Minh Nguyễn
Chuyến đi Mộc Châu cùng HA, MN, QĐ và AC
Sau chuyến “phượt” cùng Mây lên Hòa Bình trở về, tôi bị Quỳnh Đỗ và Anh Chi quây lấy tra vấn đủ điều. Nào là lén đi Thung Nai chơi với cô em Bắc Ninh xinh đẹp, đâu thèm nhớ chi lời dặn “mang về cho một cành hoa ban”. Nào là hứa nhăng hứa cuội, sẽ dẩn hai đứa đi ngắm mùa hoa đẹp trên cả tuyệt vời ở Mộc Châu, nhưng chờ dài cổ mà chả thấy động tịnh gì. Nào là . . . . . . . . . . . biết rồi, khổ lắm, lỗi tại tôi mọi đàng người ơi.
Thật ra, nỗi oan này khó giải thích, bởi thực tế “tháng ba hoa ban không chỉ nở rộ trên đường Bắc Sơn ở Hà Nội, mà còn nở trắng trời trắng đất dọc suốt trên tuyến đường lên Tây Bắc”. Lạ! Chả hiểu thời tiết năm nay thế nào, mấy ngày qua tôi đi la cà suốt trên tuyến đường nổi tiếng với mùa hoa ban, vậy mà tìm đỏ con mắt cũng chẳng thấy chiếc hoa ban nào, thì lấy đâu ra hoa mang về xuôi theo lời dặn của bạn hiền?
Không còn cách nào khác, tôi đành khất đến mùa xuân sẽ trở ra Hà Nội, đưa các cô đi chơi Mộc Châu; tới khi ấy tha hồ mà trải hồn mình bên những cung đường dốc lên dôc xuống phủ đầy sương, đẹp đến say lòng với mùa hoa cải, hoa mận, hoa đào khoe sắc thắm trên khắp các sườn đồi, dốc núi, cho đến tận các thung lũng sâu bên dưới.
Mùa Xuân. Giữ lời hứa, tôi đã có mặt ở Hà Nội vào lúc thời tiết đang chuyển mùa từ đông sang xuân, khiến cho đám bạn không khỏi ngạc nhiên kêu lên: “Thời tiết sần sùi, thô ráp thế này, ông lò dò ra ngoài này làm gì cho khổ thân?”. Tôi cười, chào mọi người với đôi tay thọc sâu trong túi áo da dày cộm, cốt giữ lấy chút hơi ấm bên cái lạnh đặc trưng chỉ thấy có ở miền Bắc. Chả thế mà Emily trong lần ngồi cùng tôi ở quán cà phê đối diện bờ hồ, miệng không ngớt rên rỉ về cái rét buốt xương của Hà Nội, khắc nghiệt hơn nhiều nếu so với cái lạnh vùng Bắc Mỹ, nơi cô từng sống. Tôi gật gù, tỏ ra đồng tình với nhận xét khá tinh tế nơi cô, bởi tôi vốn là người sống quen với khí hậu trong nước, nhưng khi vừa đặt chân xuống phi trường Nội Bài, tôi đã bị ngay cái lạnh hành hạ, giống như có ai cầm roi quất vào mặt vậy.
Ngay hôm đó, ba cô gái gồm hai Hà Nội một Sàigòn, ăn diện kiểu như đi dự liên hoan điện ảnh Cane không bằng, đã cùng tôi có mặt tại một quán cà phê ăn sáng, để cùng thống nhất phương tiện đi lên Mộc Châu. Vô tình, với sự xuất hiện của các người đẹp, đã tạo nên những tiếng huýt sáo miệng inh ỏi, khiến không khí nơi quán cà phê thêm ồn ào.
Nhác trông thấy bóng tôi bước đến gần, cả ba cô gái không ai bảo ai cùng lúc đứng lên:
– Chúng em chào anh ạ!
Vừa sững sờ vừa có chút hảnh diện trước “ngoại hình chuẩn không cần chỉnh” nơi ba cô gái, tôi đâm ra bị lúng túng ngang: “chúa ơi, các cô gái của tôi đây sao?” tôi thầm kêu lên với chính mình. Có lẽ, do tiếp xúc với các cô thường ngày qua trang phục công sở quen mắt, nên khi bất ngờ nhìn thấy các cô trong “sì-tai” (style) quần bò, áo khoác da đầy cá tính, suýt chút nữa tôi nhận không ra các cô luôn.
– Anh chào các em. Tôi ngồi vào chiếc ghế dành cho mình, đồng thời chào 3 cô gái.
Mây là cô gái hiếu động nhất trong nhóm các cô gái, đặt ngay cho tôi câu hỏi về thời tiết:
– Anh thấy thế nào về cái rét ở miền Bắc?
Tôi nheo mắt, cười đáp lại:
– Đã sợ thì không ra đây vào lúc này.
Quỳnh vổ tay khen trong khi Anh Chi lặng im theo cách của cô từ nào tới giờ.
– Vậy mới đáng mặt nam nhi chứ!
Tôi nói như thể thăm dò:
– Rét thế này mà đi ăn “phở chửi” chắc ngon?
– Ôi! Cái giọng miền Nam của anh. Mây nói.
– Thì đã sao?
– Dễ bị người ngoài này mắng lắm.
– Lạ hén, ăn uống đã mất tiền mà còn bị mắng là sao?
– Cái mà người ta tung hô là thượng đế, ở miền Bắc còn khuya mới xảy ra.
Tôi tự an ủi:
– Có lẽ do thói quen thời bao cấp sót lại. Đã thế, phở dù ăn có ngon gấp vạn lần, anh đây cũng chả dại gì ăn, có chết thằng tây nào đâu?
Tạm dẹp mấy cái chuyện “ruồi bu” lại, tôi gợi ý với các cô gái nên thuê xe đi Mộc Châu cho an toàn; bởi mùa này ngoài chuyện mưa gió thất thường, đường đi trơn trợt cùng với mây mù xà xuống mặt đường, che khuất hết tầm nhìn khiến cho đường xá trở nên rất nguy hiểm. Nghe kể, các cô gái lộ rõ sự sợ hãi trên nét mặt, cuối cùng các cô đồng ý thuê xe đi cho chắc ăn, tiện thể ghé đâu cũng dễ.
Vậy là phương án thuê xe đi Mộc Châu đã được mọi người đồng tình.
Sáng hôm sau, xe đón chúng tô từ Hà Nội chạy lên Hòa Bình, tới Cao Phong, qua dốc Cun đường đi xuất hiện ngày càng nhiều dốc cao cùng với cua tay áo. Những lúc như thế, nhìn bác tài thật tội nghiệp, vì phải căng đầu ra điều khiển xe lúc quẹo trái lúc ngoặc phải, nếu không muốn rơi xuống vực sâu hay va vào vách núi.
Chưa kịp trở mình trên dốc Cun, xe đã vào đến địa phận Tân Lạc, đối diện ngay với đèo Thung Khe cao thật cao bên trên. Từ xa, con đèo như một thác nước hùng vĩ đổ ầm ào xuống dưới thung lũng một màu trắng xóa, nhưng lúc chạy đến gần mới hay đó không phải là một cái thác như đã lầm tưởng, mà thật ra là một triền núi đá vôi khổng lồ trắng xóa, được người dân địa phương quen gọi là đèo Đá Trắng.
Bất ngờ, khi xe trèo lên tới đỉnh đèo, ngó bên đường thấy một cái chợ dã chiến, có mươi chiếc bàn làm bằng tre nứa hoặc cây rừng, bày bán trên đó các sản vật gồm cơm lam, rêu đá, rau rừng, ngô luộc, lợn cắp nách, lan rừng . . . đặc biệt còn có mía Hòa Bình, ngô Tân Lập, cam Cao Phong ngon ngọt và dẽo đến cực kỳ, không thưởng thức kể uổng phí thời gian đi từ Nam ra Bắc. Tôi liền chọn mua chừng chục trái ngô luộc để lúc nữa lên xe phát cho mọi người một trái ăn đở buồn miệng, tiện thể ngắm phong cảnh tuyệt vời Tây Bắc qua thiên đường hoa đầy quyến rũ không thua Đà Lạt mộng mơ phương Nam.
Từ Thung Khe xe theo đường quốc lộ 6, vượt đỉnh đèo Thung Nhuối, thay vì dừng lại ở sân cột cờ để mọi người có dịp nhìn xuống thị trấn thung lũng Mai Châu bên dưới, tôi bèn gợi ý cho bác tài chạy luôn; vì trên đường tiện đường nên thế nào cũng phải ghé vào Bản Lác, điểm du lịch đẹp tuyệt vời không thể bỏ qua bởi các sinh hoạt cộng đồng rất độc đáo của người Thái đen cùng với những nếp nhà sàn đẹp như tranh.
Nhờ thế, chúng tôi mau chóng vượt qua ngã ba Tòng Đậu, chứng kiến những cánh đồng hoa cải, hoa mận nở trắng trời trắng đất trên các sườn đồi, sườn núi, có chỗ còn tràn xuống tận những thung lũng sâu. Hoa nhiều vô kể, hoa mọc ven sông suối, len vào tận các hốc đá, vườn nhà, trước sân; nhiều nhất thấy ở hai Bản Khà bản Lóng Luôn, làm dậy lên cả một không gian tràn ngập trong màu trắng tinh khôi cùng với mùi hương thoang thoảng đưa tới tận mũi, khiến ai nấy đều cảm thấy ngất ngây. Đẹp, một vẻ đẹp đặc trưng rất ư Tây Bắc, tạo nên thứ cảm giác nơi mọi người như đang có mặt bên những cánh đồng tuyết ở Châu Âu, Châu Mỹ.
Kế đến, Mộc Châu đón chúng tôi bằng những cơn gió lạnh, những đám mây trắng vắt ngang đường như một dải lụa, những bó cải bản dài có lá hình răng cưa xanh mướt bày bán la liệt quanh thị trấn. Hỏi ra mới hay đó chính là những bó cải mèo nổi tiếng trên Tây Bắc, tôi đã từng được cô gái H’ Mông “cười lên đi cho răng vàng sáng chói”, đưa đi thưởng thức ở Mù Cang Chải.
Thấy tôi ngồi yên, bác tài lên tiếng hỏi:
– Mình ghé đâu vậy anh?
– Rừng thông bản Áng.
Đến một ngã ba, thay vì rẽ về hướng có vườn dâu tây độc nhất trên thảo nguyên, bác tài cho xe chạy về hướng có dãy nhà sàn nằm cạnh khu rừng thông thơ mộng. Nơi mà bất kỳ ai dù khó tính đến mấy, khi đã đặt chân đến đây đều muốn được nghỉ lại qua đêm, để sáng ra đứng nép mình sau lớp cửa kín, nhìn ra mặt hồ Đông Sang trầm mặc hơi sương, tưởng tượng tới một Đà Lạt nơi phương Nam lung linh huyền ảo đầy mộng mơ.
– Anh ơi! Nghe nói mùa hoa cải bản Áng đẹp nhất trên Mộc Châu, sao đến nơi rồi mà không thấy gì vậy? Mây thất vọng hỏi tôi.
Tôi không vội trả lời, đợi khi làm thủ tục nhận chỗ ở xong, tôi dẩn các cô gái đi theo lối mòn hướng ra phía sau rừng thông. Ở đó, có vườn hoa cải đang rộ nở một màu hoa trắng tinh khôi trải dài từ chỗ đứng lên tận các đỉnh đồi xa tắp, điểm xuyết đây đó những chiếc ô đủ màu sắc vẽ nên bức tranh thơ mộng cho bản làng vùng cao. Thích quá, các cô gái len lỏi vào giữa đám hoa cải, đùa giởn, chụp cho nhau những bức ảnh kỷ niệm bên những tiếng cười giòn tan.
Xế chiều, sau khi đã vui chơi thõa thích, bọn con gái cùng tôi quay về khu nhà sàn bên rừng thông, thưởng thức các món bê chao, cá suối, lợn bản, gà đồi, cơm tám . . . nhất là vừa ăn vừa nghe kể về lễ hội “Hết Chá” của người Thái, một hình thức sinh hoạt văn hóa tâm linh nối kết cộng đồng để mừng ngày bước vào mùa vụ mới.
Sáng ra, trong lúc chờ mấy cô gái trang điểm, tôi ngồi uống cà phê ở khoảng sân rộng trước nhà hàng, nhìn xuống mặt nước in bóng rừng thông gợn sóng, nhớ một thời lãng mạn tuổi sinh viên trước đây.
Như dự tính, sáng sớm chúng tôi đi Sơn Mộc Hương hay còn gọi Hang Dơi Mộc Châu, sau đó ghé lên thác Dải Yếm trước khi khám phá những đồi chè, nhưng các cô gái không muốn đi Hang Dơi vì đã nhiều lần đến với các hang động Phong Nha – Kẽ Bàng, giờ chỉ muốn đi thẳng lên Lóng Sập ghé thác Dải Yếm cho đở mất thời gian.
Theo truyền thuyết, thác Dải Yếm là nơi người con gái đã cứu chàng trai thoát khỏi dòng nước lũ năm xưa. Ngoài cái tên Dải Yếm ra, thác còn gọi thác Nàng, thác bản Vặt, một địa danh gắn liền với lịch sữ cư trú lâu đời của người Thái ở Mộc Châu. Theo người địa phương, trước đây muốn đi xuống thác phải băng qua một khu rừng dốc xuống rất khó đi, nay nhờ du lịch phát triển người ta đã xây một con đường bê tông với nhiều bậc thang, giúp việc đi đứng lên xuống được dễ dàng, nhờ thế các cô gái tha hồ tung tăng hết nơi này đến chỗ khác, chụp hình đến mỏi cả tay.
Ô! Kia rồi, vùa kịp trờ tới khúc quanh, tôi đã nhìn thấy một màn nước trắng xóa chia thành 2 nhánh, mỗi nhánh cách nhau chừng 200 mét đang đổ nước tung tóe xuống nhiều tầng thấp bên dưới, tạo ra những cây hoa nước vừa đẹp vừa lạ lẫm màu thủy tinh, trước khi biến mất vào cánh rừng sâu hun hút dưới chân. Ô! Thác nước đẹp quá, có lẽ do mùa này lượng nước đổ về rât lớn nên thác mới đẹp và hùng vĩ đến thế?
Ngắm thác nước thêm một lúc, các cô gái mới quay ra xe để bác tài đưa về thị trấn nông trường, ghé thăm những đồi chè đã làm nên thương hiệu chè Mộc Châu.
Từ ngoài đường nhựa, xe rẽ vào đường đá lởm chởm chạy giữa những nương chè cùng hai hàng mận nở trắng những chiếc hoa nhỏ li ti. Tới cuối con dốc, bác tài thả mọi người xuống cạnh những luống trà, nhìn cứ ngỡ đang đứng trước những con sóng biển xanh mướt chồm lên nhau vỗ vào bờ. Thì ra, Mộc Châu không chỉ có mù sương giăng giăng, không chỉ có mùa hoa cải trắng quyến rũ trong sớm mai, mà còn có sự hiện diện của những nương chè trải dài tít tắp, gợi biết bao cảm hứng cho giới nghệ sĩ nhiếp ảnh hay bất kỳ ai yêu mến cái đẹp nơi này.
Rời khỏi xe, ba cô gái reo lên trong sự vui sướng khi nhìn thấy những đồi chè quàng vai nhau xanh mướt trên những ngọn đồi. Có lẽ, đây là lần tiên các cô được chạm tay vào những cây trà, những chiếc hoa trắng muốt thoảng đưa chút hương hoa tinh khiết sộc lên mũi, trông mặt cô nào cô nấy cứ như vừa mới ở quê ra tỉnh. Với kinh nghiệm sống trên xứ trà B’Lao nhiều năm, tôi chỉ cho các cô cách cắn quả trà, hút lấy chất nước chát ngậm trong miệng vài giây sẽ thấy dịu ngay cơn khát. Nghe kể, các cô trố mắt nhìn tôi nửa tin nửa ngờ, tức thì tôi tóm lấy mấy quả trà trên cây, chia cho mỗi cô một quả nếm thử, nhưng Mây lại bỏ chúng vào giữa lòng bàn tay, hối Quỳnh Đỗ chụp cho mấy pô ảnh để mang về cover cho trang Facbook. Bị quê, tôi bèn lĩnh ngay đến chỗ mấy chị công nhân hái chè gần đó trò chuyện:
– Chị ơi! Ở đây có đồi chè nào rất nổi tiếng mà cô dâu chú rể thường kéo đến chụp hình đám cưới?
– Đấy là đồi chè Mộc Sương ở tiểu khu 3 Tân Lập đó.
– Xa không chị?
– Trên đường vào Ngũ Đông – Bản Ôn gần đây thôi.
– Đẹp lắm hả chị?
– Đẹp hay xấu còn tùy vào mắt mỗi người, tuy nhiên đối với tuổi trẻ của các cô cậu yêu nhau tất nhiên hấp dẫn rồi. Hí hí, chứ mấy chị đây già chát rồi, không dám mơ mộng gì ngoài việc kiếm tiền lo cho gia đình.
– Mấy chị trắng da dài tóc nhìn còn xinh gái thấy mồ luôn.
– Ôi! Con trai miền Nam ăn nói đã khéo, tán gái cũng siêu ra phết nhỉ?
– À! Mà có phải đồi chè đó là đồi chè mang hình năm trái tim lồng vào nhau không ạ?
– Đúng vậy.
– Nguyên nhân vì sao có sự hiện diện của đồi chè mang 5 hình trái tim lồng vào nhau?
– Nghe kể, trước đây có người đàn ông thừa hưởng đồi chè rộng hơn 30 ha, vì phải lòng một nàng con gái xinh đẹp ở gần đồi chè của ông, nên vào một buổi sáng đẹp trời ông ta đã bước đến nhà nàng ngõ lời cẩu hôn: “Có lấy anh không, quà tặng sẽ là đồi chè với năm hình trái tim xanh mát?”. Thế là, chuyện cầu hôn sau đó đã thành hiện thực và chuyện đồi trà với 5 hình trái tim đã trở thành hiện thực.
Sau đó, nhờ sự chỉ dẩn tận tình của các chị công nhân, xe đã đưa chúng tôi ra đường 43 chạy đến nơi có tấm biển chỉ đường vào Ngũ Động – Bản Ôn cách xa mười cây số. Đường đi không mấy rộng, nhưng cảnh quan thì đẹp tuyệt vời, bảo sao các chàng trai cô gái không thích đưa nhau tới đây chụp ảnh cưới cho được. Ôi! Trước mắt tôi, ngoài màu vàng rực rỡ của dã quỳ ra, hai bên đường còn bắt gặp khi là trạng nguyên đỏ rực, khi là vườn hoa cải trắng tinh tươm uốn lượn quanh co bên những đồi chè xanh mướt đẹp đến lạ lùng.
Vượt qua mấy đồi chè, ấn tượng để lại trong tôi có lẽ là hình ảnh của các đôi uyên ương mang theo đoàn tùy tùng gồm các photographer, các tay phụ việc tay sách nách mang dụng cụ lỉnh kỉnh len lỏi vào giữa các đồi trà, cố chụp cho cô dâu chú rể những bức ảnh cưới nghệ thuật nhất.
Để ghẹo mấy cô gái đi cùng, tôi nói:
– Thấy người ta cưới nhau làm nhiều người muốn phát rồ lên, ai chưa lấy chồng tính lẹ lên kẻo ế sắc ế đó nghe.
Quỳnh đáp trả:
– Ế! Lâu rồi, giờ mới biết kể cũng lạ, ha ha.
Xe dừng lại bên đường để mọi người có thể thả bộ đi ngắm đồi trà Mộc Sương, biểu tượng tình yêu nơi vùng Tây Bắc. Quái, Mây nhìn quanh chẳng thấy đồi chè Tân Lập hay còn gọi “đồi chè Đài Loan” đâu hết (vì đã liên doanh với công ty Đài Loan) nên lên tiếng hỏi:
– Có ai thấy đồi trà hình 5 trái tim đâu không?
Quỳnh trả lời:
– Ở trong miệng em đấy Mây.
– Là sao?
– Thì dùng cái miệng mình mà hỏi thăm.
Tôi nói chen vào:
– Tìm chi cho mất công, nó đang ở cạnh hai người đó.
– Anh đùa hả? Quỳnh hỏi.
– Không tin, cứ leo lên chỗ nào cao cao, ngó xuống sẽ rõ.
Các cô gái nghe nói, vội chia nhau đi tìm thân cây nào dễ leo, để leo lên nhìn cho rõ mặt đồi chè có 5 trái tim lồng vào nhau. Cuối cùng, sự thành khẩn nơi các cô cũng đã thỏa mãn được tính hiếu kỳ, bằng cách reo mừng trong sự sung sướng khi đã tận mắt chứng kiến điều mình mong đợi. Và, cứ thế các cô bấm máy lia lịa, ghi lại hình ảnh đẹp đẽ dành cho đồi trà quyến rũ đến ngần ấy..
Rời Mộc Sương, xe định đưa chúng tôi vào Bản Ôn khám phá ngũ động, nghe kể mới phát hiện sau mùa lũ năm 2006, nhưng có người khuyên “ ai chưa đi đường rừng thì chớ vào trong đó, vì mùa này đường đi trơn trợt, cây cối um tùm che khuất những hòn đá tảng chắn lối đi, chưa kể những cây cầu làm từ thân cây rừng lâu ngày bị rữa mục nên vô cùng nguy hiểm”. Theo họ, nếu muốn tìm cảm giác lạ, hãy đánh xe qua Tô Múa rồi ghé lên Suối Bàng, nghe kể về những hang ma chứa đầy quan tài bí ẩn, sau đó ăn món ốc đá luộc với xả, chấm nước mắm ớt ngon không thua gì ốc núi Tây Ninh?
Để khỏi mất thời gian đi từ đây đến Suối Bàng, tôi và ba cô gái xúm lại năn nĩ già làng kể cho nghe cách mai táng người quá cố của dân tộc Xá, nghe đâu vừa bí ẩn vừa có chút rùng rợn so với việc hỏa táng hay thủy táng mà tôi được biết. Cuối cùng, do sự thành khẩn hay do gặp ngày lành tháng tốt hay gặp 3 cô gái chân dài xinh đẹp, ăn nói rất mực dễ thương nên già làng không nở từ chối, ông vui vẻ kể:
“Theo truyền thuyết, cách đây hàng trăm năm, người Xá và người Thái cùng nhau sinh sống trên cùng một mảnh đất Mộc Châu. Sau, do có sự tranh chấp về đất đai, họ đồng ý với nhau bằng cách đứng từ Núi Cấm, thi bắn tên về phía Núi Bàng, để giải quyết chuyện ai ở ai đi với điều kiện: Nếu mũi tên của bên nào cắm được vào vách đá thì đồng nghĩa với việc thần núi, thần đất thuận cho ở lại. Và, cuộc tỉ thí bắt đầu bằng việc người Xá dùng tên có đầu bịt đồng ở mũi, nên khi bắn vào vách đá tên bị nảy ra, trong khi người Thái lại dùng xáp ong dính vào đầu mũi tên, nên khi bay đến đích mũi tên dính chặt vào vách đá; nhờ vậy người Thái được ở lại trên mảnh đất cũ, còn người Xá phải dời đi nơi khác. Do bị thua cuộc, người Xá phải rời khỏi nơi ở, vì vậy những người chết phải dấu xác trong các quan tài khoét rổng ruột, làm từ loại gỗ đinh thối, có nắp đậy mang hình đuôi én uốn cong lên được đục lổ hình vuông, để khi tẩn liệm xong dùng chốt chốt lại, sau đó mang dấu trong các hang động hoặc treo trên các vách núi cheo leo, tránh sự phát hiện của con người được chừng nào hay chừng nấy”.
Tôi thắc mắc hỏi:
– Để đi đến những hang động ấy có khó khăn lắm không ông?
– Có hai cách đi, một là đi thuyền vào mùa nước lớn cho đở phải vất vả, vì mực nước lúc đó dâng cao ngang bằng miệng hang, hai là băng rừng lội suối, chui dưới nhiều tầng lớp dây leo cùng vô số rể cây to đùng nên rất nguy hiểm.
– Có phải ngày xưa ở đấy có tệ nạn ăn thịt người?
– Ồ! Chỉ là chuyện thêm mắm thêm muối cho có vẻ huyễn hoặc để người ta cảm thấy rùng rợn hơn vậy mà; hoặc do có người đi rừng nào đó tìm thấy trong hang động có nhiều mộ thuyền vừa bám đầy rêu vừa bị mục nát, để lòi ra những hộp sọ trắng hếu nhìn thấy cũng đủ rợn tóc gáy.
– Ông đã đặt chân đến đó bao nhiêu lần?
– Không phải một đôi lần mà rất nhiều lần, bởi ngày nay trong các hang động hay trên các vách đá ấy, người ta lâu lâu lại phát hiện ra những quan tài do người Xá cất dấu để tránh đi sự trả thù.
– Thật thế hả ông?
– Ừ! Thật như chuyện người ta thích ăn con ốc đá ở suối Bàng vậy.
– Con ốc dó có giống với ốc núi ở Tây Ninh không ông?
– U! Lão mà biết Tây Ninh ở đâu có mà chết liền.
– Hu hu, cháu thành thật xin lỗi ông nhe.
Sau một lúc trò chuyện với già làng, chúng tôi chào tạm biệt ông cùng đồi chè Mộc Sương, rồi thẳng đường chạy về Hà Nội, nhưng xe vừa lên tới đỉnh đèo Thung Nhuối, tôi chợt nhớ lúc đi có hứa khi về sẽ ghé lại sân cột cờ để cho mọi người có dịp ngắm thị trấn Mai Châu. Ôi! Đứng trên đỉnh đèo Thung Nhuối, nhìn xuống thung lũng ai cũng phải xuýt xoa trước vẻ đẹp hoang sơ nơi thị trấn “Mai Châu mùa em thơm nếp xôi” (*). Thì ra, Mai Châu không chỉ đẹp nhờ có núi đồi trắng xóa màu cỏ lau, mà còn hấp dẩn qua các tầng mây mù giăng giăng trên con đường độc đạo uốn lượn quanh co bên những cánh đồng lúa xanh ngát cùng những nếp nhà sàn của người Thái đen, vẽ ra một bức tranh đẹp đến mê hồn. Được biết, bộ mặt Mai Châu ngày nay đã có ít nhiều thay đổi, qua việc thị trấn mọc lên nhiều ngôi nhà tầng mái đỏ hay những gian nhà sàn trở thành địa điểm home-stay; đặc biệt, con đường quốc lộ 15 A dẩn lên các địa danh như Sông Mã, Mường Hịch, Sài Khao, Mường Lát trong bài Tây Tiến. . . đã hoàn toàn nâng cấp, giúp cho việc khám phá những điểm mà người lính và cũng là nhà thơ tài hoa lãng mạn Quang Dũng từng đặt dấu chân lên trước đó.
Thích quá, Mây Ngô, Quỳnh Đỗ, Anh Chi đề nghị tôi đưa cá`c cô xuống thung lũng Mai Châu, khám phá Bản Lác của người Thái đen ở cách xa thị trấn non một cây số.
– Đi đi anh, ghé lên đây mà bỏ qua Mai Châu, lúc về Hà Nội sẽ tiếc đến ngẩn ngơ luôn đó. Quỳnh eo xèo nài nĩ.
Mềm lòng trước lời nói có cánh ấy, tôi làm hiệu cho bác tài chạy xuống thị trấn Mai Châu, trước khi rẽ vào con đường nhựa nằm giữa những cánh đồng lúa xanh rờn. Bản Lác, một thôn bản hiền hòa của 5 dòng tộc Thái chuyên sống bằng nghề trồng lúa nương dệt thổ cẩm, nay do nhu cầu du lịch trong nước phát triển, nhờ đó nhiều gia đình có của ăn của để; đặc biệt, đường xá hầu như được trải nhựa từ đầu bản vào đến sân từng nếp nhà sàn, đánh số thứ tự từ hotel 1 đến hotel thứ 25. Lạ. Chúng tôi dừng chân trước ngôi nhà sàn vẫn còn giữ nguyên vẻ đẹp truyền thống cổ, với các bức vách sàn nhà đều được ghép bằng tre nứa. Hỏi thăm sinh hoạt giá cả lưu trú một đêm ở nhà sàn, chủ nhân vui vẻ cho biết giá một mâm cơm 6 người ăn chỉ mất vài trăm ngàn, gồm thịt gà bản, thịt lợn rừng, cơm nếp Mai Châu, canh rau muống, 1 chai rượu nếp Mai Hạ; riêng ngủ phòng tập thể với mền mùng chiếu gối sạch trơn, giá 30 ngàn đồng một người, tối thích thì tham dự vào những tiết mục văn nghệ cùng quần chúng và uống rượu cần miễn phí.
Lợi dụng lúc tôi bận trò chuyện, mấy cô gái xà vào gian hàng bán thổ cẩm gần đó, thuê mấy bộ quần áo diện vào giả làm gái Thái, tí tởn chụp hình bên chân thang ngôi nhà sàn. Bỏ mặc cho các cô tự sướng với nhau, tôi đánh một vòng đi loanh quanh bản khám phá cuộc sống chậm trên đôi tay cần mẩn thêu thùa, dệt thổ cẩm nơi các chị phụ nữ chơn chất hiền hòa, luôn điểm nụ cười trên môi mời chào quí khách ghé mua sản phẩm khăn quàng cổ, váy xòe, dây đeo, túi sách, quần áo thổ cẩm của mình. Chưa hết, gần đó còn có người đàn ông Thái bình thản vót cho phẳng phiu những miếng nan tre để làm nên các dụng cụ âm nhạc, kèn, phí, cung, nỏ, mõ trâu, tù và. . .
Bỗng! Bên tai tôi chợt nghe loáng thoáng tiếng hát hòa lẫn trong tiếng đàn, tiếng nhạc, tiếng phách, tiếng chiên trống rộn ràng phát ra từ cuối dảy nhà nơi đầu bản. Tò mò, tôi lần theo từng âm thanh đầy quyến rũ ấy, tìm tới ngôi nhà sàn có lối trang trí giống như một sân khấu, nhìn lên bên trên sàn nhà, phát hiện ra sự có mặt của rất nhiều người khách nước ngoài, kẻ ngồi người đứng thưởng thức điệu hát giao duyên hoặc tham dự nhảy xạp rất vui. Hỏi thăm, tôi mới biết đây là sinh hoạt văn nghệ do khách ở đây yêu cầu và được nhóm văn nghệ địa phương phục vụ. Giá trọn gói chỉ bảy trăm ngàn đồng, chưa kể ăn đặc sản cùng với uống rượu cần tính ra cũng không đắt lắm.
Đứng xem một lúc, tôi chợt nhớ ra trên đường về còn phải ghé lại thị trấn Trâu Quì nằm ven sông Đuống, thuộc địa phận huyện Gia Lâm, chiêm ngưỡng những cánh đồng hoa cải vàng đang vàng chóe một góc trời thủ đô Hà Nội.
Tạm biệt Mộc Châu. Tạm biệt thảo nguyên xanh mướt bên những đồi chè bạt ngàn, bên những mùa hoa mận, hoa cải trắng, hoa đào, hoa dã quỳ, hoa trạng nguyên . . . lấp loáng mù sương sớm mai; biến những tiếng cười giòn tan chẳng hề có chút vướng bận âu lo đời thường trên từng gương mặt hồn nhiên trẻ thơ, thành thứ ấn tượng khó quên trong mắt mọi người qua suốt cuộc hành trình đi khám phá vùng cao Tây Bắc trong những ngày sắp Tết.
Minh Nguyễn
Nguồn: Tác giả gửi
(*) Thơ Quang Dũng.



















