Tiếng cười “bởn cợt” trong thơ Nguyễn Nam An

Posted: 09/03/2014 in Biên Khảo / Phê Bình, Hoài Ziang Duy
Thẻ:

Hoài Ziang Duy

bia_anh_biet_da_nang_qua_may

Tôi biết Nguyễn Nam An (tức nhà văn An Phú Vang ) khi chúng tôi cùng đứng chung trong Tuyển tập truyện ngắn 14 tác giả do nhà thơ Phạm Ngọc thực hiện (Văn Tuyển xuất bản năm 2000), từ đó thỉnh thoảng có trao đổi email qua lại, nhưng chưa có duyên gặp gỡ.

Những ngày cuối năm 2013, tôi nhận được tập thơ Anh biết Đà Nẵng qua mây của Nguyễn Nam An, do Quyên Bút xuất bản. Tập thơ với 3 tác giả Bùi Ân, Dương Nổ, Nguyễn Nam An cùng đứng chung, với bìa xoay ngược 2 mặt trước sau. Sách do họa sĩ Mai Phương (tức nhà văn nữ Trầm Hương) trình bày bìa, đẹp trong sáng. Tôi nghĩ đây là sự thể hiện tình bạn hữu lâu năm.

Tập thơ hơn 300 trang, trong đó Nguyễn Nam An với 243 bài thơ (thường là ngắn) cho thấy sức sáng tác của Nguyễn Nam An vẫn còn sung mãn. Đọc thơ Nguyễn Nam An, tôi có cảm giác lạ so với đọc thơ người khác. Thơ An không bi lụy, khó hiểu. An viết khơi khơi, dễ dàng như thể gặp đâu thơ đó. Nếu nói An viết khơi khơi, thì người đọc cứ tà tà đọc thơ An. Tôi có cảm giác nầy, khi giở lần từng trang sách. Trong thơ Nguyễn Nam An còn có tính hồn nhiên, ngôn ngữ dí dỏm đáng yêu, quẩn quanh cái tuổi trẻ một thời. Tôi thích Hồ Đình Nghiêm ở lối dựng truyện lạ. Đọc Tưởng Năng Tiến, cười một mình thú vị. Đọc thơ Nguyễn Nam An để thấy đàng sau tâm hồn giản dị, là lối thơ, là tiếng cười bởn cợt trong cuộc sống đời thường.

Đây không phải là tập thơ đầu tay của Nguyễn Nam An. Trước đây anh đã có thơ, truyện, xuất bản ở hải ngoại. Tập thơ Anh biết Đà Nẵng qua mây với nhiều bải thơ có mây nhiều quá. Các bài ở trang 64, 225, 230, 231, 237 và còn nữa. Không biết với mây, Nguyễn Nam An có những gắn bó, ảnh hưởng thế nào, nhiều trang chữ anh đã dùng đề tài nầy hay chữ Mây là tên một người tình được nhắc đến?

Thử đọc một bài Chỗ xanh để thấy mây trong lòng tác giả.

Em ngồi bên phải của anh
Con mắt cứ ngó xanh xanh mây trời
Nhưng mà chổ ấy xa rồi
Chỉ còn bên trái mây trời không xanh
Mây trời đó cũng như anh
Bay hoài không đến chỗ xanh em tìm

Hay

Trở về thấy chỗ đi ra
Chỗ trên trái đất hiền hòa, người không
Trở về thấy lại chỗ nằm
Ngó lên sân thượng thời trăm năm ào
Còn ảo ảnh ước mơ hao
Có còn anh ở chỗ nào đó mây
(Bài Em trở về Sàigòn, tr. 32)

Nguyễn Nam An cũng là ngườì mặc áo lính, người lính thua cuộc năm xưa, nhớ về một Sài gòn, đơn vị cũ. Bài thơ Mấy ngã Sàigòn (tr. 236), với lối diễn một ý trong hai câu liền.

Biết đâu mấy ngã Sàigòn
Ngày đi trong túi chỉ còn trại binh
Hoàng hoa Thám chỗ của mình
Lính đi vào trận thình lình buồn ai
Không về để hậu cứ mai
Bài thơ nhắc lại nhớ hoài nước non

Không biết có cùng tâm trạng không, mà tôi lại thích bài thơ Ba (tr. 208), chân thật, hiền lành, với ngôn ngữ quen thuộc ở người lính tác chiến (từ mút mùa hay mút mùa lệ thuỷ nhằm ám chỉ còn lội dài dài hành quân, chưa về). Bài thơ Ba, phải chăng là một ám ảnh tác giả mang theo.

Mỗi ngày con đều nhìn thấy hình Ba trên bàn thờ
Hình thuở đó những ngày còn lính chiến
Ba chết từ năm con lên ba rồi qua bao dâu biển
Con cũng là lính lội mút mùa đến một lúc sang trang
Mà (tan hàng) thì (cố gắng)
Rớt xuống phải đứng lên
Ba rớt xuống thì ba nằm yên
Hồn đứa bé nến quan tài cứ nhớ

vả kết thúc với 2 câu:

Hôm nay con nhìn thấy hình ba lại muốn to to nhỏ nhỏ
Dẫu có thế nào trong cuộc đời con vẫn nói thương ba

Đọc bài thơ Giao thừa má má con con (tr. 71) để thấy Nguyễn Nam An viết bài thơ tặng Mẹ đêm giao thừa xa xứ, để thấy hình ảnh người Mẹ trong tâm khảm Nguyễn Nam An

Chờ giao thừa má với con
Ngồi cụng cụng má kể hồi còn thơ
Má về con đó ngồi chờ
Mong năm mới lại được giờ ngồi nghe
Giao thừa con, má tiếng xe
Chạy từ quê ngoại rề rề đến đây
Nơi trú thân thị trấn nầy
Đêm nghe pháo đợi mai ngày tân xuân
Tôi lớn lên cứ xa dần
Những giao thừa nhỏ ân cần má, con

Và với 4 câu thơ ngắn ngũi, ý tưởng đẹp. Bài N. Q (tr. 48).

Gần sinh nhật con mẹ còn trên núi
Cha ở biển rồi lại ngó đồng bằng
Thôi vui chờ nhau hát câu tình hỡi
Chỉ còn nụ cười con nối hai nơi

Đọc thơ Nguyễn Nam An, nó nhẹ nhàng như mây, vẫn là mây trong thân phận tác giả. Bài Đã có một thời như vậy (tr. 161)

Đã có một thời như vậy
Rời nhà năm mười bảy
Ba tháng cho đúng ngày
Từ đó bay như mây
Đâu biết có chiều ngồi đây
Ngoài kia hoàng hôn xuống đầy
Rồi một ngày không ai đấy
Em vẫn vậy, là mây
Tôi vẫn là lính tráng tôi bay
Thuở trên núi cứ ngóng phố đầy
Ngày bỏ nước biết đâu còn nghe thấy
Em kể thuở học trò nơi tôi bỏ tôi đi đây

Hay với bài Mùa mưa (tr. 106 trích đoạn) để thấy nỗi niềm tác gỉả

Qua một bửa của thu đầy trên lá
Anh có ngày nghe gió dậy vườn khuya
Gần sáng thức chợt nghe mưa nhiều quá
Mái hiên xa rầm rập tiếng quê nhà

Qua một bữa chợt nghe mưa nhiều quá
Anh quay ngược về chỗ ở xa xa
Thương cha đã qua những ngày sống ngắn
Thương mẹ tảo tần gánh nặng chiều hôm
Nuôi con lớn, con đi buồn thêm lớn
Qua một bữa như mùa thu đã chớm
Cùng với mùa mưa anh ướt với quê hương

Ngoài những bài thơ nghiêm chỉnh của Nguyễn Nam An, chúng ta thấy rất nhiều bài mang
tính ngổ ngáo ở một thời tuổi trẻ. Bài Ngày xưa chanh (tr. 222)

Ngày xưa chanh, hỏi, thành ra
Bây giờ (chảnh) cứ tà tà em đi
Quá xa để hỏi tại vì
Đứa thức đứa ngủ cứ lì nằm mơ
Nửa đêm dậy thấy bày thơ
Buồn, anh lại giả vờ, không thương

Như đã nói, làm thơ với Nguyễn Nam An, thì ở đâu sự việc, chuyện lớn nhỏ gì cũng thành thơ. Như bài Em hát (tr. 160) cho lời dẫn.

Đem bỏ trong (ciđi) tiếng ca nầy hơi khác
Hát có kẻ muốn nhìn vì môi lạ thành hay
Ta về mỗi ngày tay ta táy máy
Bài nầy bài kia hương cố xứ bay bay

Giới thiệu những bài thơ trong tập Tôi biết Đà Nẵng qua mây, mà không nhắc đến bài thơ làm tựa cho toàn tập, hẵn là một thiếu sót (tr. 256)

Buổi sáng nay thức dậy
Email ngày bay bay

Em nói thời bên ấy
Tôi nghe ngày hôm nay
Trong ký ức còn đây
Thành phố lúc mười mấy
Buổi sáng nay thức dậy
Đường nhà xưa ở đã
Thành Gia Long nào hay
Anh ở bên nầy
Chỉ biết Đà Nẵng qua mây

Nhưng thể thơ mà tôi nghĩ Nguyễn Nam An thành công, là thơ anh viết về đời sống thường nhật, tâm tình của kẻ lãng tử giang hồ, coi như một sở trường của anh, rất riêng Nguyễn Nam An. Chả hạn như bài Đành thôi (trích mấy đoạn tr. 146)

Ta có một ngày không mấy khác
Đi làm như lúc thả cần câu
Câu lên con cá bên bờ đá
Chẳng lẻ hoài nên mộng đi xa
Đi đâu! mà quê nhà không tới
Mà ai, ai đợi lúc trời ơi
Em lạnh, đó đây anh đành chịu
Sáng ra nghe bệnh lại buồn nhiều
Chiều nay anh về hìu hiu lửa
Bắt một nồi cơm ghé quán đông
Dơ tay mà chỉ dăm ba món
Hàng cơm chay đời chay tịnh không
Cứ thế lòng vòng từ xuống núi
Nhìn lên chốt chặn bước quay lui
Anh con bà phước nhiều lúc với
Trước và sau đều trống, đành thôi

Hay trong bài Về nhà khi xóm gần đi ngủ (tr. 123)

Cơm nấu lúc chín giờ tối
Chờ cơm chín ngồi ăn mì
Từ hai đứa xa anh vẫn vậy
Lạ còn sống đến hôm nay

Với bài Nơi anh mượn sống (tr. 110)

Bước xuống phi trường em đi
Lang thang ở Mỹ nhiều khi lạc đường
Nơi đây có quán quê hương
Tiệm phở mở muộn con đường Bolsa
Ba ông Phước, Lộc, Thọ già
Ngày nào cũng đứng ngó xa gọi gần
Sàigòn nhỏ đó bâng khuâng
Nơi nào cũng cõng trên lưng quê nhà

Có quá nhiều bài trong tập thơ dầy, không thể đưa lên hết. Anh viết rất nhiều bài thơ về bè bạn, nơi chốn cũ, đời sống hôm nay. Thôi thì chọn một bài thơ trong các bài thơ tình lãng mạn, cho đủ đầy thể loại, để khép lại những giòng về nhà thơ Nguyễn Nam An. (tr. 152. Bài Em chép gởi tôi bài thơ lan ngọc)

Bây giờ Lan Ngọc, Ngọc Lan
Anh gặp lại ngày tình tang tan hàng
Em cũng tan buổi chiều vàng
Một thời tím lịm bàng hoàng gặp nhau
Bài thơ mấy chục năm sau
Có người chép lại rụng câu tình sầu.

GIới thiệu, đọc thơ Nguyễn Nam An mà không nhắc đến Dương Nổ và Bùi Ân, hai tác giả đồng hành với Nguyễn Nam An, cùng đứng chung trong một tập thơ (xoay sách lại) thì chắc không trọn vẹn nghĩa tình. Đọc 3 tác gỉả trong cùng tập thơ, mới thấy có điều đặc biệt là cả 3 có cùng giọng thơ, ý tưởng giống nhau, qua cách nhìn, diễn đạt ngôn ngữ, như chung một tần số. Phần thơ của Bùi Ân, Dương Nổ với 46 bài thơ chung. Tôi chọn mấy bài thơ hay.

Dương Nổ. Bài Ngày mưa (tr. 28)

Phải chi, chi thuở tình quen
Nửa đêm về phố ngủ quên vai người
Sáng nay qua thấy mùa vui
Xe anh lên xuống, mà bùi ngùi nay.

Ở chùa Dược Sư mua đồ ăn (chỉ)

Thứ bảy hay nhiều khi chủ nhật
Lên chùa chẳng tụng niệm mua cơm
Đứng sắp theo hàng khi thím hỏi
Chỉ rồi nói mỗi thứ hai phần
Có thêm một điều khi thím nói
Vợ đâu mỗi tuần lại mua cơm
Tôi chỉ đồ ăn chay hai xách
Vợ (phần) trên núi – con (phần) đây

Dương Nổ

Thơ Bùi Ân. (Trả lời câu hỏi, tr. 47)

Anh vòng vòng buổi sáng rồi chạy đi làm
Trưa hỏi phong lan nhỏ em thằng bạn
Chiều về lên mây hỏi mây mây thấy
Email của ngày mây gửi về đây
Đôi khi bụng đó nửa đêm thức dậy
Lại nhào tìm mây quê cũ có bay
Thành phố ngày xưa trong em anh thấy
Đà Nẵng đường nầy xóm cũ lối kia.

Bài Càphê (tr. 50)

Hai thằng sửa đá càphê
Sáng ngồi quán muốn chửi thề tùm lum
Thì ra cả bọn dính chum
Cùng ngáp ngáp và muốn bung cho rồi
Bung rồi để đó cuộc đời
Còn đủ thứ nên lại ngồi càphê

Bùi Ân

Và kết thúc tập thơ phần Dương Nổ, Bùi Ân là một bài thơ Đẹp tựa C, Bùi
của tác gỉa Dương Nổ, nối kết tên tuổi 3 người bạn

Một Dương Nổ, một Phú Vang
Dính (chi) Bùi nhớ thu vàng Bùi Ân
Từ em bước nhỏ bâng khuâng
Đến đi đời đó một vầng trăng chi

Với thi tập Anh biết Đà Nẵng qua mây, phần chủ lực là Nguyễn Nam An. Ở đó chúng ta đọc thấy tình bạn hữu, viết cho anh em, cùng với người và việc trong đời sống. Có nỗi nhớ, có một thời tuổi trẻ. Tất cả khởi từ ở chổ đứng đây nhìn mây, nhắc tâm tình ngày cũ. Khởi từ xóm nhỏ, con đường, những mất mát đã qua, cho đến thời gian trên đất nước dung thân. Tập thơ là một đời sống, mây ở trên đầu hay mây ở đâu xa vẫn là một nỗi niềm mà tác giả muốn gởi gắm chia sẻ đến người đọc. Tôi nghĩ Nguyễn Nam An và tác giả đứng chung còn đủ công lực để sáng tác, như mỗi ngày trên web Quyên Book (một web của Nguyễn Nam An) trình làng các bài thơ dù ngắn, nhưng đều đặn.

Đọc Nguyễn Nam An hôm nay, tôi nghĩ anh còn làm thơ dài dài. Trong cách nhìn việc và thơ liền ở trước mặt, với cảm xúc mau chóng đó, sẽ hình thành những bài thơ bất chợt, ý nhị trong cuộc sống, khi mây còn ở với đời, mây ở trên cao.

Hoài Ziang Duy
Nguồn: Tác giả gửi

Đã đóng bình luận.