn chảy đời sông, cá vẫn tung tăng bơi lội dưới nước … Nào biết đâu là ranh giới chia cắt! Là người Việt Nam, sống trong lòng cuộc chiến khốc liệt này, chúng ta mong và luôn ao ước chỉ hai từ: HÒA BÌNH, chao ơi, sao thật khó! Niềm mơ ước đất nước thanh bình với những đàn bồ câu trắng chao liệng trên nền trời trong xanh. Với những thửa ruộng chín vàng óng, tỏa hương thơm ngát và rộn rã tiếng cười nói râm ran khi mùa gặt về. Với đàn trâu nằm nhai cỏ bên gốc đa già trong buổi trưa hè. Tiếng võng bà, mẹ đưa cháu con ngủ với những bài ca dao lục bát thân thương. Tiếng lũy tre xào xạc trong đêm trăng, nằm nghe bà kể chuyện cổ tích bên hiên nhà…

Nhà thơ, người lính Luân Hoán đã trăn trở, băn khoăn lên tiếng với những ước mơ, nỗi lòng của một con người trong một đất nước đang chiến tranh… Thoạt nghe, ta thấy điều mơ ước thật đơn giản, nhưng thật ra, rất khó thực hiện bởi nhiều lý do… “Hòa bình ơi, hãy đến”. Chúng ta khản cổ kêu gọi, chúng ta tìm kiếm,    nhưng hình bóng của hòa bình còn mơ hồ và xa vắng.

Khi Quân Mỹ đổ người và của vào Miền nam Việt Nam chúng ta qua hình thức viện trợ, đồng minh… một cách vô vụ lợi (ta hãy tạm tin như vậy). Những người lính Mỹ, khi ra đi họ chưa kịp, hay chỉ mới biết sơ qua đất nước và con người VN. Qua các phương tiện truyền thông, họ cũng biết sang VN để chiến đấu, mang lại hòa bình. Họ là những người lính gồm nhiều thành phần, xa quê hương, chiến đấu cho một tổ quốc xa lạ, được trang bị vũ khí tối tân… Thế nhưng có lẽ họ thiếu tình người, thiếu sự tôn trọng con người và văn hóa của nước sở tại…Và với bản tính hiếu thắng của kẻ mạnh đi giúp nước yếu. Và vô hình trung, họ đã gây nên biết bao nỗi căm phẫn, xót xa, đau khổ cho người dân ta, hãy nghe Luân Hoán:

“Dù các bạn đã hãm hiếp người em gái quê hương của chúng tôi
Dù các bạn đã cao hứng mở hết số xe cán chết người lao động chúng tôi
Dù các bạn đã vô cớ đập phá những hiệu ăn, quán nước nghèo nàn chúng tôi
Dù các bạn đã có những hành động thiếu lịch sự kém văn minh
Những hành động không phải của con người
Chúng tôi cũng sẵn sàng thông cảm
Sẵn sàng tha thứ”

Những người lính Hoa Kỳ trẻ tuổi, xung phong sang giúp chúng ta, chiến đấu để mà chiến đấu. Họ đi vì nghĩa vụ đối với nước họ. Xa gia đình để sang một nước cách gần nửa trái đất về khoảng cách địa lý. Họ đi bảo vệ tự do không vụ lợi. Thế nhưng họ chưa hiểu gì về con người và tâm hồn VN. Họ ngang nhiên xem thường chúng ta. Họ đâu biết rằng dân tộc VN, vốn có truyền thống uống nước nhớ nguồn. Chúng ta biết ơn và ghi nhớ sự giúp đỡ của họ trên mặt trận mang lại hòa bình và tự do trên quê hương. Nhưng ngược lại cũng biết đau xót, biết nhục nhã trước những gì đã và đang xảy ra khi bước chân của họ đặt lên mãnh đất bé nhỏ này.

Với nỗi đau xót cùng niềm tự ái dân tộc khi quân đội Hoa Kỳ sang giúp chúng ta trên mặt trận bảo vệ tự do. Những việc họ đã và đang gây ra khiến nhà thơ của chúng ta phải thốt lên:

“Các bạn đã đến Việt Nam
Các bạn đã uống nước của quốc gia nhỏ bé này
Nhưng các bạn chưa hiểu được tâm hồn của dân tộc này
Các bạn chưa nhìn thấy nỗi khát khao mong ước của dân tộc này
Các bạn không điếc
Các bạn không đui mù
Tại sao các bạn vừa chiến đấu
Vừa tập luyện thui chột phá hủy những cơ quan trời sinh đó
Đừng tưởng các bạn đã đứng cùng chúng tôi một phòng tuyến
Mặt dù chúng ta đều nằm trong một mặt trận chống cộng
Và cùng đổ mồ hôi đổ máu
Đã cùng hy sinh
Nhưng máu và xương thịt các bạn dành cho xứ sở tôi
Chưa đủ để chứng tỏ các bạn thành thật chiến đấu cho tự do
Thành thật giúp đỡ một quốc gia nhược tiểu không vụ lơi
Ôi rất may
Dân tộc chúng tôi không biết căm hờn
Chỉ biết tha thứ và bao dung
Dù khổ đau vẫn còn tin tưởng
     
(Mặt trời sẽ mọc sau cơn mưa)

Là một người lính luôn suy tư, day dứt trước những tan thương khi chiến tranh ùa đến. Nhà thơ Luân Hoán đã từng đặt ra những câu hỏi với các binh sĩ Hoa kỳ, những người bạn không phân biệt màu da đã từng cùng chiến đấu trên một mặt trận. Ông đã thấy rõ máu và nước mắt của họ. Không ai giết được tình người trong trái tim. Họ đã nhỏ nước mắt trên xác đồng đội. Lệ đã lem màu mực trên những lá thư thăm gia đình được viết từ một xứ sở xa xôi và nhỏ bé. Những dòng lệ thật hùng vĩ và cũng thật xót xa. Thế nhưng ông cũng hỏi họ tại sao vẫn chưa chiến thắng trong cuộc chiến tranh Việt Nam. Mặc dù những người lính được trang bị khí giới tối tân… nhưng ông vẫn linh cảm họ sắp nhượng bộ, sắp bỏ cuộc, sắp thua cuộc. Thua đây vì không phải thiếu yếu tố tàn ác, hay lòng can đảm…Ông muốn tất cả những người cầm súng tại VN, những người đang ngồi tại tòa Bạch ốc, hay có mặt tại bàn họp Ba Lê… Phải tự vấn lương tâm và nói với chính mình là chiến đấu vì tự do, bảo vệ an ninh, vãn hồi hòa bình cho một quốc gia nhược tiểu. Lại càng không phải là một cuộc mua bán, trao đổi…Và họ phải hiểu người dân VN luôn khao khát hòa bình, muốn sống tự do… rất oán ghét chiến tranh… Và thi sĩ đã xác tín:

“Quốc gia của tôi không nghèo như các bạn đã lầm tưởng
Bao giờ chúng tôi còn hơi thở
Chúng tôi còn đủ sức để chiến đấu
Tìm tự do và bảo vệ hòa bình
Các bạn hãy từ giã Việt Nam
Nếu đã đuối sức
Nếu đã biết xấu hổ
Đã không thực tâm trước khi đến đây
Các bạn hãy mang lời cảm ơn này của chúng tôi
Làm một chút chiến thắng
Về ghi trong lịch sử các bạn
Chúng tôi cầu mong những trang sử đó không làm các bạn buồn phiền chua xót”.

(Thư cho người Hoa Kỳ)

Chiến tranh trong lòng quê hương xảy ra, kéo theo cả một hệ lụy. Nhà tan, cửa nát, đồng ruộng hoang phế khô cằn. Trâu bò chết đói, xác người chất chồng… Mẹ mất con, vợ mất chồng, con mất cha… Thiếu nữ chưa vui với niềm hạnh phúc lứa đôi, đã trở thành quả phụ… Không khí trên quê hương đầy mùi tan thương, ai oán. Bom rơi, đạn nổ trên khắp nơi, thậm chí cả những nơi nghi có phe địch, khiến người dân thành kẻ trắng tay. Giữ được nguyên vẹn hình hài cũng là phúc! Giờ phải vào trại tỵ nạn… thành nạn nhân chiến tranh. Mang trong lòng nỗi niềm oán trách, ghét nhất là VC, ghét nhì là Mỹ. Ngẫm nghĩ cũng thật đúng. Nhà thơ Luân Hoán và cũng là người lính của chúng ta, ông cũng bức xúc, trăn trở khi nhìn thấy thực trạng của quê hương. Với tư cách người lính, ông đã mạnh dạn đặt ra những câu hỏi. Hỏi để nói lên những điều mắt thấy tai nghe, những nghi ngờ về cuộc chiến đã và đang xảy ra với người đứng đầu đất nước:
…,,
“Có mấy ai chờ đợi thực tâm hòa bình?”
Mấy ai thực tâm hân hoan đợi hòa bình
Ngoài ông tổng thống
Ông tổng thống nước Việt Nam Cộng Hòa
……
Ông đại diện cho chúng tôi
Ông đã thắng trong một cuộc tranh cử tương đối ít gian lận
Ông đã có chiếc ghế ngồi đủ để ăn nói
Cám ơn ông đã đau xót, đã buồn phiền
Đã tham khảo rất nhiều ý kiến
Đã cân nhắc đã đánh giá
Đã suy nghĩ mưu tính
Thế nào để dành phần thắng cho chúng ta
Để ông còn được lòng dân kính mến
……….
Tôi nói có ngọn đèn
Tôi tin tưởng ở ông
Chúng tôi tin tưởng nơi lương tâm ông
Ông trong sạch hay ông bẩn thỉu
Ông nhỏ nhặt hay ông bao dung
Chắc ông sẵn sàng tha thứ
…….
Và mới dám hỏi nhỏ
Hòa bình có lợi hay có hại cho những người đang lãnh đạo quốc gia
Câu trả lời chắc còn lâu tôi mới nhận được
Nhưng tôi tin
Tôi không thể vào tù
Hay không thể ra pháp trường
Trước khi sống một giây vui sướng
Bởi chúng tôi đang nói với ông
Ông là vị tống thống
Không phải là tên cai ngục
Cũng không phải tử thần
Ông đang cho tôi tự do
Chút tự do ngôn luận
…..
Mong ông thật anh minh
Mong ông thật rộng lượng
Ông là vị tổng thống nước Việt Nam Cộng Hòa
Nửa phần đất của một quốc gia còn tự do
Ông hãy cho tôi nói
Ông hãy để tôi phát biểu lời của đám dân nghèo khổ
Lời của đám binh sĩ dưới quyền ông.
Chắc ông đồng ý
…….
Tôi sẵn sàng đứng bên ông
Tôi sẵn sàng đổ máu
Không phải cho ông đâu
Mà cho tự do cho dân chủ
Cho toàn thể đồng bào chúng ta
Sống một đời an vui.”

……
Với tấm lòng yêu quê hương, con người tha thiết. Bước chân của người lính nhà thơ đã in dấu trên mọi nẻo đường quê hương. Ông đã quan sát, ghi nhận hết mọi mặt của cuộc sống thời chiến qua con tim đầy nhân bản. Chiến tranh là một thực tại đang hiện hữu. Và người dân đã và đang sống trong tâm trạng vừa lo âu, sợ hãi, đau khổ lẫn oán trách kẻ gây ra cuộc chiến. Những nơi gần chiến tuyến, sống trong nỗi lo âu vì tên bay, đạn lạc, thiếu thốn mọi mặt. Họ đã được tập trung vào khu định cư. Chính phủ cũng có chương trình hổ trợ, giúp đỡ vật chất để lợp lại mái nhà… Họ đã phải nghe giảng từng giờ về chính phủ của người nghèo,  nhưng chính phủ có biết họ hiện sống như thế nào. Chính sách thật hay, nhưng liệu tiền bạc, vật phẩm có đến tay người dân? Có những kẻ chỉ vì mối lợi mà bỏ đi tình người trong cuộc chiến. Chúng lợi dụng chức tước, tìm cách moi móc những khe hở của chính sách. Trục lợi, và sẵn sàng tìm bất cứ thủ đoạn để thu lợi cho cá nhân, cho ê kíp của chúng. Càng chiến tranh, kiếm chác càng dễ. Chúng đúng là những kẻ hút máu người. Chúng nằm trong hàng ngũ tướng tá, nằm trong các bộ máy chính quyền. Lũng đoạn cả một chính thể với chiêu bài luôn vì dân, vì tình huynh đệ chi binh…Nhưng thật ra chỉ vì tư lợi mà thôi. Ăn chặn tất cả những gì mà có thể biến thành tiền. Và mặc dù chính phủ cũng đã hạ vài tên tham nhũng, nhưng chỉ là muối bỏ biển. Chúng vẫn còn hiện diện khắp nơi, tinh vi hơn…Ai chết mặc ai, để rồi nơi những vùng chiến tuyến xa xôi, muốn xây công sự hầm hố khi khan hiếm vật dụng, đành dỡ nhà dân! Họ hưởng thành quả trên cái chết của người lính. “Nhất tướng công thành vạn cốt khô”: Ta hãy nghe thi sĩ hỏi trước cảnh bất công:
…..
“Thưa ông
Tôi chỉ là tên lính của một nước có tự do dân chủ
Có thể tôi chưa đủ trình độ
Chưa có quyền ăn nói
Chưa hiểu thấu đàn anh chúng tôi
Những đàn anh cấp tá, cấp tướng.
Những đàn anh ngồi chỉ tay
Ngồi vẽ vời trên phóng đồ hành quân
Uống bia ăn đồ hộp
Họ nghĩ gì khi được tin chiến thắng
Họ nghĩ gì khi xác anh em chúng tôi
Mất đầu mất tay
Ai đã biết vui và ai đã biết buồn

….
Là người cương trực, đã từng vào sinh ra tử. Vì thế, người lính Luân Hoán đã mạnh dạn nói và viết những điều cần thiết, những điều mắt thấy tai nghe. Những điều chướng tai gai mắt, về những cấp tướng tá đã quá quen sống trong một xã hội lợi dụng, khai thác chiến tranh đến độ không còn lương tri. Cho người đứng đầu đất nước:
….
Hãy nhớ là tôi vô cùng vui vẻ
Vì còn tin rằng
Chúng ta đang sống trong tự do
Và cánh cửa hòa bình đã có hy vọng mở
Lẽ nào tôi vào tù
Khi nói những điều cần nói
Khi phải viết những điều cần viết
Tôi phải được hơn Trần Dần
Tôi phải được hơn những văn nghệ sĩ miền Bắc
Nên không bao giờ ăn năn
Không bao giờ lo sợ
Khi phải đệ trình lên tổng thống
Lời quốc dân”
….

Ông mạnh dạn và cương quyết:

Tôi không có tội gì khi được hỏi:
“Có mấy ai thực lòng chờ đợi hòa bình
Đến với Việt Nam chúng ta”

(Câu hỏi của một người lính)

Sau những ngày hành quân gian khổ, trực tiếp vào sinh ra tử, những người lính tác chiến thường trực đối diện với cái chết, sống trong cõi chết. Nhưng không vì thế mà họ chai đá tâm hồn.Vẫn còn nhỏ được lệ và ngậm ngùi cho một người nằm xuống. Họ vẫn còn một trái tim thấm đẫm tình người. Biết xót xa và đau khổ cùng vận nước nổi trôi…Ta hãy nghe người lính Luân Hoán chia sẻ với đồng đội:

“Hỡi anh em
Xin ngồi thật gần nhau
Xin giữ một giây yên lặng
Tưởng niệm những người đã hy sinh
Rồi sau đó anh em có quyền hút thuốc
Có quyền ngồi tự do
……
Nhưng rất cần nghe nhau nói hôm nay
Và tôi xin được nói cùng anh em điều này
Chúng ta là những người lính
Những người lính tác chiến
Không tiền bạc không thân thế
Thường trực sống vào cõi chết
Nhưng chúng ta còn tâm hồn
Còn đủ tình yêu thương
Và không hổ thẹn làm con người”…

Nhận thấy anh em đồng đội đã cùng mình xông pha vào nơi có ngày đi, nhưng không biết ngày về. Chiến đấu vì quê hương, vì tự do hòa bình cho đất nước. Thế nhưng họ được gì nào khi hy sinh cả một thời tuổi trẻ. Ra đi, để lại gia đình, vợ con, người yêu dấu…Với tấm lòng nhân hậu, nhìn cuộc chiến ngày càng khốc liệt, máu đổ xương rơi…một viễn ảnh không tươi sáng cho toàn dân nói riêng cùng thân phận người lính. Nhà thơ xót xa đau đáu cõi lòng:

“Hỡi anh em
Tôi cũng là tên lính tầm thường
Chỉ hơn anh chút cấp bậc
Nhưng thật kém xa anh em lòng hy sinh
Sự khổ nhọc
Nếu tôi có quyền nhân danh tổ quốc
Nhân danh lịch sử
Tôi sẽ xin được gửi đến anh em
Một lời cám ơn
……
Tôi cũng xin được ngợi ca anh em
Ngợi ca lòng dũng cảm
Không phải dũng cảm giết người
Mà dũng cảm chịu gian khổ
Chịu xa cách gia đình
Tôi biết anh em rất buồn chán
Trong cái tập thể ô-liu này
Giết giặc lấy súng giặc
Còn dễ hơn tìm một nụ cười sung sướng.

Tôi không dám chỉ trích
Cũng nào dám trách móc
Bởi chỉ trích anh em là chỉ trích tôi
Trách móc anh em là trách móc tôi
Chúng ta đều là một
Ôi xã hội
Ôi hoàn cảnh đáng thương của một
Quốc gia nhược tiểu
Biết bao cảnh đau lòng
……
Ngậm ngùi uất ức
Nhiều khi muốn thét lên như người mất trí
Trời ở đâu
Sao trời chẳng sụp giết cho hết chúng tôi?”

Trên con đường hành quân qua các thôn xóm, làng mạc nơi vùng quê xa xôi, hẻo lánh cùng các đồng đội. Tâm tư tình cảm của nhau, nhà thơ đều cảm nhận trong trái tim nhân hậu của mình. Từ đó ông đã bày tỏ những điều thao thức, cũng như những suy tư, khao khát… của mình, ta hãy nghe:

“Hỡi anh em
Tôi đã đọc những giòng chữ khắc trên tay
Trên ngực và trên vai anh em
Tôi cũng đã đọc những giòng chữ trên bờ tường
Trên vách nhà bỏ hoang
Anh em đã vội ghi trong những cuộc hành quân
Nhờ đó tôi rất hiểu anh em
Như đã hiểu chính tôi
Khi phải nói phải viết những giòng chữ này
…..
Ôi cuộc đời
Ôi tuổi trẻ Việt Nam quá đau buồn
Muốn cười không đủ giọng
Muốn hát không ra lời
Con đường muốn đi qua
Hầm chông rào kẽm
Ngôi nhà muốn vào thăm
Lựu đạn bãi mìn
Tuổi trẻ 20 năm sầu tủi
Tuổi trẻ Việt Nam hằn triệu vết thương.”

Với cái nhìn đầy bi quan về chiến tranh trên quê hương. Với tâm hồn luôn đau xót trước những gì đang bị cướp đi một cách thật bất ngờ. Ông luôn mong các đồng đội mình hãy giữ chắc tay sung, cẩn thận đề phòng địch vì họ không biết chúng ta chỉ vì tự vệ. Thực tâm chúng ta đâu muốn máu đổ thây rơi. Chúng ta vẫn còn tình người. Và ông khuyên hãy giữ gìn mình. Người lính không chỉ sống cho mình mà hãy nhớ sống vì sự chờ đợi của cha mẹ già bên bếp lửa chiều. Vì những lời lẽ thắm tình thủy chung đầy nước mắt của người vợ trẻ trong lá thư sẽ gửi, cùng nụ hôn, tiếng cười thơ ngây của con trẻ…mong cha trở về, mà có lẽ chúng cũng chưa từng thấy mặt bố. Thời chiến nên việc về phép chỉ là may rủi. Tùy vào thời điểm thích hợp….
….
“Gắng mà giữ mình
Đạn tránh người hay người tránh đạn
Hòa bình đã sắp đến nơi
Nghe nói người ta đã lăm le đóng dấu ký tên
Đã đe dọa tuyên bố
Hỡi anh em
Thôi tôi dừng nơi đây
Chúc anh em ngủ ngon bên hố chiến đấu
Bên cô vợ không trái tim lì lợm của anh em”

(Trình bày cùng tâm hồn mũ sắt )

Xuyên suốt hành trình thành lập một đất nước, một quốc gia. Loài người chúng ta phải trải qua biết bao cuộc chiến đấu. Xương máu của bao đời đã thấm ướt mảnh đất. Mục đích để giành lấy hòa bình và thành lập nên một quốc gia. Và chúng ta gọi quá trình phát triển đã qua này của một dân tộc là lịch sử. Nhưng với nhà thơ, người lính Luân Hoán. Lịch sử đối với ông chỉ là tên chúa tể sát nhân, tên vua bạo ngược gian ác. Đã quyến rũ, dụ dỗ, lường gạt nhân loại qua nhiều thời đại. Là kho chứa máu và nước mắt. Và để hình thành nên một nước Việt Nam, biết bao sự hy sinh về người và của của hai phía. Máu và nước mắt đã thấm đẫm trên quê hương. Máu của bạn hay thù đều là giòng máu đỏ, cùng một cội nguồn mà thôi. Ông không thể nào yên tâm khi nhìn lại lịch sử của dân tộc. Với ông tất cả lời kêu gọi đấu tranh, chiến đấu vì một nền tự do, vì hòa bình cho đất nước chỉ là một sự dối trá, phỉnh nịnh. Là mưu đồ thống trị của kẻ muốn làm bá chủ… Ta hãy nghe:
…..
“Hỡi lịch sử nhân loại
Tôi không dám nhìn đâu xa
Không dám ba hoa vẽ vời
Tôi chỉ xin được nhìn Việt Nam
…….
Tôi biết toàn thể bạn bè tôi anh em tôi đồng bào tôi
Và cả tôi nữa
Đang nối gót theo sát tổ tiên đàn anh
Trong chuyến viễn du tạo lịch sử
Tất cả sẽ lần lượt gửi tặng những giọt mồ hôi
Những giọt máu
Ôi những giọt máu lịch sử đã cuồng nhiệt đón nhận
Đã hớn hở thu hút
Không giọt máu nào thừa thải
Không giọt máu nào nhơ bẩn
Kể cả máu kẻ thù
Và mọi người bắt buộc phải đồng ý
Tất cả máu đều đỏ thắm
Đều thơm ngát đều nồng nàn đều trong sạch

Cám ơn lịch sử
Đã nhận máu không phân biệt không chia rẽ”

Dưới mắt ông, kẻ thù cũng cùng mục đích như ta. Cũng chiến đấu tiêu diệt lẫn nhau, không tìm hiểu nguyên nhân cuộc chiến… Hãy nghe:

“Hỡi người bạn đang hăm hở lùng kiếm tôi
Như tôi đang khao khát tìm gặp bạn
Bạn có biết chúng ta cần phải cám ơn nhau
Bởi chúng ta đang giúp đỡ nhau
Hăng hái cho lịch sử một giọt máu
Có thể chúng ta đều ngây thơ lãng mạn
Nhưng không thể dừng, không thể tránh được
Cái cử chỉ hào hiệp xót xa đó”

Và nhà thơ tự an ủi mình:

“Ôi rất may
Trời đã sinh tôi với hai bàn tay
Chỉ viết được thơ ca ngợi mặt trời tình yêu cuộc đời
Giá phải viết lịch sử
Còn khổ đến thế nào”

Trong cuộc đấu tranh giành độc lập tự do, ta phải kể đến công ơn của người mẹ. Thương người mẹ Việt Nam đã góp phần máu xương cho cuộc sống còn của một dân tộc, một đất nước. Ông đã ngậm ngùi và cũng tự hào về người Mẹ Việt Nam:

“Mẹ thân yêu
Mẹ đã hoảng hốt đã lẫn trốn đã đào tẩu
Cuối cùng mẹ cũng chết
Xin đừng buộc tội cho bệnh tật cho nghèo đói
Mẹ đã chết vì chiến tranh
Mẹ đã cho lịch sử một giọt máu
Cũng như rất nhiều người khác
Hãy tự hào và thổn thức gọi to
Giọt máu của tôi
Ôi giọt máu Việt Nam cao quý”

Tự hào về con người Việt Nam, không phân biệt bạn thù. Ông mong ước lẫn khẳng định:

“Tôi là người đa tình
Tôi cũng thừa mơ mộng
Tôi muốn dùng máu mình thay mực sơn
Nắn nót viết truyền đơn biểu ngữ
Thông báo cho tất cả đồng bào
Cho toàn thể anh em thế giới
Biết chúng ta là người Việt Nam
Biết chúng tôi là người Việt Nam
Người Việt Nam không mưu toan thủ đoạn
Không mơ dập đá vá trời
Cũng không bao giờ biết làm nô lệ
Và một điều nếu có thể ghi thêm
Là không mơ có lịch sử
Một lịch sử đầy máu người

Mỗi người Việt Nam phải là một Thích ca
Mỗi người Việt Nam phải là một Jésus
Phải là một bài thơ sáng sủa hơn bài tôi đang viết.

(Tặng máu cho lịch sử )

Nhà thơ Luân Hoán đã trưởng thành trên quê hương đang chiến tranh. Với nhận xét tinh tế, với tâm hồn của người con Việt sống trong chiến tranh. Bước chân người lính Luân Hoán đã đi, đã thấy, đã đau đớn, đã xót xa cũng như ngậm ngùi khi nhìn thấy thực trạng của quê hương thời chiến. Một thực tại tàn nhẫn đầy máu và nước mắt. Bom rơi, đạn nổ giết chết không chừa một ai. Và trên mảnh đất quê hương, từ  nơi thành thị hay vùng quê nghèo khó, nơi núi rừng xa xôi… biết bao máu xương của người dân vô tội, của người lính đã hòa tan, thấm vào lòng đất quê hương… Và trở thành nguồn dinh dưỡng cho cây cỏ, hoa lá đâm chồi kết nụ. Nói cụ thể hơn là họ đã được hóa kiếp, đầu thai thành nụ hoa. Những nụ hoa có tâm hồn. Những nụ hoa được kết tinh bởi xương máu của những con người đã ngã xuống cho quê hương, vì quê hương. Một quê hương thống khổ. Chúng ta lặng lòng khi thi sĩ bày tỏ tấm lòng mình:
…..
“Một ngày nào biết bao nhiêu đạn nổ
Biết bao vạt đất khu vườn hoang vu cằn cỗi
Biết bao nóc nhà ra tro
Chim có cánh chim bay cao
Sao chim chẳng thấy giòng sông mất cầu
Sân ga mất con tàu
Con đường mất bóng người qua lại
Tôi chắc chim sẽ không vui
Và chim cũng biết buồn
Thôi chim đừng kiếm tìm người nữa
Họ đã trở thành những nụ hoa
Những nụ hoa đang bắt đầu tưởng niệm
Đang nắm chặt tay nhau
Buồn bã theo xe tang vào nghĩa địa
Ôi nắm đất này
Ôi trái tim này
Thôi vĩnh biệt quê hương”
Thương tiếc ngậm ngùi trong tim:
“Có tiếng khóc nào trong gió
Có tiếng khóc nào trong tim tôi
Hỡi quê hương
Xin quỳ chân cúi mặt
Cho anh em bạn hữu tôi
Cho những người đã ra đi làm nụ hương tươi sáng
Được làm vòng hoa
Thiết tha choàng cho quê hương tình yêu thương đó
Ôi vòng hoa bằng trái tim”.

Cùng sự xúc cảm tràn ngập tâm tư khi nhìn thấy anh em đồng đội đã ngã xuống  trên mảnh đất quê hương. Ông muốn bù đắp chút ít cho sự mất mát này của đồng đội, ông đã:

“Tôi xin được yêu cầu
Anh bạn nhạc sĩ hát một bài truy niệm
Để thay những chiếc huy chương, những cành dương liễu
Tôi cũng dám được đề nghị
Những đồng lương cuối cùng gọi là tiền tử tuất
Được đóng lại thành sách
Để viết tiểu sử người đã chết
Thay vì mua quan tài
Mua vải may quốc kỳ đưa tiễn
Dù chẳng là thi sĩ
Tôi cũng sẽ làm thơ để lót huyệt”

Xót xa:

“Quê hương ơi hãy quỳ gối cúi đầu
Đón nhận những nụ hoa đang choàng vai cho quê hương đó
Thôi một đời con trai
Trân trọng:
Tôi mang giày đội mũ
Cầm súng choàng hoa”

(Choàng hoa cho quê hương )

Trong hành trang của người lính, ngoài quân phục, giày botte de sault,..còn có tấm poncho. Sau những ngày hành quân cực khổ, thoát chết trong đường tơ, kẻ tóc… Với người lính, có một giấc ngủ yên, không bị rình rập, không bị ám ảnh bởi bom đạn sẽ rơi xuống bất ngờ… thật hạnh phúc! Một hạnh phúc không thật dễ dàng trên bước đường hành quân. Và khi được ngã lưng trên tấm poncho, người lính tìm kiếm một giấc ngủ bình an. Trong giấc ngủ, những suy tư, những nỗi niềm, những mong muốn, những trăn trở, những tâm tư tình cảm… về cuộc chiến nghiệt ngã đang xẩy ra. Luôn nằm trong trái tim người lính, sẽ hiện ra trong giấc mơ như những thước phim đang quay. Nhà thơ mơ mình đang nói chuyện với dòng sông. Dòng sông tươi mát mới phiêu lưu về. Và ông mường tượng như một người tình. Nằm gối tay lên mình, thủ thỉ về những điều mắt thấy tai nghe, và những điều này như những mảng màu đầy màu sắc. Nhưng nổi bật nhất là đen xám do trộn biết bao máu, xác người lính, dân vô tội, ngọn cỏ, hoa lá thấm máu, nước mắt của người thân, vỏ đạn, mảnh bom, ruộng đồng xơ xác… mà một người lính như ông chỉ với nét vẽ nguệch ngoạc vẽ lên với cây cọ là con tim. Và bức tranh này đã được đóng khung, tặng lại cho lịch sử với mong muốn thế hệ mai sau biết về thời đại của cha ông…

Một thực tế thật đau xót khi việc mơ ước hòa bình. Sớm chấm dứt chiến tranh trên quê hương VN. Lại do những kẻ có sức mạnh của vũ khí, của đồng đôla  quyết định. Ngồi bàn về hòa bình bên chai sâm banh… Chúng đúng là bọn người không tim, là con buôn chiến tranh.
Một nỗi ngâm ngùi, chua  chát:

“Ôi rượu nào không say, tên buôn nào không ham lợi, tội cho cô nhân tình VN tội cho cô bé hòa bình người ta muốn cô làm tiền, làm nàng Kiều của Nguyễn Du lưu lạc để những Từ Hải phải hy sinh một cách vô lý.

Dòng sông dòng sông hiền từ ơi, anh đã chờ đợi.Anh còn phải chờ đợi nữa, em biết một ngày Việt Nam và giá trị của thời gian ngắn ngũi đó. Phút trước chúng ta cười, phút sau chúng ta nhắm mắt. Đoạn đường viên đạn đi có bao giờ dừng lại và ngón tay trên cò súng khó có lần ngủ quên, nên những người đợi chờ phải ra đi những người mong ước phải đào ngũ với chút hy vọng ngây thơ là tránh khỏi làm vật hy sinh cho viên đạn cuối cùng của một chiến tranh bẩn thỉu.”
……
Mãi thì thầm gửi gấm những suy tư, bức xúc, tiếc thương, oán ghét…về những điều đã thấy, nghe với dòng sông- người tình. Chợt tỉnh thức với sự hoảng hốt:

“Hỡi dòng sông dòng sông đâu rồi.
Hỡi anh em anh em đâu rồi, trên poncho trên mặt trời chỉ còn một bóng tối, sao không ai cho tôi mượn cây súng, không ai cho tôi vay chút sầu tôi hãy còn vui quá trước nỗi chờ đợi hư vô.”

(Dòng sông giấc mơ và trái tim)

Hòa bình và quê hương. Có lẽ người dân Việt Nam chúng ta dù cho có bị chiến tranh chà đạp, gieo rắc nỗi tan thương, thống khổ, nhưng chúng ta vẫn còn một niềm tin vào hòa bình. Còn sống sẽ còn quê hương. Ý chí bám vào sự sống này làm con người tin tưởng hơn là tin vào mọi mưu đồ chính trị nào khác. Nhưng để sống còn, chúng ta phải chiến đấu bảo vệ non sông tổ quốc. Một cuộc nội chiến tương tàn, đã và đang xảy ra. Là một người lính, nhà thơ cũng trải qua vô vàn hiểm nguy trên mặt trận.  Thời điểm từ 1967 đến 1969, tình hình chiến sự tại miền Nam Việt Nam ngày càng khốc liệt. Bộ binh là chủ lực quân của QĐ/VNCH. Nhưng vũ khí trang bị vẫn còn quá thô sơ so với địch cũng như các lực lượng trừ bị khác, nhưng không vì thế mà tinh thần quyết chiến sa sút, mà trái lại dũng cảm hơn. Mười trận cũng thắng được tám. Ông thuộc hàng ngũ Tiểu đoàn 1, Trung đoàn 4 Sư đoàn 2 Bộ binh. Dấu chân của ông đã dọc ngang từ Sơn Tịnh, Sơn Mỹ, Nghĩa Hành, Nghĩa Hưng…cùng nhiều nơi khác. Máu của đồng đội cũng như máu của địch cũng đã thắm xuống những địa danh đã đi qua…. Bom đạn không chừa một ai. Thoát chết tan xác sau lần hành quân vì đạp phải một quả mình “ba râu”. Quả mìn được chôn sát dòng sông. Nước lớn, nước ròng lâu ngày làm ẩm ngòi nổ. Và rồi trong mặt trận Quảng Ngãi năm 1969, sau sáu ngày chạm súng liên tục. Nhà thơ Luân Hoán đã dẫm phải quả mìn. Và quả mìn thứ hai trong bước chân hành quân không mỉm cười với ông. Ông đã mất đi bàn chân trái tại Thi Phổ ngày 11/2/ 1969.  Nhưng may còn giữ lại mạng. Trong những ngày nằm điều trị lại rơi vào thời điểm Tết nguyên đán. Nhận quà từ những người bạn đồng minh trong nước mắt. Buồn bã nghĩ về cha, xót xa nhói buốt về vợ và đứa con đầu lòng sắp ra đời… Tất cả nỗi buồn đã phủ kín hồn ông…

Nhà thơ Luân Hoán vốn có cái nhìn rất thật về chiến tranh trong đời binh nghiệp của mình. Từng va chạm cũng như đối diện với cái chết trong gang tấc. Ông luôn nhìn mọi việc tận cùng của chúng. Những cái chết của đồng đội, của người dân, những cái chết thật tình cờ… khiến ông có cái nhìn bi quan.Và nhất là sau khi một phần thân thể gửi vào cuộc chiến. Ông đã chua chát thốt lên tiếng nói của mình về mọi mặt về cuộc chiến của quê hương:

“Bây giờ tôi là tài nguyên thải của quốc gia
Tôi là tên què
Tôi là thằng cụt chân
Nhưng chắc tôi còn là một công dân
Máu tôi vẫn đỏ
Da tôi vẫn vàng
Trái tim tôi vẫn đầy tình yêu dấu
Và hai tay đã từng cầm súng
Bây giờ được thảnh thơi
Tôi sẽ làm gì nếu không cầm bút
Cầm bút viết gì nếu không viết những điều mắt thấy tai nghe.”

Ông mạnh dạn nói lên những suy nghĩ cùng những câu hỏi rất thật của mình:

      …..
“Vậy mà tôi phải nói
Hãy nghe tôi ai là người Việt Nam”

“Ôi mũi chúng ta thấp
Da chúng ta vàng
Tóc chúng ta đen
Thân hình chúng ta nhỏ bé
Nhưng chúng ta có thua ai
Chúng ta có 4 000 năm văn hiến
Chúng ta có lịch sử oai hùng
Sao bây giờ mỗi ngày một lụn bại
Sao bây giờ mỗi ngày một tang tóc
Có ai cai trị chúng ta đâu
Có nước nào giữ chủ quyền quốc gia chúng ta đâu
Chúng ta có tổng thống
Chúng ta có quốc hội dân cử
Chúng ta có biết bao nhiêu cơ quan khác
Từ dân sự đến quân đội
Lực lượng nào chúng ta không mạnh
Lực lượng nào chúng ta không vô địch
Sao chúng ta không chiến thắng
Sao chúng ta còn gian nan”

Với ông, điều day dứt khi nghĩ về chiến tranh là tại sao chúng ta chưa chiến thắng. Khi mà mỗi ngày chúng ta nhận bao nhiêu viện trợ. Địch bắn một viên đạn, ta bắn ngàn viên. Ta có chính nghĩa, không phải kẻ xâm lăng, và có đồng minh, giàu phương tiện…

Luôn trăn trở, nghĩ ngợi về đất nước, ông cảm nhận những người thừa hành bộ máy chính quyền đã không sâu sát, quan tâm, nắm vững về tình hình chiến cuộc. Ông luôn tự hỏi tại sao và tại sao:

….
“Chúng có bao nhiêu làng mạc
Kiểm soát được bao nhiêu dân
Tại sao có nhiều nơi chỉ một viên đạn giặc
Đã vội xem là chỗ mất an ninh
Là vùng xôi đậu
Tại sao có những chỗ oanh kích tự do
Đất đai quê hương có chỗ nào không đẹp
Có chỗ nào cần hủy bỏ đi
Tôi vẫn nghĩ chúng ta có nhiều biện pháp
Có nhiều khả năng giữ gìn chiếm lại
Tại sao chúng ta chưa chiến thắng
Tại sao chúng ta còn gian nan”

Nhà thơ Luân Hoán với tấm lòng luôn nghĩ về quốc gia, về tiền đồ của một dân tộc. Là người lính, trực tiếp xông pha vào chiến tuyến. Ông đã từng vào sinh ra tử, suýt chết…và rồi, giờ đây khi giã từ vũ khí, ông luôn trăn trở, nghĩ chúng ta có Tổng thống, có bộ trưởng, có nghị sĩ, dân biểu. Có các trung tâm đào tạo cán bộ có tốt nghiệp có bằng cấp. Binh sĩ chưa đói rách, có tinh thần chiến đấu. Mặt khác quốc gia chúng ta còn có nhiều kế hoạch chính trị, có dự án xây dựng nông thôn mới, có bộ này bộ nọ… Thế mà không hạ nổi giặc thù. Trong khi giặc đang xuống dốc. Như vậy, đơn giản chưa lấy được lòng dân mà thôi. Dân đồng lòng, mọi việc đều xong. Theo ông còn rất nhiều vấn đề cần phải thay đổi. Nhất là tình người đối với nhau. Ta hãy lắng nghe ông nói lên sự thật:


“Tôi nào phải tên bi quan quá đáng
Dù đã bị thương nhưng tôi vẫn ước mơ
Ước mơ những điều nhỏ mọn
Như thay đổi không khí trong bệnh viện này
Tôi muốn những bàn tay tiêm thuốc phải được dịu dàng
Tôi muốn những đôi mắt đến thăm bệnh có nụ cười cảm thông chia sẻ.
Tôi đã thấy một trung úy không chết vì vết thương
Mà vì lộn thuốc
Tôi cũng đã thấy một chuẩn úy mới ra trường mới dự trận đầu tiên
Đã chết sau hai giờ đau đớn chờ bác sĩ
(Bác sĩ còn ở phòng mạch tư, y tá còn bận chích thuốc dạo)
Ôi những cái chết vội vàng đớn đau như vậy
Vẫn thường xảy ra trước những nụ cười dững dưng
Thôi nói làm chi

….
Chiến tranh chính trị ở đâu
Sao không đến cùng viên thuốc
Sao không đến cùng vải băng
Địch ở ngay bên ta mà chưa đánh
Địch ở ngay bên ta mà bỏ qua
Dội bom giết người bắn phá
Ở đâu: ở đâu mà chưa đánh ngã giặc thù?”

Là người luôn ưu tư, trăn trở về quê hương và với những điều đã xảy ra trước mắt. Tuy đã không còn là người lính, thế nhưng với bản chất trung trực, xông pha của người lính, nhà thơ đã khẳng khái lên tiếng:

“Hỡi da vàng mũi tẹt Việt Nam
Tôi bây giờ có hai tay một chân và một chân giả
Nhưng tôi vẫn đi vẫn làm việc bình thường
Và nếu cần sẽ cầm lại cây súng
Để hy sinh cho tổ quốc còn chủ quyền
Có hòa bình có tự do
Cũng có thể tôi tự sát.”

(Tiếng nói của một thương phế binh)

Xuân về, chúng ta ai cũng đều hân hoan đón chào. Mừng một năm mới đến với bao mơ ước và mong muốn được như ý nguyện của lòng. Xuân về cảnh sắc rực rỡ với hoa lá muôn màu muôn vẻ. Không gian như sáng bừng lên, chim chóc hót líu lo… tình người chan hòa rộng mở.

Nhưng trong hoàn cảnh đất nước đang chiến tranh, mùa xuân có về đi nữa, chúng ta chỉ mong tiếng súng im bặt, và mơ hòa bình. Một hòa bình trên khắp quê hương. Để không còn cảnh cứ phải thấp thỏm lo bom rơi, đạn lạc, máu đổ thây rơi, tiếng tiếng đạn tuởng chừng như tiếng pháo nổ … Đó đây ai nấy đều vui vẻ, chào hỏi nhau. Con trẻ vui mừng bên những phong bao lì xì…

Nhà thơ Luân Hoán đã nhìn, đã nghe, đã chua chát khi nghĩ về cuộc chiến từ lòng quê hương. Ông thấy con đường đi đến hòa bình thật diệu vợi. Bởi lẽ chưa có một hòa bình thực sự. Hòa bình của ta lại do phán quyết từ những kẻ mang danh đồng minh, từ bên kia bờ đại dương. Những kẻ chẳng có chút liên hệ máu mủ, hiểu biết gì về văn hóa của dân tộc ta. Họ chi phối bộ máy chính quyền, chia rẽ, phân hóa con người qua sức mạnh của đồng đô la. Làm lũng đoạn cả bộ máy chính quyền… Thế nhưng với tấm lòng nhân bản, ông vẫn luôn lạc quan, tin tưởng rồi hòa bình sẽ về, mùa xuân sẽ về. Mùa xuân là hòa bình, ông vui mừng mơ mình sẽ là:

“Hãy lên đây bà con
Hãy lên tất cả bà con
Lên vội vàng
Lên hớn hở
Lên kiêu hãnh chiếc xe Renault
4 máy 12 mã lực này
Hãy ngồi thật gần nhau
Thật sát vai nhau
…………..
Ngồi thật đông ngồi cười thật tự do
Không còn ai kiểm soát chúng ta
Dò xét hăm dọa chúng ta
Nhưng nhớ đừng giấu dao
Đừng giấu lựu đạn
Cũng đừng quảy gánh mang thùng
Chúng ta đi tay không đi thảnh thơi
Xin đừng sợ đói
Xin đừng sợ khát
Chúng ta có nụ cười có cả tiếng ca.”

Trong niềm vui lẫn nước mắt khi thấy thấp thoáng bóng dáng của hòa bình trên con đường khi đi qua:

Bà con ơi
Đừng quên tôi là tài xế
Nhưng tôi sẽ không thu tiền lộ phí
Tôi không thu thẻ kiểm tra lập danh sách
Tôi chỉ điều khiển chiếc xe
Ôi chiếc xe ngoan ngoãn
Chiếc xe anh dũng
Chiếc xe biết cười biết sầu muộn
Chiếc xe đã chở tôi qua ổ mìn
Đã lắc say đời  tôi trong nước mắt
Bây giờ tôi mới thấy được chiếc cầu
Mới được thấy con đường xanh bóng cây
Bà con ơi
…..
Nhưng tôi chẳng chạy nhanh
Để bà con còn nhìn được
Cánh đồng có bóng người
Thôn xóm có khói thổi cơm ấm áp

…..

Khi trên quê hương còn bóng dáng của chiến tranh. Cuộc sống của người dân vẫn còn bị ảnh hưởng về mọi mặt, nhất là về tinh thần, luôn sống trong lo âu sợ hãi. Thấp thỏm khi nghe tiếng đạn bom vang lên đâu đó.Vội vã chui xuống hầm trú ẩn. Thường xuyên nghe và thấy nói đến nơi này người chết vì bị pháo kích, nơi kia người chết vì dẫm phải mìn… Hình ảnh người dân lìa bỏ nơi chốn đang ở để lánh nạn… tất cả đã làm xáo trộn cuộc sống của người dân. Người Việt hiện tại là người Việt sống trong chiến tranh. Còn đâu cảnh thanh bình với khói chiều lan tỏa bên bếp lửa. Tiếng hò đối đáp của trai gái khi tát nước bên ruộng dưới ánh trăng thanh. Thương người và thương mình, nhà thơ hoài niệm về thời đã qua, nhưng cũng không quên hy vọng cho hiện tại:
….
Tôi sẽ đưa bà con về căn nhà và bếp lửa
Nấu bữa bình an
Ăn suốt cảđêm không núp hầm
Không tản cư lo sợ
….
Với tôi
Chiếc xe là cuộc đời
Hy vọng là cõi sống
Tôi lăn tròn luôn luôn
Lẽ nào không bắt gặp
Một bóng cây hòa bình
Và với lòng tin đó
Tôi đãi bà con một chuyếnđi
Hãy cười cho tôi vui
Ôi vợ tôi ở nhà
Sắp sửa sinh con trai

(Chuyến xe mùa xuân)

Trong cuộc chiến, sự sống và cái chết luôn đe dọa mọi người. Là người lính xông pha giới tuyến, lòng luôn cầm chắc cái chết trong tay. Cố can đảm trong sợ hãi để vượt qua hiểm nguy mà chiến đấu giành tự do cho đất nước. Để bầu trời đất Việt luôn trong xanh và đàn chim hòa bình dang cánh rộng bay cao… Dân tộc nào cũng yêu chuộng hòa bình và căm ghét chiến tranh. Đau khổ nhất là chiến tranh từ lòng quê hương: nội chiến Nam Bắc. Mà chúng ta đã và đang phải đối đầu trực tiếp. Tâm hồn của người lính nhà thơ Luân Hoán luôn tự hỏi mình đã là kẻ sát nhân chưa? Rất may, ông chưa hề cầm súng bắn một ai. Tuy nhiên cũng có thể lắm vì những lần gọi pháo binh dọn chỗ sẽ đến, hay làm ấm một chỗ để nằm đã chắc gì không một ai tổn thương, bỏ mạng.

Và việc gì đến cũng phải đến. Ông đã đạp phải quả mìn địch cài .Mở mắt ông thấy mình nằm trong bệnh viện và đã mất bàn chân trái. Cha mẹ cho mình thân thể lành lặn, giờ đây lại mất một chân. Cảm xúc đau khổ, xót xa, hối hận…cứ thế day dứt tâm hồn ông. Và cảm xúc nhất khi nghĩ về người vợ đang mang thai đứa con đầu lòng. Không nghĩ về hiện tại tình trạng của mình. Giờ đây lòng ông thật hạnh phúc. Một nụ hoa cho cái thai hòa bình mà ông vẫn luôn chờ đợi, mơ ước đang tương hình:

“Sáng nay má con vừa cho ba biết
Con đã cựa mình
Trong cái bụng tròn trịa ấy
Ôi con ôi con
Ba tầm thường ba ngu dốt
Ba chỉ biết vui mừng
Ba không thể tưởng tượng được
Con bây giờ như thế nào
Ôi trong cái bụng tròn trịa ấy
Con hiền lành con ngoan ngoãn
Con lớn lên theo từng giờ từng ngày
Trong hơi thở má con dịu dàng âu yếm
Ba hân hoan hôn con
…..
Chắc con biết
Từng ngón tay từng mũi len từng giọt hơi
Má con đan tình thương
Chắc con biết
Từng bước đi từng nụ cười từng giọt mồ hôi từng giọt máu
Ba nhỏ ra sẵn sàng mớm cho con khôn lớn
Ôi trông cái bụng tròn trịa xinh đẹp ấy
Con rực rỡ hơn mặt trời
Con tinh khiết hơn sương mai
Ba má trải đời làm tả lót
Đợi chờ con kiều diễm nở ra”

Trong nỗi vui mừng chờ đợi đứa con đầu lòng, kết tinh của tình yêu đôi lứa, một nỗi sống nhiệm mầu. Lòng cảm xúc, ông muốn truyền lại cho mầm sống sắp sửa ra đời tất cả những gì mà ông đã thấy, đã cảm nhận. Bằng một bài thơ để kỷ niệm. Bài thơ đầu cho con về tình thương. Với bao hy vọng chờ đón:

“Bài thơ đầu cho con là tình thương
Con gắng nằm ngoan trong bụng má con
Và hãy lớn, lớn trong hồi hộp mến yêu chờ đợi
Một ngày Việt Nam
Một ngày ba từ giã giây tử thần
….
Ôi một ngày
Đang được nâng cốc bắt tay bàn cãi
Dù sao ba cũng có quyền đợi chờ hy vọng
Và xin được hãnh diện đặt tên con
Ôi Lê – Ngọc – Hòa – Bình
Con hãy gắng lớn, chóng lớn
Chóng đến cùng ba má
Cũng như hòa bình chóng đến cùng Việt Nam.

(Nụ hoa cho cái thai hòa bình)

Quốc lộ số 1 là tuyến đường quan trọng hàng đầu Việt Nam, nối liền Nam Bắc. Trong chiến tranh, nơi đây xảy ra rất nhiều cuộc giao tranh giữa hai bên.Với người lính, tìm được một chút thì giờ nghỉ ngơi trong lúc hành quân thật là hiếm. Vì thế, khi có chút rỗi rảnh vội vàng viết vài dòng gửi cho người thân. Có thể là mẹ già, người yêu, hay người vợ…Bởi lẽ họ không thể biết sau cuộc hành quân này, mình có còn tồn tại hay gửi thân nơi giới tuyến. Và người lính Luân Hoán của chúng ta, cũng không ngoại lệ, ông đã viết:

“Em yêu
Bây giờ anh mới có thể bắt đầu
Viết cho em lá thư trong tuần lễ này
Sợ em đợi chờ phiền muộn
Sinh nghi ngờ hờn giận nhau
Vả lại lúc này không viết
Thì lát nữa dây chắc gì nhàn rỗi
Phải không bé cưng của anh.
Và trước hết anh muốn được hôn em
Muốn được thở vào mắt em lời sầu nhớ
Ôi đôi mắt đẹp vô cùng”

….

Lần hành quân này, ông đóng quân tại quốc lộ 1, nơi cống Ông Liếu, thuộc Thi Phổ, Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi. Ngồi trong lán trại, ngoài trời mưa… viết cho vợ trong hoàn cảnh trời đất một màu buồn bã, khiến long ngậm ngùi thương nhớ. Nỗi nhớ điểm mặt người thân yêu:

“Em biết không?
Anh đang ngồi trên quốc lộ số 1
Tại một nơi được gọi là cống ông liếu
Thuộc Thi Phổ, Mộ Đức, Quảng Ngãi
Anh đang nghĩ về em
Về những người thương mến
Và không dằn được nhớ nhung
……
Chiều mưa mù buồn thảm
Có những bong đen chập chờn
Có chăng là kẻ địch
Cây súng nặng trên đùi
Giấc mơ không lùi bước
Giá bây giờ được hòa bình
Trên con đường anh đang ngồi
Sẽ có một người chạy bộ
Mang trái tim và nước mắt
Về hôn em.”

Mỗi ngày trên quê hương còn tiếng súng, thì lòng người còn đau đáu trong lòng về cuộc chiến. Và luôn mong mỏi hòa bình. “Hòa bình ơi, hãy đến” với dân tộc tôi. Vì đâu nên nỗi huỵnh đệ tương tàn? Biết bao nhiêu giải pháp, bao cuộc hội họp, đàm phán… cũng mong đem lại cho đất nước VN một nền hòa bình. Thế nhưng hòa bình vẫn chỉ là giấc mơ. Vẫn còn nằm trên bàn của các bên họp. Đôi khi chúng ta tự hỏi họ thực tâm có muốn đất nước hòa bình không? Hay chỉ bàn rồi để đó. Và chiến tranh Việt Nam là miếng bánh béo bở, để bọn họ chia nhau tranh giành, chia chác lợi nhuận trên xác và máu của cả hai phía. Và là người trong cuộc, chúng ta ai cũng đều mơ, ta hay lắng nghe và hy vọng một nền hòa bình đích thực sẽ trở về, lúc đó, nhà thơ chúng ta sẽ:

“ Em yêu
Chắc thế nào cũng có ngày
Anh làm kẻ điên cuồng sung sướng chạy bộ đó
Ôi quốc lộ số 1
Ôi con đường đau đớn Việt Nam
Những ổ gà những vũng bùn đen những vết đập phá
Ta sẽ lấy tình ta đắp lại
Ta sẽ lấy lòng ta trang điểm lại
Cho chiếc xe đầu tiên
Chạy từ Nam ra Bắc
Chở đầy những trái tim sung sướng.
Những nụ cười bao dung thân thiện
Chắc em đồng ý với anh
Và sẵn lòng giúp anh
Viết bài thơ ngợi ca hòa bình
Ngay bây giờ trên mặt đường nhựa
Và rồi thực tế đã trở về:
Em yêu
Anh vội vã dừng nơi đây
Và hôn em thật nhiều như ngày anh về phép

(Viết thư tình trên quốc lộ số 1)

Niềm mơ ước quê hương thanh bình. Không còn cảnh khói súng mịt mù. Quan tài phủ cờ. Cùng tiếng khóc của người vợ, người mẹ, người con, anh chị em… khi người lính nằm xuống. Cảnh người người bỏ quê cha đất tổ tìm nơi lánh nạn… tình người tan rã, niềm tin bị mất… Ai trong chúng ta cũng đều mong hòa bình. Rồi hòa bình sẽ đến và sẽ làm biến đi những bóng đêm, như cái bóng đêm dày dặc đã phủ lên quê hương mình suốt một phần tư thế kỷ của cuộc nội chiến. Cuộc sống dù có tồi tệ thế nào chăng nữa, thì còn sống chúng ta vẫn luôn hy vọng. Hy vọng để vươn lên.

Người lính Luân Hoán của chúng ta, tuy đã cầm súng và bước chân đã in dấu trên khắp mặt trận tác chiến. Đã chứng kiến máu của đồng đội, của địch cùng thân xác nằm xuống. Từng nhìn thấy khung cảnh tiêu điều xơ xác của làng mạc sau cuộc chiến… Tất cả những cảnh tượng đã xảy ra trong cuộc chiến. Đều đã lưu dấu trong tâm hồn nhà thơ. Với cái nhìn cùng cảm nhận tinh tế. Thấy được nỗi đau của quê hương trong chiến tranh. Ông đã nghĩ và mơ sẽ thực hiện thời dụng biểu, nếu :

“Nếu bây giờ chiến tranh chấm dứt
Tôi sẽ tu bổ nhà cửa
Sắm sửa cho vợ con
Áo quần giày dép mới
Và tôi sẽ đi thăm
Những hầm hố
Những bãi mìn
Tôi sẽ vào những mục tiêu
Tôi đã chạy
Tôi đã bò lết
Tôi đã chết giấc
Tôi sẽ thăm những nấm mồ
Những giao thông hào
Những địa đạo chôn xác người
…..
Tôi sẽ không nói cho ai hay hết
Chỗ này giọt mồ hôi tôi đã đổ
Chỗ này giọt máu tôi đã thấm
….
Em biết không
Giá bây giờ chiến tranh chấm dứt.
Anh sẽ là người đầu tiên
Hát nghêu ngao như trẻ thơ vui mừng”

Chiến tranh chấm dứt, hòa bình sẽ đến, tất nhiên. Người lính Luân Hoán nói với vợ những điều ông thường mơ ước thật giản dị trong tầm tay, đó là hãy để mọi việc thuận theo tự nhiên, đừng bó buộc, làm mất tự do:

“Nếu bây giờ hòa bình đến cùng chúng ta
Em hãy ở nhà
Nuôi con
Nuôi gà
Và nuôi chó
Em hãy dạy cho con ca dao
Em hãy cho gà ăn thóc của ruộng ta
Em hãy để tự do cho chó sủa
Tưởng cũng cần trồng một chậu hoa
Nên trồng một bụi ớt
Buổi chiều con chim sâu sẽ về
Chiếc tổ nó lắt lay đàn con và giọng hát
Em đừng tập con cầm ná
Em đừng giữ con trong phòng học
Hãy để nó quanh vườn
Hãy để nó ra ngoài lũy tre làng xanh tốt
Cho nó làm bạn với lá
Cho nó làm bạn với cây khế cây xoài
Cho nó làm bạn với con trâu con ngỗng
Cho nó tự do

Khi chiến tranh đã không còn hiện hữu. Nhà thơ muốn trở về với những điều mình muốn làm, muốn thực hiện đúng với bản chất thực của mình:

“Nếu bây giờ chiến tranh chấm dứt
Tôi sẽ làm thơ tình yêu
Tôi sẽ vẽ tranh mùa xuân

Tôi sẽ cầm gạch
Tôi sẽ cầm bay
Tôi sẽ đi đốn tre
Tôi sẽ đi lợp nhà
Tôi sẽ quét nước vôi
Tôi sẽ quét sân trường học
Tôi sẽ vào nhà thương
Sang máu tôi cho những người chưa kịp mạnh
Tôi sẽ vào nhà tù
Rước từng tội nhân của chiến tranh về làm bè bạn

Và ông còn mong muốn:

Giá bây giờ hòa bình vãn hồi trên quê hương
Tôi sẽ cho phép tôi khóc như đứa trẻ
Thật hân hoan”

(Thời dụng biểu cho ngày dứt chiến tranh)

Mỗi khi một đồng đội ngã xuống vì màu cờ sắc áo cho quê hương. Người lính của chúng ta ai không khỏi ngậm ngùi đưa tiễn và đọc điếu văn truy niệm. Và cái chết của người chiến sĩ không ai giống ai. Có người chết vì đạp phải mìn trên đường hành quân. Có người chết tại mặt trận. Có người bị chết khi ngồi trên xe, ngang qua cây cầu bị giựt sập. Có người chết trong rừng khi lùng quân địch. Có người chết vì bị bắn tỉa. Có người còn hình hài nguyên vẹn, nhưng cũng có người chết tan nát thịt xương… Ôi chiến tranh! Thật đau đớn cho kiếp người trên quê hương còn đầy rẫy bom đạn và lòng thù hận. Người lính Luân Hoán cũng đã biết bao lần viết lời chia buồn, viết bài truy niệm cho bạn bè đồng đội khi họ vừa nằm xuống. Gửi hình hài, xác thân vào mãnh đất quê hương. Trong một phút chạnh lòng nghĩ về bài truy niệm đã viết cho bạn. Ông nghĩ khi mình chết thì thế nào? Ta hãy nghe ông bộc bạch nỗi lòng:

“Trong phút cuối cùng đó
Chắc ta ngất xỉu
Trong phút tuyệt vọng đó
Chắc ta không còn nhớ ta
Chắc ta không gặp được người thân yêu
Chắc ta không nhận được bạn hữu
Ta đã nghĩ điều đó
Ôi có người chiến sĩ nào không chết ngoài mặt trận?
Chết kiêu hãnh
Chết vinh quang”

…..
 Đã từ lâu ta viết cho bạn bè ta những bài truy niệm
Ta viết cho bạn bè ta những lời chia buồn
Tự xem đó là ngọn đèn là quê hương
Là chiếc quan tài đưa bạn hữu
Sao ta chưa viết cho ta một lời an ủi
Ta không tin dị đoan
Và ta biết ta còn phải sống

Tự nhận thấy mình không thể nào chết được, bỡi lẽ ông cần phải sống để nhìn thấy hòa bình trở về. Một niềm xác tín trong tâm ông:
…..
“Để hy vọng
Ngày hòa bình sẽ trở về
Nhất định sẽ trở về
Lý do nào ta chết
Viên đạn nào bắn nỗi ta
Chế độ nào quật nỗi ta
Ta phải sống để pha tình yêu thay cà phê
Để pha tình thương thay khói thuốc

Ôi mỗi buồng phổi người Việt Nam
Ôi mỗi trái tim người Việt Nam
Nếu nhìn kỹ
Sẽ nhận ra bóng dáng ta
Máu mủ ta trong đó
Ta sống thật khiêm nhường
Nhưng thật cao cả
Vậy thì ta phải sống”

Để tồn tại trong hoàn cảnh chiến tranh, chúng ta chỉ có thể sống trong niềm hy vọng hòa bình sẽ trở về. Chính niềm hy vọng sẽ vực dậy tình yêu nước của chúng ta. Hãy nghe người lính Luân Hoán lý giải tại sao không viết bài truy niệm cho chính mình:

“Hỡi ta
Hỡi Luân Hoán
Mày không phải là nhân chứng
Mày không phải là nạn nhân
Mày không phải là chiến sĩ
Mày chỉ là niềm hy vọng
Của xứ sở đau thương
Và niềm hy vọng không thể chết
Không bạo lực nào giết được
Ôi ta làm sao viết nổi cho ta một bài truy niệm”.

(Bài truy niệm tôi)

Là con người, chúng ta không thể sống mà không mơ ước. Dù mơ ước thế nào đi nữa, nó vẫn vạch cho ta một hướng đi vào cuộc đời. Và sống trong đời là phải đi về một hướng nào đó. Nhà thơ người lính Luân Hoán đã vạch cho mình một hướng đi. Hướng đi về côi nguồn qua những vần thơ đầy tự tình dân tộc. Ngay từ thuởbé,ông đã học tập và rèn luyện thơ. Tài năng luôn đi đôi với khổ luyện quả thật không sai. Tâm hồn ông càng ngày càng thăng hoa cảm xúc. Trước khi là người lính. Ông đã là một nhà thơ nổi tiếng trên văn đàn miền Nam từ năm 1964. Đã có những tập thơ đầy tình yêu quê hương với những chủ đề khác nhau. Nhưng ta vẫn thấy có tiếng nói chung là tình quê hương.

Và sau này, khi ông bước chân vào quân ngũ. Là người lính, sĩ quan của QL/VNCH, ông càng có những cảm nhận tinh tế hơn về mọi mặt và lòng yêu nước của ông càng bộc rõ hơn trong tất cả những tập thơ. Ông làm rất nhiều thể loại, 5, 7 chữ cũng như lục bát…Thể nào cũng thật hay. Thế nhưng ở đây tôi muốn nói về cảm xúc của ông khi viết “Hòa bình ơi, hãy đến”. Trong tập thơ này ông viết theo lối thơ tự do. Và thể thơ này càng dễ cho ta trình bày những điều cần bộc lộ. Bước chân ông đi đến đâu, cảm xúc của ông vỡ òa đến đó thành những bài thơ. Có những bài thơ chúng ta nghe ngậm ngùi như “Choàng hoa cho quê hương”, “Tiếng nói của một thương phế binh”, “Trình bày cùng tâm hồn mũ sắt”. “Giòng sông giấc mơ và trái tim”. Căm phẫn như “Câu hỏi của một người lính”. Thẳng thắng như “Lên tiếng”, Thư cho người Hoa Kỳ”, “Tặng máu cho lịch sử”, “Bài Truy niệm tôi”.  Mong chờ hòa bình như “Chuyến xe mùa xuân”, “Nụ hoa cho cái thai Hòa Bình”, “Viết thư tình trên quốc lộ số 1”…

Khi chúng ta đọc hết phần thơ của ông. Lòng chúng ta ngậm ngùi, thương cho dân tộc Việt Nam, luôn bị chiến tranh đe dọa. Thế nhưng mặc dầu bị chiến tranh, mặc dầu bị tàn phá, nhưng niềm tin về một ngày hòa bình vẫn luôn được ấp ủ trong trái tim của người Việt Nam. Bỡi lẽ sự sống của quê hương, dân tộc mà chúng ta thừa hưởng của tiền nhân, cần phải truyền lại cho con cháu qua mỗi thế hệ, phải phong phú và nhân bản hơn. Và với tôi, nhà thơ, người lính Luân Hoán đúng là một người đầy cảm xúc. Và cái hay của ông, đó là ông đã truyền được ngọn lửa cảm xúc cho người đọc. Nghe và đọc “Hòa bình ơi, hãy đến”, tôi càng thấm thía hơn về tình quê hương và càng thương quê hương Việt Nam.

Cám ơn nhà thơ Luân Hoán đã cho người đọc những món ăn tinh thần thật tuyệt vời.

Nguyễn Thu Hà
12.9.2013
Nguồn: Tác giả gửi

Đã đóng bình luận.