Đọc “Lóng Lánh Trời Xưa” của Đặng Kim Côn

Posted: 20/01/2014 in Biên Khảo / Phê Bình, Đặng Đình Túy
Thẻ:

Đặng Đình-Túy

bia_long_lanh_troi_xua

Giữa hai kẻ có chung một theo đuổi, dù theo một cách chuyên cần hay chỉ là hứng khởi chốc lát, vẫn có chỗ gần gũi và vẫn có điều để nói với nhau. Đó là cách tôi phân bua khi đã giành công việc của Bà Tám (bút hiệu dùng viết blog của NTHH), một người quen viết phê bình, có cách phân tích tế nhị, sâu sắc, và nhất là đọc nhiều biết nhiều. Thế nhưng dạo này  bà bận bịu quá mà tôi thì ngồi không… Vả lại, ở đây tôi không có tham vọng phê phán mà chỉ nhằm giới thiệu tập truyện ngắn “Lóng Lánh Trời Xưa” của Đặng Kim Côn mà bà có nhã ý gửi cho đọc.

Tuy cách nhau hàng chục tuổi nhưng tôi và Đặng Kim Côn cũng có chỗ gần nhau là cùng ngửi mùi súng đạn  – ba thế hệ đàn ông Việt Nam sinh từ thập niên ba mươi tới năm mươi đều cùng gửi thân chiến trường như nhau dù ít nhiều có khác. Rồi phản ứng cũng khác : ông Đặng là người say mê nghiệp văn, ông viết từ tuổi hai mươi trong khi trường hợp tôi, viết chỉ là điều bất đắc dĩ. Viết trong tuổi hai mươi người ta say sưa, nồng nàn, sống động hơn nhiều. Và đăc biệt, nhờ tuổi nghề cao, kinh nghiệm dày, người ấy sẽ có khả năng tiến xa. Hơn nữa, với hăng say của tuổi trẻ, người viết sẽ không thèm cà kê dê ngỗng (như mấy anh già ậm ừ), đi ngay vào vấn đề, ngắn gọn. Văn họ sẽ có tính ký sự, nhiều sự việc, ít “làm văn”.

Tập truyện phong phú, chứa đến mười sáu đoản thiên; nhiều truyện rất ngắn chỉ vài trang, hợp với tinh thần cuộc sống hiện nay, ăn vội uống vội hưởng thụ vội. (Tôi tin rằng những người trẻ hôm nay ở hải ngoại, nếu còn ham đọc sẽ rất yêu thích văn ông Đặng.) Dường như các truyện được sắp xếp (gần như) theo thứ tự thời gian tựa một biên niên sử. Tôi lấy làm thú vị khi đọc xong một truyện lại liếc nhìn dấu ngày tháng mà nhà văn có thói quen ghi bên dưới và đoán chừng giai đoạn của cuộc chiến, căn cứ vào nội dung  truyện. Cũng căn cứ trên ngày tháng và nơi chốn tôi phỏng đoán tác giả thuộc binh chủng nào, đóng quân ở đâu.

Người lính trẻ chỉ có hai thứ băn khoăn : cuộc chiến và tình yêu. Chỉ vậy thôi. Còn sống thì còn đánh giặc nhưng đánh gì thì đánh cũng phải có lúc lắng lại. Lắng lại thì thấy trống không. Chẳng lẽ không nghĩ gì khác hơn sao ? Lính kiểng, lính văn phòng, lính thành phố thì còn có khả năng yêu đương …đúng nghĩa (!) chứ lính thực sự lội rừng thì biết sao hơn ngoài cách  tìm đến những cô gái làng chơi. Nhưng gái làng chơi cũng là người, cũng biết yêu đương chứ. Họ cũng biết cách biểu lộ tình yêu và cũng tìm được “lối thoát”trong hạn hẹp của số mệnh dành cho mình là bỏ đi, đến một nơi khác dù biết rằng rồi cũng bị bắt buộc tiếp tục “hành nghề”, nhưng hành động vẫn mang ý nghĩa của một đoạn tuyệt có tính tượng trưng như nhân vật  nữ của câu truyện đầu, Chỗ Đến Của Hạnh Phúc. Bi thảm của chiến tranh quá nhiều, quá vô lý đến độ không cho phép ta nói nhiều, nói dài ; chỉ cần ngắn gọn, chỉ nói tới điểm chính thôi. Dài dòng chỉ làm loảng sự việc, bi thảm ở chính nơi sự việc, nói nhiều vô ích. Như người phụ nữ đi tìm xác chồng. Chị nhìn thấy cái xác mặc “bộ áo quần quen quen”, nghi ngờ nhưng chưa bước được tới đó thì đã bị trái đạn pháo kích rơi nhằm, đứa con trên tay văng ra, còn chị thì vẫn “mở mắt trừng trừng” nhưng không nhin xác chồng mà “nhìn vào hư vô”(Một Ngày Của Quỷ). Tuyệt Lộ là truyện tôi đã đọc rồi trên một trang báo và qua đó tôi biết rằng con đường tháo chạy của chúng tôi đã gặp nhau ở tỉnh lộ 7, sớm muộn chắc cũng không cách bao nhiêu. Sau truyện này thì chiến chinh chỉ còn đọng lại trong trí nhớ nhà văn. Không khí coi bộ bớt bi thảm, tức bớt chết chóc chứ cơn buồn thì vẫn còn đấy dưới hình thức khác thôi. Ký ức của những ngày qua vẫn bàng bạc và vẫn có khả năng can thiệp vào chuỗi ngày còn lại dù khi người lính đã hết ôm súng.

Đặng Kim Côn có lối viết đối thoại rất dòn dã, nhất là khi ông cho phép hai người tình nói chuyện với nhau. Trong Lóng Lánh Trời Xưa có đoạn Hải và Bảo Ngọc đối đáp nhau rất có duyên. Tôi nghĩ nó đặc sắc ở chỗ mang rất nhiều địa phương tính (tôi cũng ở Phú Yên nên hiểu rõ cách nói năng của người vùng này) khiến tôi liên tưởng tới cách viết rất đặc biệt của Lê Xuyên hồi trước, kiểu Chú Tư Cầu giọng lục tỉnh. Còn một đoạn đặc sắc khác cũng được tìm thấy trong truyện Đã Tạnh Mưa Chưa, cũng dưới hình thức đối thoại khi hai tình nhân cũ gặp lại nhau. Họ gọi nhau bằng ông và bà nhưng dưói cái vỏ che ấy tố cáo nhiều nồng nàn tha thiết,  rặt cách xưng hô của miền Phú yên.

Không những trong cách viết đối thoại mà ngay những lúc cần miêu tả, ông Đặng cũng có lối miêu tả rất gần với đối thoại, nghĩa là tự nhiên và độc đáo. Ông tả nhan sắc cô Chiêu : “Đẹp, hơn cả hồi còn đi học. Cái dáng thon thả,  ẻo lả ngày xưa có nét đẹp khác. Bây giờ, không biết áo quần không theo kịp hay nàng cố ăn mặc vậy, từng mảng thịt da trắng ngần, sau bộ đồ bà ba vải nilfan, những ngực, những mông, những đùi cứ như chừng muốn nhảy xổ ra mà nổ mù mắt thiên hạ…”

Vượt qua giai đoạn sống nơi quê hương với chiến tranh và nước mắt, giờ chúng ta đối mặt với một môi trường sống khác hẳn ngày trước. Những kẻ quanh ta không còn là bà bảy bác năm mà là anh Mỹ trắng Mỹ đen, anh Mễ anh Ả rập. Ta bơ vơ lẻ loi hơn. Ta chụp giật, lộn đầu lộn đuôi với đời sống vật chất tưởng như qua đó ta không còn tỉnh tâm mà mơ uớc điều gì khác nữa. Trật lất! –Vẫn còn đấy tuy tạm bợ hơn, dễ tính hơn và biết chấp nhận điều bất thường với một thái độ rất ư là triết gia. Ta biết đâu là giới hạn, biết tới đâu nơi khả năng ta có thể vói tới ; vả lại ta đã đánh mất tất cả còn gì để gìn giữ nữa ! Mà một khi đã không còn gì để gìn giữ nữa ta bỗng xử sự đẹp gấp mấy lần ngày trước.  Với văn minh kỹ thuật, ta dùng e-mail thay giấy pelure xanh và bút bi. Mà kỹ thuật ấy tuyệt vời thực. Nó truy ra được những tâm tình năm mươi năm trước, bắt chúng tái hiện như câu chuyện của ông Đan và bà Huyền. Nhưng dòng sông không chảy xuôi mà chảy ngược, được chăng ? –Không. Phần bà Huyền thì rõ ràng lắm, nhưng ông Đan, chưa chắc. Rồi cũng phải tỉnh lại thôi : “Mất nhau thật rồi, phải không?” câu nói trên miệng bà Huyền không phải là hình thức  nghi vấn mà xác nhận, vì bà tuy cũng mềm yếu nhưng lại lý trí hơn ông. Câu chuyện có tên là Dòng Sông Chảy Ngược. Có câu chuyện khác tôi rất thích : Biết Đâu Là Chiều Nay kể lại mối tình hết sức hư ảo giữa hai kẻ chạy xe trên cùng xa lộ theo chiều quay về. Khi ra đi họ khởi hành trái giờ nhau, nhưng chuyến về thì họ cùng về một lúc. Cứ chạy song song như thế nhiều lần, chỉ cười và chào nhau mà trở thành quen. Quen rồi trở nên  quyến luyến. Rồi ởm ờ hứa hẹn. Nhưng màn kết là một tai nạn đến với nàng. Cũng chưa chắc đã là nàng. Bạn có thể xác nhận hay phủ nhận cảnh tượng đó, khi xe cảnh sát đến kéo chiếc xe gặp nạn mang đi, là tùy ý bạn. Chiếc xe Nhật mầu đen mà mỗi ngày chàng thấy nàng ngồi trên ấy vẫy tay cười. Rồi lợi dụng những vụ kẹt xe họ kịp ghi cho nhau số điện thoại. Và gọi nói chuyện. Và hứa hẹn hảo. Rằng hôm ấy sau khi đi công tác về nàng sẽ có quà cho chàng. Chính là hôm có tai nạn xe, chiếc xe Nhật mầu đen nát bầy mà đội cảnh sát giao thông đến lôi đi, bảng số thì bị dẹp nát không đọc được. Hy vọng nằm ở chỗ là chàng chưa đọc được bảng số mà chàng đã thuộc nằm lòng ấy thôi !

Dàn dựng một câu chuyện, góp nhặt tình tiết, và viết cho … trôi chảy, đấy chỉ thuộc về phần kỹ thuật. “Hành nghề” lâu rồi thì ai cũng tìm được cách riêng của mình để  bôi đầy trang giấy nhưng viết thế nào để câu chuyện kể còn gây được chút rung động trong lòng người đọc lại là chuyện khác. Như tôi đã nói trên đây, Đặng Kim Côn thuộc loại kiệm lời. Phải đọc ông giữa hai hàng chữ, nhưng đó là vấn đề thuộc phạm vi mỹ học của quan niệm sáng tác…

Thôi cũng không nên tham lam kể hết mọi điều tác giả viết, hãy dành cho độc giả cái quyền thưởng thức chứ !

Mười sáu chuyện hầu hết  là chuyện tình. Thời này mà có đến mười sáu chuyện tình để kể đã là điều hiếm hoi. Những ông lính ngày xưa té ra lãng mạn quá nhỉ ? Họ lãng mạn thời mang súng lội rừng. Họ lãng mạn khi ném súng tan hàng. Và tiếp tục lãng mạn khi về già, khi bơ vơ trên đất người. Không phải tôi nói gượng chứ tôi chọn giữ hình ảnh ấy hơn là hình ảnh kẻ chiến thắng tay ôm búp bế tay giữ guidon chiếc xe đạp trên có thồ chiếc tủ lạnh mới tịch thu được như chiến lợi phẩm, ngược đường từ miền nam ra ! Sẽ có kẻ đọc câu này và nhếch mép cười chế nhạo cho rằng tôi bị di (không có dấu nặng) chứng Ả.Q. của Lỗ Tấn mất. Chắc vậy thật. Tuy nhiên, dù càng lúc ta càng bị vây khổn bởi hạn hẹp cuộc đời ta vẫn cố tình chọn lựa –như tôi ; mà không chừng như nhiều người khác nữa, mỗi sáng thức dậy sau khi làm xong những thủ tục đầu ngày, đã phải tần ngần tự hỏi việc tiếp theo sẽ là gì ? Mở trang máy tìm đến những  cột quen thuộc thường đọc, sau đó thì e dè click lên một vài nơi khác, hy vọng nhìn thấy một sáng tác “đọc được”, một tư tưởng lành mạnh như dưới lớp lá mục tìm ra một mầm non sắp nhú lên : mầm hy vọng, lý do cho cuộc sống mai sau, không phải cho riêng ta mà cho lớp người sau, cho văn hóa mình, cho đất nước mình. Mọi thứ rồi ra sẽ mai một hết với thời gian, chỉ riêng có văn chương nghệ thuật là trường tồn. Tôi ao ước những người còn tương đối trẻ, còn sức sáng tạo như Đặng Kim Côn sẽ còn tiếp tục.

Mai sau dù có bao giờ…

Đặng Đình-Túy
Nguồn: Đặng Kim Côn gửi

Đã đóng bình luận.