Khi ta yêu… (chuyện tình giữa Simone de Beauvoir và nhà văn Hoa Kỳ, Nelson Algren)

Posted: 24/03/2014 in Biên Khảo / Phê Bình, Irène Frain, Đặng Đình Túy

Đặng Đình Túy lược thuật theo “Beauvoir In Love” của Irène Frain, nxb Michel Lafont.

bia_beauvoir_in_love

“Parce que les jambes, le ventre, le sexe, aucune importance ; c’est le cœur qui compte…” (Irène Frain)

Tình yêu là một món quà. Chắc là của trời cho. Vì nếu không phải vậy thì ai cũng phải có chứ sao lại kẻ có người không, mà đôi khi nó còn đến với ta rất muộn màng. Dù vậy vẫn còn hơn không. So với cuộc sống dài đằng đẳng, chỉ cần vài giây phút chao nghiêng ấy đủ làm món nhắm cho ly rượu đời, “tình trong giây phút mà thành thiên thu” là vậy. Ngược lại, cũng có trường hợp tình yêu đến như cơn cuồng phong, phá phách tan tành. Chưa chắc nhận được món quà như vậy đã hay. Tốt hơn là đừng có. Nhiều đôi lứa chẳng hề biết yêu là gì mà vẫn sống với nhau đến mãn đời, sinh con đẻ cái tùm lum, và dù có khi cơm không lành canh không ngọt nhưng chưa đến nỗi phải đâm chém nhau gây án mạng.

Tuy nhiên, không phải muốn mà được. Ta không có quyền chọn lựa. Nó đến không được mời và đi không cần đuổi xua. Trong gặp gỡ đã có mầm chia biệt. Biết sao ?

…Năm ấy nàng đã ba mươi chín tuổi. Nàng gặp ông lúc còn đi học, khi hai người cùng vào ngồi chung ngôi trường danh tiếng, ENS –école normale supérieure. Với tinh thần tự do, họ sống bất chấp dư luận. Nơi họ có quá nhiều điểm tương đồng mà họ tưởng là tình yêu. Chẳng hạn tư tưởng giống nhau. Chẳng hạn trình độ ngang ngửa. Chẳng hạn xuất thân cùng giai tầng xã hội. Và đều có tài năng, ít ra trong lĩnh vực văn chương, triết học. Họ bằng lòng “sống bên nhau mà không cần hôn thú” nói như Nguyên Sa. Rồi họ cũng chỉ là con người như mọi con người, phản bội là bản chất. Ông từng định nghĩa : trung thành là trung thành với giây phút hiện có. Nhưng họ cũng đã lập khế ước (pacte) sống chung. Ông xem tình yêu giữa họ là tình cần thiết, nécessaire ; mà nếu vạn nhất, hướng nhìn có lệch chăng thì đấy cũng chỉ là thứ nhân vật phụ tùng, contingent(e). Vô số nữ môn đệ đi lạc vào giường ông ngả lưng qua đêm vì ái mộ thiên tài. Phần nàng, nàng cũng kinh qua những mối tình lẻ, kể cả tình đồng phái, ảnh hưởng tư tưởng tự do được phát triển qua suy tưởng triết học mà sau này nàng sẽ viết nên tác phẩm lớn, lẫy lừng, trong đó nàng quả quyết : người ta không sinh ra là phụ nữ mà chỉ trở thành (on ne naît pas femme, on le devient). Từ quan niệm đó, nàng xây nên ý thức tranh đấu cho nữ quyền.

Chúng ta đang ở vào thời kỳ sau cuộc chiến tranh thứ hai, vũ khí được dẹp vào kho và con người quay lại với những vấn nạn cao cả và ý nghĩa hơn là tìm cách làm thế nào để giết lẫn nhau. Nàng đã trứ tác một số văn phẩm đủ cho danh tiếng vang dội không những tại quốc nội mà còn lan sang cả bên kia bờ Đại tây dương. Chủ nghĩa hiện sinh vô thần do ông đề xướng đang có mãnh lực rung chuyển trí óc con người nhất là sau cuộc chém giết, ý nghĩa nhân sinh càng trở thành vấn nạn cần đặt lại. Ở Mỹ, đa số quần chúng chưa hiểu triết thuyết mới ấy, họ đang mong được giải thích. Không gì bằng được nghe chính đồ đệ vừa là đồng chí của ông phát triển nó. Các viện đại học và một số trí thức bèn ngỏ ý qua tòa đại sứ Pháp bên ấy mời nàng sang làm một chuyến thuyết du. Tháng giêng năm 1947 nàng đến New York. Ngoài những buổi thuyết trình và các cuộc phỏng vấn, nàng cũng muốn tìm hiểu bề sâu của xã hội Mỹ nhất là muốn mục kích mặt trái xã hội tư bản, ý tưởng mà ông đã mớm cho nàng trước buổi ra đi. Xã hội Pháp lúc này còn đang hồ hởi bởi hứa hẹn “ngày mai sáng lạn” của chủ nghĩa Marxiste-Léniniste, nên cần nhiều soi sáng để so sánh hầu nhận rõ đâu là thiên đường đâu là địa ngục. Vả, dù vùng vằng, nàng vẫn không thoát ra nổi vòng kim cô do ông gắn lên đầu : việc ra đi của nàng, bên ngoài là hoạt động của một trí thức nhưng bên trong, giữa hai kèn cựa xác thân, là sự sắp xếp để tránh những gấu ó tầm thường của libido bị đè nén : ông chuẩn bị mang một contingente về tổ ấm trong thời gian những buổi điểm danh khiếm diện phần nàng. Ra đi, bên tai nàng cái tên Dolorès vẫn vang vang ngạo nghễ thách thức, dấy lên mối ghen tuông thường tình. Vì thế mà mặc cho những vòng hoa ca ngợi, hằng đêm sau những buổi thuyết trình, thảo luận, phỏng vấn, lúc quay về khách sạn nằm trên giường ngủ, cô đơn ghen tuông vẫn siết lấy cổ nàng đến nghẹn thở. Nàng dùng khá nhiều rượu, và chỉ mong thời gian qua nhanh để được quay về. Trong chương trình đã sắp đặt thì khi nàng quay lại đất Pháp, dự định vào trung tuần tháng năm, Dolorès sẽ phải cuốn gói ra đi.

Sau khi chương trình dừng chân New York cạn, nàng đã nghĩ đến Chicago, chính tại nơi ấy bộ mặt của chế độ tư bản rừng rú được phô bày rõ nhất. Nàng muốn được tận mắt chứng kiến vì đi tới đâu, trong những buổi thảo luận, giới trí thức Hoa Kỳ không bị khớp vì danh tiếng nàng đã dàn trận công kích đến nỗi chủ nhiệm tờ Partisan Review, William Philips, được mệnh danh là người đàn ông thông minh nhất Hoa Kỳ, sau một cuộc tranh luận gay cấn đã phải tìm cách xoa dịu tự ái nàng vì ngại gây trận lôi đình nơi ông, triết gia số một Âu châu thời đại. Tòa lãnh sự Pháp vùng Illinois có nhiệm vụ sắp xếp chương trình ba ngày viếng thăm rốt cuộc đã cắt mất của nàng đi một nửa. Trước khi chính thức thực hiện cuộc thăm dân cho biết sự tình, họ sắp xếp để nàng gặp những nhân vật dính líu tới địa phương Chicago. Mary Guggenheim, một cô gái say chủ nghĩa hiện sinh, con nhà khá giả, mời nàng ăn tối tiện thể bàn luận về chuyến đi. Bữa ăn tối hỏng đủ thứ do chỗ cô Mary không biết nấu ăn, đã gây bực mình cho chủ lẫn khách. Để cứu vãn, Mary giới thiệu người tình cô, một nhà văn xã hội, Nelson Algren, làm kẻ hướng dẫn nàng trong vài chục tiếng đồng hồ tham quan. Về đến khách sạn nàng gọi ngay cho anh ta hẹn gặp. Nelson không tức khắc vồ vập, anh dè dặt với thiếu phụ “frenchie”. Nói dăm điều ba chuyện rồi họ bắt đầu cuộc viếng thăm thành phố để quan sát mặt trái của nó. Trời cuối tháng hai, tuyết rơi trên phố Chicago và những ngọn gió lạnh quét rát mặt. Simone –giờ thì người đàn ông đã bắt đầu gọi nàng bằng tên theo cách giao tiếp thẳng thắn của người Mỹ– gắng rảo bước cho kịp người hướng dẫn. Anh ta to cao, nàng bé nhỏ nên cứ phải ngước mặt để hiểu anh nói gì với “accent” midwest mà nàng chưa kịp nghe quen. Từ lúc mười giờ đêm khi hai người bước khỏi khách sạn Palmer nơi nàng trú ngụ, bây giờ đã hai giờ sáng. Nàng chưa thực sự mệt mỏi nhưng chẳng lẽ bắt người tháp tùng suốt đêm để mục kích đời sống dưới tầng địa ngục Chicago, nơi nàng đã quan sát và ghi nhận đầy đủ vào ký ức mặt trái xã hội, những cô điếm những người thất nghiệp những di dân những kẻ nghiện ngập sống chung với các giỏ rác, những thùng phuy mà người ta đốt báo để sưởi ấm, vũ trường quán rượu flop-houses, ống xơ-ranh dùng chích ma túy, rác rưởi và tuyết trộn với đất thành bùn non… Nàng suýt ngã, anh ta chộp kịp và giữ chặt trong vòng tay mạnh khỏe. Một chiếc tắc xi không khách ngang qua, nàng đưa tay vẫy, xin phép quay về. Anh ta lịch sự mở cửa cho nàng, họ đã nói gì với nhau những lời tạm biệt không ai trong hai có thể nhớ, ngoại trừ chiếc hôn hẹn gặp lại ngày mai. Trong thư thuật lại với ông nàng diễn tả : “anh ta đưa em vào xe, hôn vụng về nhưng nghiêm trang”. Khi tài xế nổ máy hướng về phòng thuê nàng sực tỉnh cơn mê, thấy mình còn giữ trong tay mảnh giấy anh ta nguệch ngoạc mấy chữ 1523 đại lộ Wabansia, phía tây.

Sáng hôm sau tòa lãnh sự mời nàng cơm trưa, có mặt một nhà kinh doanh địa phương, sau bữa ăn nhà kinh doanh kèo nài mời nàng thăm viếng khu kỹ nghệ, nghĩ rằng chưa đến giờ hẹn với Nelson nàng chấp nhận với điều kiện là sau đó ông đưa nàng đến đại lộ Wabansia. Mọi người giẩy nẫy : chao ôi, vùng thiếu an ninh ! Mặc kệ, nàng nhanh nhẩu xuống xe tìm số nhà 1523, bỏ lại chiếc xe limousine dài ngoằn của lãnh sự quán. Trên căn gác, Nelson ở vị trí quan sát, anh nhìn thấy tất cả. Anh cũng đã căn dặn cách vào nhà, không phải từ mặt trước mà vòng ra đàng sau. Nàng đang vén áo lội vào ngõ hẹp chẳng khác người em gái Tô Vũ đến thăm anh chiều mưa, nàng leo lên cầu thang gỗ, nàng gõ vào tấm mành sáo ngoài cửa. Người đàn ông tối qua hiện ra. Vẫn với chiếc quần cũ, chiếc blouson da, chiếc áo len bạc mầu bên trong, nét đẹp trên khuôn mặt anh in lên khung trời buổi sáng lù mù tuyết lạnh. Anh ta to cao, bao nhiêu tuổi nhỉ ? Ba lăm, ba tám ? Căn nhà có hai phòng, không tủ lạnh, cũng chẳng thấy phòng tắm. Hẳn là anh ta tắm bằng vòi nước rửa chén ? Nơi ở tựa như phòng dành cho kẻ độc thân đón bạn gái. Anh ta có đeo nhẫn, chiếc nhẫn to gắn đá xanh bên tay trái. Vậy là anh ta có vợ ? Hình như anh ta có cảm tưởng bị quan sát, nên quay lại nhìn. Nàng giật mình, đỏ mặt. Một đoàn xe hỏa hay xe điển chạy qua từ phía đầu đường, hành lang gỗ phía ngoài bếp rung lên. Khi tiếng động tắt, mặt nàng hãy còn nóng. Nàng nhìn chiếc giường có trải tấm chăn kiểu Mễ tây cơ, thầm nghĩ : giá được ngồi lên nơi ấy suốt ngày nhỉ ? Sau tách trà, nàng lấy lại bình thản, bây giờ anh đưa tôi dạo khắp khu này chứ ? Trên đại lộ, cứ khoảng hai chục thước lại có một quán rượu, họ sà vào quán đầu tiên, gọi hai ly vodka. Chủ quán người Ba lan, khách hàng phần nhiều cũng Ba lan. Không khí trong quán ấm áp, chàng cởi áo ngoài, dưới chiếc pull nàng tưởng tượng một thân hình thể tháo gia. Giá có ai hỏi nàng đang ở đâu, nàng sẽ bảo : tôi đang ở trong một khu phố nơi tôi cảm thấy sung sướng, với một chàng trai hào hoa…. Ngay vào lúc đó chàng nhìn chăm chăm vào nàng, nàng nhìn lại không trốn tránh và một ý nghĩ đến trong trí : trong tia nhìn của người đàn ông này, tôi là một người nữ. Đã từ bao lâu rồi điều đó đã không xảy đến với tôi ?

Nàng có biệt danh “castor” do các bạn bè đặt. Theo giải thích thì vì tên Beauvoir phát âm hơi mài mại chữ beaver trong anh ngữ, mà beaver là một giống hải ly –castor, nên mọi người bèn gán cho nàng tên ấy. Do đó ông cũng gọi nàng là Castor, “cô hải ly duyên dáng của tôi”. Có điều lạ là việc mang hai tên cũng trùng hợp với bản chất nhị trùng nơi nàng. Khi nàng hành động theo lý trí, nàng là castor, khi nàng xử theo tình cảm nàng trở về với nàng Simone, hình ảnh tạo dựng bởi Nelson. Đêm trước, nàng khám phá mặt trái của xã hội Chicago, hôm nay nàng theo Nelson lang thang các quán rượu. Nelson bối rối trước thiếu phụ đến độ anh ta bỏ quên chiếc mũ len trùm tai nên cứ mỗi lần hai tai tái lạnh, họ lại ghé vào quán ruợu gọi vodka. Tổng cộng họ đã nốc đến bốn năm lần khi giờ điểm danh tới. Người ta báo tin sẽ có xe đến tìm, nàng gọi chiếc taxi thay vì. Lần này Nelson ôm siết nàng và thì thầm: “Simone, tôi không muốn nghĩ rằng tôi sẽ không gặp lại bà”. Nàng nghiêng mặt tránh làn môi anh ta đặt lên nhưng đã nghe anh nói tiếp: “bà sẽ trở lại chứ?” Không phải là một câu hỏi, đấy chỉ là lời xác quyết. Nàng nghe mình thốt ra trong hơi thở: “vâng”. Và anh ta: “Phải quay lại thôi. Nếu không thì đau đớn quá!” Lần thứ hai nàng đáp: “vâng, tháng tư tới”, rồi thấy mình quả quyết quá, nàng thêm: “ không biết đâu, chắc có thể được”. Nàng tính toán : vé máy bay trở về ghi ngày 24 tháng tư, lúc ấy Dolorès hẳn đã ra đi, và ông thì… Khi anh ta nói tiếp (nàng còn nhớ) giọng khẩn nài một cam kết: “Trở lại nhé. Tôi không muốn nghĩ là tôi sẽ không gặp lại bà”. Rồi anh ta ôm hôn. Vẫn trên má. Nàng rung động nhưng còn tự khôi hài : anh ta hôn tôi như thằng bé mười ba tuổi, hẳn là không thành thạo gì trên giường lắm.

Lúc ra ga lại gặp nhiều trở ngại. Ở khách sạn nàng hỏi các người tiếp tân về gói sách do Nelson nhờ người mang tới tặng. Chẳng ai biết. Nàng kỳ kèo. Vẫn chẳng kết quả mà dưới nhà ông lãnh sự và nhà doanh nghiệp đang sốt ruột chờ. Ra đến ga đã muộn nhưng nàng không chịu nhượng bộ trước sự thúc giục, phải tìm cho ra trạm điện thoại gọi anh ta. Vẫn lời khẩn nài trở lại, rồi sau chua chát: “mà nghĩ cho cùng, biết đâu như vậy lại hơn”. Nàng bám lời anh ta : “vâng, biết đâu như vậy lại hơn”, rồi giả lã : “Tôi sẽ đọc cuốn sách anh tặng lúc ở quán rượu. Đọc ngay đây, trên tàu”. Họ tiếp tục người này một câu người kia một câu khiến ông lãnh sự hết giữ được lịch sự. Một tay ông dằn lấy ống liên hợp, cắt điện đàm, tay kia xô lưng nàng đẩy lên tàu. Giờ thì chỉ còn lại ta với ta. Tìm vào toa giường ngủ, nằm xuống và lấy sách ra đọc. Cuốn sách là tuyển tập truyện ngắn. Nhận ra được con người qua cuốn sách. Nhưng chưa đủ, phải tìm hiểu thêm nếu muốn. Vậy phải duy trì mối liên lạc. Nhưng hành trình thì xa và bề bộn. Tạm thời chỉ có thể viết : Dear Nelson Algren, I’ll try to write in English… trang rưỡi giấy chấm dứt bằng: tạm biệt hay vĩnh biệt. Ởm ờ ! Bởi trong tình trạng đó cả hai người đều hiểu là họ sẽ không bỏ qua được. Trong khi nàng cố đào bới những trang sách nhỏ để cố nhận diện anh ta thì phần anh ta đơn giản hơn nhiều. Trên các trang của tờ tuần báo New Yorker có bài tường thuật về hoạt động của cô de Beauvoir mà ngày đầu gặp gỡ anh ta đã đoán mò là cô giáo tiểu học tỉnh lẻ và đã toan cho leo thang. Bài tường thuật có đoạn lý lịch ngắn : Tuổi, 39 (khó tin thật, cứ tưởng chừng ba mươi là cùng) ; Học vấn : triết học (kỳ quặc, chắc là cái mốt xứ họ!) dạy triết hàng chục năm, nhiều trường ở Rouen, Marseille, Paris… (nhớ câu chuyện mở đấu khi hai đứa gặp nhau, gợi đến Marseille vì đó là nơi ta đóng quân trong thời chiến tranh) ; từ chức để theo đuổi văn chương (chơi ngon thiệt, rồi còn định viết về mặt trái xã hội, nhất đấy!) ; tác phẩm đã xuất bản L’Invité, best seller, sẽ được dịch sang anh ngữ (phải tìm đọc coi sao) ; hợp tác với Sartre thành lập tạp chí Les Temps modernes (ảo tưởng! Loại báo ấy trước sau rồi cũng sập tiệm thôi. Ta cũng từng làm…) ; điểm nổi bật : được Sartre đề tặng ngay trang đầu cuốn khảo luận triết dày cộm, L’Etre et le néant (mệt, ai mà thèm đọc. Một cô gái kiều diễm thế lại đi say mê triết, thật ngoài sức tưởng tượng của ta) ; sắp xuất bản một tác phẩm viết về thân phận phụ nữ (đã có nghe nàng nói đến chuyện đó). Một tiết lộ quan trọng của mấy tên ký giả cho thấy sau chuyến du hành nàng sẽ quay lại New York trong hai tuần để cuốc bộ, tức là ngao du : rảnh. Tuần đầu tháng 4 nàng về lại New York như dự định. Và chờ tin ông. Một điện tín từ Pháp sang yêu cầu thay ngày quay về, 10 thay vì 7 tháng 5 : ông còn muốn dung dăng dung dẻ với Dolorès. Nàng cáu nhưng ngoan ngoản làm theo. Vài hôm sau ông lại đổi ý, đẩy lùi thêm đến 14, trong khi Nelson thì mong ngóng. Chần chừ vì việc này việc nọ, rồi một đêm nàng sực nhớ, tìm điện thoại gọi. Nửa đêm New York nhưng Chicago thì chỉ mới 9 giờ, anh ta có nhà. “Tôi rảnh có thể đến thăm anh hai ngày cuối tuần hoặc hơn một chút, tất nhiên là nếu anh không bận…”

Giữa hai văn nhân, kỷ niệm được ghi lại trên giấy. Chàng : “Hương thơm của thân thể trần truồng –mùi của thiếu nữ vừa bước khỏi buồng tắm và mùi của người đàn bà già dặn và đam mê… Bé ơi (petite) sao em có thể ham hố ngay tức khắc, một cách tham lam và say đắm, ngay đêm đầu tiên, như chưa bao giờ một người đàn bà lại say đắm một ngưòi đàn ông như thế?” Và nàng : “Tôi hôn lên mắt chàng, môi chàng, miệng tôi lần xuống theo ngực chàng, lướt qua chiếc rốn ấu thơ, làn lông tơ dã thú, bộ phận đàn ông của chàng nơi đó nhịp đập nhẹ ; mùi chàng, hơi ấm của chàng khiến tôi say và tôi cảm nhận đời sống cũ đang lùi xa với những âu lo, những mệt mỏi, những kỷ niệm cũ của nó… Tôi không ngờ là cuộc hoan lạc đã làm tôi bối rối đến thế. Quá khứ, tương lai, tất cả chúng đều lìa xa và dẫy chết dưới chân giường”. Chàng tặng cho nàng chiếc nhẫn, nó rộng khác thường nên nàng chỉ mang vừa vào ngón giữa, tay trái. Phút giây có cái trịnh trong của một lễ hứa hôn, nàng cam đoan sẽ giữ nó trên tay cho đến mãn đời –điều mà nàng đã làm đúng. Ba ngày qua nhanh, ngày mai sẽ là chuyến bay Chicago-New York và New York-Paris sáng 17. Ít ra Nelson có thể ở bên cạnh nàng cho đến lúc nàng lên phi cơ về Pháp với điều kiện chàng tháp tùng nàng vể New York. Nelson bị chứng say sóng nhưng vui lòng chấp thuận. Trăng mật được kéo dài thêm. Rồi nàng có lần sực tỉnh, hoảng hốt: chỉ còn hai hôm nữa. Chàng kể cho nàng về quãng đời đã qua; còn nàng, nàng muốn che dấu một điều gì đó. Chàng trực nhớ những bài báo trên New Yorker. Và ông ta. Hỏi, nàng chỉ bảo họ từng là tình nhân của nhau nhưng giờ hết rồi, chỉ còn tình bạn và cái “đồng thanh tương ứng” về những suy tư triết học. Chàng tự kết luận rằng Simone bây giờ là của chàng. Hoàn toàn. Đưa nàng ra xe, chàng tặng nàng chiếc bút máy và cuốn sách sau cùng chàng viết vừa được xuất bản, dặn đừng đọc cho đến lúc nào yên vị trên phi cơ. Nàng ngoan ngoản vâng lời, nhưng khi xe chạy được một đoạn đường ngắn thì nàng oà ra. Người tài xế tưởng đấy là người vợ trẻ lần đấu xa chồng, nàng cải chính “không, anh ấy chẳng phải là chồng tôi đâu” nhưng trong thâm tâm nàng ao ước được vậy. “Vậy chỉ là bạn thôi à?” nhưng ông tài chợt hiểu là dù bạn hay chồng thì thiếu phụ trên xe ông cũng đang đắm đuối. Ông nói thêm một lời an ủi: “Trông dáng ông ấy buồn quá!”

Làm sao để biết tình yêu nào là đích thực vì tình nào rồi thì về lâu về dài cũng dẫn đến bất đồng, ngờ vực, ghen tuông. Nelson hiểu ra rằng Sartre vẫn còn giữ một vai trò nào đó trong đời sống Simone de Beauvoir dù không là tình yêu, không là phu phụ nhưng hình bóng ông ta vẫn kềnh càng. Về phía nàng, tình địch Dolorès vẫn chưa chịu khăn gói ra đi, nên ngứa gan nàng đành rời Paris ra thuê một căn nhà cách thủ đô bốn mươi cây số khiến Sartre nếu cần bàn bạc điều gì phải chịu khó mất tiếng rưỡi đồng hồ đi tầu. Họ cứ đôi co như vậy, chèo kéo vì ảnh hưởng của Dolorès bên này (không lâu sau đó thì Sartre sẽ thay Dolorès bằng một người tình khác) và Nelson bên kia. Rồi Sartre “cho phép” nàng bay sang Chicago để ông rảnh tay giải quyết những nhùng nhằng, nhưng lần này nàng không may mắn trong hành trình. Phi cơ trục trặc, số ngày nghĩ bị rút ngắn và những bất như ý vụn vặt đã xảy ra. Lần đầu họ to tiếng với nhau. Rồi hòa hoãn. Nelson còn cố tìm cách giữ nàng lại vĩnh viễn nhưng đã không làm được. Simone ra đi và Nelson ôm con mèo Doubleday của anh vào lòng, vuốt ve nó và thì thầm : ta chờ đến mùa xuân sang năm vậy. Trong khi chờ đợi họ viết thư cho nhau. Số lượng thư có đến hơn ba trăm chiếc được trao đổi giữa hai người khi người ta làm cuộc kết toán. Năm sau, Nelson chuẩn bị chương trình du lịch bằng một cuốn sổ tay trong đó hai người sẽ ghi vào những ý nghĩ, những biến động, trên mỗi chặng đường đi qua. Họ dự tính sang đến Mễ tây cơ. Phần nàng với cách làm việc có phương pháp, nàng nghiên cứu bản đồ, tìm đọc các cuốn sách và tài liệu du lịch để biết nơi đâu có những địa điểm lịch sử đáng thăm viếng.

Nhưng con sâu đã nằm trong trái ngọt tình yêu. Tuy chưa sống với nhau lâu nhưng hình bóng của kẻ ngoại cuộc vẫn chờn vờn đâu đó mặc dù nàng tìm cách trấn an, nhất là hình bóng Sartre mà nàng vẫn xác định không phải là một tùy thuộc sâu đậm. Vào lúc này, uy tín văn chương của Nelson đã được dư luận biết đến. Anh ta xây một ngôi trại ở cuối vị trí Chicago cạnh hồ trong khi vẫn giữ lại căn gác hai phòng ở đường Wabansia. Chuyến du lịch trung Mỹ xen kẻ giữa những phút yêu đương và giận hờn, càng lúc càng gay gắt. Cuối cùng chính Nelson quyết định quay về, lấy cớ là anh ta cần gặp giải quyết công việc cùng nhà xuất bản. Simone bay về Pháp, lại được biết là Sartre sắp đi cùng Dolorès. Ông tìm cách thương lượng : nàng sẽ trở lại Mỹ, chuyến đi do ông đài thọ ! Ngỏ ý với Nelson qua bức điện tín, anh ta từ chối : công việc nhiều, không có thì giờ. Dường như Nelson đã thấy rõ hoàn cảnh kẹt cứng của họ. Trong một lá thư, anh ta nói rõ : “vì em không sống lưu đày được ỏ Chicago và tôi cứ phải quay về chốn này với chiếc máy chữ và nỗi cô đơn, cảm thấy luôn cần thiết một ai bên cạnh mà em thì quá xa xôi…” Dù vậy năm sau Nelson bay sang. Lần này gặp cả Sartre và toàn thể các bạn bè của họ. Vẫn có những lủng củng chấm dứt kỳ nghỉ. Lần cuối hai người gặp nhau là lúc Simone sang ở ngồi nhà gỗ cạnh hồ. Không đúng như mong đợi của nàng, Nelson lạnh nhạt, phá hết mọi cố gắng của nàng. Đúng như họ thấy là tình yêu đã mất nhưng chấm dứt tình yêu cũng là điều bất khả. Những người phanh phui cuộc tình họ đã tìm thấy nhiều chứng cớ rằng họ chẳng bao giờ thôi yêu nhau và thôi nghĩ đến nhau. Khi giã từ đời sống, Simone de Beauvoir trăn trối phải giữ lại trên tay bà chiếc nhẫn bằng bạc mà Nelson đã tặng bà ngay lần đầu.

Vào cuối thập niên 50, thị trưởng Chicago quyết định xây xa lộ nơi Nelson có căn nhà gỗ bên hồ. Trở về Wabansia lúc này Nelson đã không còn sáng tác được nữa, ông chỉ viết phê bình các văn phẩm và đăng vài ba truyện ngắn trên báo Playboy. Thập niên 60 ông lại sang Pháp, Simone tháp tùng ông đi du lịch Thổ nhĩ kỳ và Hy lạp, sau đó bà chia tay ông để lại chìa khóa căn nhà Paris cho ông để theo Sartre sang Do Thái. Chờ đợi chán, ông khóa cửa căn nhà lên đường về lại Mỹ… Một ngày năm 1981, Nelson đưọc tin là ông được bấu vào American Academy and Institute of Arts and Letters nhưng ông đã không có cơ hội đến dự lễ đăng quang : ông chết trước đó trên bãi bể Long Island vì một cơn đau tim. Trong căn nhà này các nhà báo tìm thấy gần như đầy đủ mọi dấu vết liên quan đến Simone de Beauvoir, từ những tấm vé xe lửa, phi cơ của những chuyến đi cùng nhau, những bài báo đăng tin vế các hoạt động của bà ở Mỹ, những bức ảnh và thư từ họ trao đổi với nhau. Cuộc tình dứt nhưng hai người tình vẫn mãi mãi của nhau, có lẽ đấy là mối tình thực sự mà Simone de Beauvoir nhận được với tư cách người nữ mà bà đã tự do chọn lựa.

Thiển nghĩ, nếu đúng vậy thì quả là chính triết gia đã tự làm hỏng cuộc đời mình. Lý trí quá chúng ta không sống được đời sống bình thường. Đời sống lứa đôi với Sartre tuy rằng kéo dài gần hết một đời người lại chẳng có thể xem như là một cuộc tình. Bà nhận chịu dấu ấn rất sâu đậm của Sartre nhưng với tư cách gì ? –Với nhiều tư cách, trừ tư cách tình nhân. Họ không hề là tình nhân của nhau. Chính bà đã nói lên điều đó khi lần đầu gặp Nelson Algren vì bà đã thú nhận : “dans les yeux de cet homme, je suis une femme. Depuis quand ça ne m’est pas arrivé?” (trong đôi mắt của người đàn ông này, tôi là một người nữ. Tứ bao lâu rồi nhỉ sự việc này không đến với tôi ?) Lần khác, chính Nelson cũng tự thầm thì với chính mình: một người đàn bà với bầu vú tuyệt diệu như vậy mà chỉ ham có triết học thôi sao ?

Còn lại là những “contingents” theo xác nhận của cả đôi bên. Bà đã thuổng cả những kẻ phụ tá (nam) của Sartre, những cô tình nhân (nữ) của Sartre nhưng xác thịt qua rồi là hết, ngay cả anh chàng phụ tá đẹp trai của Sartre, Jacques-Laurent Bost và sau này ngay thời kỳ sống chung với Claude Lanzmann người ta cũng không tìm thấy dấu vết.

Như trên có lúc tôi đã nói rằng Simone không có một đời sống quân bình dù bà là một triết nhân. Lẽ ra, quen với phân tích, bà phải nhận ra cuộc sống què quặt của mình. Lời khuyên của Nelson rất chính xác : em phải cho phép sự việc tới, đừng ngăn chặn ; nếu nó không tới được là tại em không cho phép nó. Đấy là ý nghĩ của người nghệ sĩ. Anh ta tự do, không bị thúc ép bởi bất cứ điều gì ; nhưng Simone lại khác. Chỉ một lần trong đời bà chịu bó tay khi tình yêu trái gái bộc phát. Nó đến khi bà chưa kịp tránh né. Sau đó “castor” lộ diện. Castor tượng trưng cho lý trí, cho công việc, cho thiệt hơn. Tình yêu không cho phép ta tính thiệt hơn, nó xô ta vào cơn cuồng phong, tước hết mọi phương thức tự vệ. Simone vừa muốn chống chọi với cuồng phong, vừa muốn tự vệ, đó là điều bất khả. Bà không muốn sống với Sartre nhưng với Sartre bà “có” bà, với tư cách triết gia. Lệ thuộc với ý nghĩa ấy. Họ nương nhau để cùng xây dựng sự nghiệp tinh thần.

Còn với tư cách tình nhân thì Simone de Beauvoir chưa đóng trọn vai trò. Nhưng, tiếc thay, bà đã không biết chọn lựa.

Đặng Đình Túy lược thuật theo “Beauvoir In Love” của Irène Frain, nxb Michel Lafont.
Nguồn: Tác giả gửi

Đã đóng bình luận.