“Thung Lũng Tử Thần:” Hít thở bóng tối hy vọng với Nhà báo Vũ Ánh

Posted: 24/07/2014 in Diễn Văn, Trangđài Glassey-Trầnguyễn

Trangđài Glassey-Trầnguyễn

trangdai_glassey_trannguyen
Tác giả đang thuyết trình tại buổi ra mắt sách Thung Lũng Tử Thần

Đây là bài phát biểu của tác giả trong buổi ra mắt sách tại phòng hội Nhật báo Người Việt, Quận Cam, California, Hoa Kỳ ngày 19 tháng 7, 2014. Tác giả được mời để đại diện cho thế hệ trẻ, cùng phát biểu với Nhà văn Phạm Xuân Đài.

Xin trân trọng kính chào Quý Vị.

Có một người đang mặc chung áo với tôi, cũng gửi lời, trân trọng kính chào Quý Vị.

Kính thưa Quý Vị,

Tôi rất hân hạnh được góp mặt trong chương trình hôm nay vì nhiều lý do.

Thứ nhất, chúng ta đến đây vì sự quý mến đối với một nhà báo khả kính, yêu nghề đã khuất: Nhà báo Vũ Ánh. Tuy tôi chỉ gặp ông đôi ba lần, nhưng có lẽ như Quý Vị, tôi trân trọng sự chung thuỷ và tận tuỵ của ông đối với vận mệnh dân tộc, với chữ nghĩa, với kinh nghiệm của người Việt hải ngoại, với sinh hoạt báo chí, nhất là của cộng đồng chúng ta tại Quận Cam.

Thứ hai, và đây là lý do có tầm vóc lớn lao cho dân tộc và đất nước Việt Nam, là chúng ta đến đây để cùng hướng về một đề tài lịch sử quan trọng vẫn còn đang bị bóp méo bởi chính quyền trong nước. Đề tài đó, là ngục tù cải tạo, những hoả lò của chế độ cộng sản được sao chép một cách trung thành từ bản gốc của Cộng Sản Nga Xô.

Nhưng quan trọng nhất, có lẽ là vì tất cả chúng ta hiện diện trong chương trình này đều thao thức về công bằng, dân chủ trên quê hương, và thiết tha với một lịch sử còn bị chính quyền chuyên chế vùi dập. Tôi tin là mỗi người trong chúng ta đều muốn các thế hệ tương lai biết và hiểu về sự thật những gì các thế hệ ông bà, cha mẹ đã trãi qua. Một trong những kinh nghiệm đó, chính là trại cải tạo của chế độ Cộng Sản, một chính sách thanh trừng người của chế độ Việt Nam Cộng Hoà, được thực hiện một cách rốt ráo và có hệ thống tại miền Nam sau tháng Tư 1975.

Chương trình hôm nay cũng gây cho tôi nhiều xúc động. Vị diễn giả mà chúng ta sắp được nghe, Nhà văn Phạm Phú Minh, là người thứ hai tôi phỏng vấn cho Dự án Việt Mỹ do tôi sáng lập từ thập niên 1990s tại Đại học Cal State Fullerton, dùng phương pháp lịch sử truyền khẩu và kinh nghiệm dấn thân để ghi lại lịch sử của người Mỹ gốc Việt. Tôi phỏng vấn Nhà văn Phạm Phú Minh bốn lần, đều theo phương pháp lịch sử truyền khẩu, về nhiều đề tài khác nhau. Nhưng trong lần đầu tiên, ông đã kể cho tôi nghe về kinh nghiệm tù cải tạo và những ảnh hưởng trực tiếp vẫn còn trên thân thể ông. Đã mười mấy năm trôi qua, nhưng tôi vẫn nhớ như in lời ông nói: “Chú vẫn còn bị đau dạ dày thường xuyên vì những ngày ở trong tù cải tạo.” Chính nhờ câu nói rất đơn giản đó, mà khi thực hiện các dự án liên lục địa về người Việt hải ngoại trong hai thập niên vừa qua, tôi đã đặc biệt lưu tâm đến những hậu quả thể lý lẫn tâm lý mà người tù cải tạo phải gánh chịu hàng chục năm sau khi sống sót hoả lò. Trong bài nghiên cứu chuyên đề được đăng trong Oral History Review mùa hè năm 2002, tôi đã nói về cuộc phỏng vấn với Nhà văn Phạm Phú Minh và về kinh nghiệm tù cải tạo của ông. Mười mấy năm sau, tôi lại gặp ông trong đề tài tù cải tạo, được nghe những nhận định của ông về một tác phẩm cùng đề tài của một người bạn tù của ông. Đây thật là một cái duyên hy hữu.

Đã gần bốn thập niên sau khi cuộc chiến tại Việt Nam kết thúc. Đã có rất nhiều tác giả viết về kinh nghiệm ngục tù cải tạo và tù khổ sai của chế độ Cộng sản Việt Nam. Nhà báo Vũ Ánh không phải là người đầu tiên – và chắc chắn cũng sẽ không phải là người sau cùng – viết về đề tài này. Bên cạnh tập thơ “Hoa Địa Ngục” của cố thi sĩ Nguyễn Chí Thiện in năm 1980, “Đại Học Máu” của Hà Thúc Sinh xuất bản năm 1985, “The Vietnamese Gulag” của Đoàn Văn Toại xuất bản năm 1986, “Đoá Hồng Gai” của Phượng Hoàng Nguyễn Thanh Nga năm 2007, đến “Cuối Tầng Địa Ngục” của Đỗ Văn Phúc năm 2008, vân vân, chúng ta còn có nhiều bài viết cùng đề tài, như “Nét Xuân Sơn” của Nhà văn Phạm Phú Minh, “Đời Sống Người Tù Cải Tạo” của Bác sĩ Nguyễn Ý Đức, cũng như các tác phẩm điện ảnh nổi tiếng như phim ngắn “Chạy Trong Cỏ Cao” của Đạo diễn Vũ Duy Hảo năm 2004, phim dài “Vượt Sóng” của Đạo diễn Hàm Trần năm 2007. Vậy, “Thung Lũng Tử Thần” được khởi đăng báo từ năm 2013 và in thành sách năm 2014 sẽ đóng vai trò gì trong kinh nghiệm và ký ức lịch sử của người Việt tại hải ngoại và ở quê nhà?

Trước hết, tôi xin nhấn mạnh rằng: tôi cũng là bạn tù của Nhà báo Vũ Ánh. Có lẽ Quý Vị sẽ thắc mắc: Trangđài có phép phân thân hay sao mà ‘vô’ được trại cải tạo? Lúc đó Trangđài còn chưa ra đời mà! Xin thưa, tôi có hân hạnh cùng ‘ở tù’ với Nhà báo Vũ Ánh, ở nơi gọi là “Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam” sau 1975. Nhưng ông oai hơn tôi, ông ở tù thượng hạng, tù có danh xưng, có cán bộ quản giáo. Tôi ở tù lớn, không có danh xưng chính thức, nhưng vẫn trong vòng kềm toả của chính quyền quân quản và sau đó là của chính quyền độc tài toàn trị. Ông ở tù nhỏ mười ba năm (1975-1988), tù lớn bốn năm (1988-1992), tổng cộng là 17 năm. Tôi ở tù lớn đến 19 năm. Vậy là tôi ở tù lâu hơn ông!

Nói như vậy, tôi không có ý khôi hài một cách vô thức, mà để khẳng định rằng, tôi đọc tác phẩm “Thung Lũng Tử Thần” bằng chính kinh nghiệm sống của mình trong gần hai thập niên hậu chiến tại Việt Nam, cùng thời gian mà Nhà báo Vũ Ánh đã đi qua “Thung Lũng Tử Thần,” đã sống sót, và đã tìm được tự do thực sự ở ngoài quê hương. Tôi chào đời khi ông đã vào tù, và đến Mỹ sau ông hai năm. Hơn nữa, tôi đọc “Thung Lũng Tử Thần” bằng kinh nghiệm của rất nhiều người Việt mà tôi đã phỏng vấn trong các dự án nghiên cứu tại hải ngoại dọc dài suốt hai mươi năm qua về lịch sử cá nhân và ký ức cộng thông của họ – như trường hợp của Nhà văn Phạm Phú Minh tôi đã kể ở trên.

Trở lại với câu hỏi mà tôi vừa đặt ra: tác phẩm này sẽ đóng vai trò gì sau bốn mươi năm miền Nam thất thủ, và bốn thập niên của một thế giới Việt bừng nở tại hải ngoại? Năm 2012, tôi thực hiện Dự án “Tháng Tư Đen, Tháng Tư Sáng” dưới sự bảo trợ của California Endowment, qua một fellowship do Đại học Báo Chí tại USC tổ chức. Trong dự án đó, tôi ghi lại và phân tích kinh nghiệm của một nữ tù cải tạo, Cựu Thiếu tá Thiên Nga Nguyễn Thanh Thuỷ, và đặt câu hỏi: Đến bao giờ chúng ta mới có tác phẩm Quần Đảo Ngục Tù phản ánh kinh nghiệm hoả lò của người Việt? Đến bao giờ chúng ta mới có một Solzhenitsyn Việt Nam? Tôi đoán là ông Solzhenitsyn đã đầu thai làm người Việt để viết về Quần Đảo Ngục Tù trong lịch sử Việt Nam, mà rất có thể ông đang ở Quận Cam, nơi hội đủ điều kiện thuận lợi cho việc thu thập tài liệu và chứng từ để thực hiện công trình cần thiết này. Mà không chừng, với trào lưu của những cây bút nữ trong thế kỷ 21, kiếp này, ông sẽ làm phụ nữ. Như vậy lại càng hay, vì những tác phẩm chúng ta đã có về kinh nghiệm tù cải tạo, đa số vẫn phản ánh kinh nghiệm của phái nam. “Thung Lũng Tử Thần” sẽ còn ghi lại nhiều điều oan khuất nữa khi viết từ kinh nghiệm của một nữ tù.

Kính thưa quý vị,

Ở đầu tác phẩm “Đại Học Máu,” Tác giả Hà Thúc Sinh đã bộc bạch, “Quyển sách này không thể là một tác phẩm tiểu thuyết văn chương, cũng không thể nằm trong hình thức một hồi ký chính trị hoặc một bút ký lao tù… Quyển sách này là bản phúc trình của một người lính VNCH bị bỏ rơi, bị ở tù cộng sản, rồi thoát được ra ngoài, ngồi viết lại để kính gửi tới những ai còn thương yêu và còn quan tâm đến nước Việt Nam và con người Việt Nam còn ở lại…”

Cũng giống như Tác giả Hà Thúc Sinh và nhiều vị khác viết về tù cải tạo, Nhà báo Vũ Ánh không coi hồi ức lao tù của mình là một tác phẩm sử hay văn, và chính vì vậy, tác phẩm lại có giá trị trung thực và tính chính xác cao, vì người viết không cần gọt dũa, tra cứu, hay gò mình theo một khuôn khổ học thuật hay tiêu chuẩn nào cả. Ông chỉ đơn giản ghi lại những đoạn phim của ký ức còn đọng lại sau hai mươi lăm năm ra tù. Như Nhà báo Vũ Ánh đã viết ở đầu sách, “Tôi viết là viết cho thế hệ con cháu tôi và chia sẻ với thế hệ con cháu của những bạn đồng tù khác, chứ không phải là bản lên tiếng, lên án hay cáo trạng gì cả, và tôi không phản đối những cái nhìn khác.” Như vậy, ông đã chọn một lối viết tự do trong sự tôn trọng tự do của người khác, và không theo một khuôn khổ văn chương hay định chế học thuật nào, dù tác phẩm vẫn có những giá trị văn chương và học thuật cao. Ông không coi tác phẩm này là một sử liệu. Nhưng từ góc nhìn của một người chuyên nghiên cứu bằng phương pháp lịch sử truyền khẩu, tôi cho rằng, “Thung Lũng Tử Thần” là một sử liệu đầy nhân bản, vì nó đi sát với kinh nghiệm con người và phản ánh một cái nhìn cá nhân về một giai đoạn lịch sử quan trọng của dân tộc.

Tôi đã phỏng vấn hàng trăm người Việt trên thế giới về lịch sử cá nhân của họ, và nhiều vị đã kể cho tôi nghe kinh nghiệm tù cải tạo của mình. Đây là những câu chuyện khó kể, và cũng khó để người nghe tiếp nhận vì tất cả những roi đòn tâm lý và thể lý mà người tù phải gánh chịu từ năm này qua năm khác, trong vô vọng và đôi khi tuyệt vọng. Nên để có thể ghi lại kinh nghiệm đó với một giọng văn mà Nhà báo Phạm Phú Thiện Giao đã nhận xét là “bình thản, nhiều khi đến lãnh đạm,” thì Nhà báo Vũ Ánh đã viết như một con người đã hoá kiếp, đi từ kiếp tù đày của trại cải tạo, đến đời tự do của một nhà báo tại miền đất dân chủ Hoa Kỳ. Tôi cho rằng, văn chương chữ nghĩa là những kết tinh của kinh nghiệm con người. Nó lắng đọng để cho ta thấy những gì quan trọng nhất, sau khi bụi mờ hay nước đục đã lắng đi. Cái tâm bình an của Vũ Ánh gần hai mươi lăm năm sau khi ra tù cải tạo đã để cho tất cả bụi mờ lắng đọng, để ông giúp chúng ta nhìn thấy “Thung Lũng Tử Thần” một cách rõ ràng, với cái Tâm Một.

Tôi gọi cách viết này là ‘hít thở bóng tối hy vọng.’ Hy vọng không chỉ sau khi đã tìm thấy tự do, mà hy vọng ngay giữa lòng chảo tử thần. Hy vọng chính là cứu cánh duy nhất của người tù cải tạo, hay của bất cứ ai sống dưới chế độ Cộng Sản, ở nơi mà tác giả đã chân thành thổ lộ, “Sự chọn lựa giữa cái đói cào cấu và sự giữ thẳng lưng cũng như nhân cách là một chọn lựa khó khăn!” (tr. 97). Đối với một dân tộc chịu nhiều can qua như dân tộc Việt Nam, thì hy vọng trở thành căn tính để tồn tại. Nhạc sĩ Du Ca Nguyễn Đức Quang sáng tác bài hát “Hy Vọng Đã Vươn Lên” năm 1967, giữa lúc quê hương đang ngập tràn trong khói lửa chinh chiến, để thắp lên hy vọng cho thế hệ của ông. Nhà văn Phạm Phú Minh cũng viết trong “Nét Xuân Sơn” về những ngày đông “tê buốt chẳng chút tình,” khi tự nói với mình, “Miễn là đừng chết, miễn là qua được mùa đông.” Còn Nhà báo Vũ Ánh đã lập đi lập lại trong “Thung Lũng Tử Thần,” hết lần này đến lần khác, dù khi ở trong “chuồng cọp” (tr. 11) trong “khu nhà đỏ” (tr. 28), hay nằm trong “những hồ sơ chết” (tr.19) dành cho “những người tù cải tạo không thể cải tạo được” (tr. 20), trong cuộc “tắm máu” ở miền Nam Việt Nam như Sir Robert Thompson đã khuyến cáo (tr. 22). Ông viết, “Trong những cuộc tranh luận trong trại giam, nhiều người vẫn tin tưởng rằng những nhà lãnh đạo cũ của VNCH đã quay trở lại Miền Nam ẩn náu trong những khu rừng rậm chiêu mộ nghĩa quân để dựng lại cơ đồ… Trong bối cảnh tuyệt vọng sau ngày thất trận và bị đẩy vào môi trường tù đày, ở vào độ tuổi hừng hực lý tưởng của thanh niên, chúng tôi chỉ còn bám vào những hy vọng đó để mà sống” (tr. 54), “để đốt lên đốm lửa hy vọng cho tương lai phục quốc” (tr. 55).

Nhưng trong trại lao cải, niềm hy vọng luôn bị thử thách. Người tù Vũ Ánh đã phải tự cắt đứt quan hệ với gia đình, để tránh gánh nặng cho người thân vốn cũng vất vả tìm miếng cơm manh áo hằng ngày, vừa tránh cho mình “những giây phút chùng lòng” để có đủ sức đối phó với những áp lực nhà tù (tr. 39). Có những người tù “vẫn quan niệm rằng sự chung thuỷ của vợ là bức tường thành cuối cùng của niềm tin,” (tr. 56) nhưng đôi khi, bức tường thành đó cũng biến mất. Ngay cả khi người tù chuyển trại nhận được những cái bánh, củ khoai do người dân bán dạo lén vệ binh thảy vô (tr. 50), thì những quà tặng quý báu đó vẫn khó nuốt vô cùng cho những cái xác da bọc xương xanh lè xanh lét, vì người tù biết, những gì họ nhận được chính là bữa cơm mà gia đình những người bán dạo đã hy sinh cho họ.

Về mặt ngôn ngữ, cách nói có mật mã để tránh bị cán bộ làm khó dễ của người tù là cả một kho tàng ngữ vựng phong phú còn ẩn mình của tiếng Việt. Tôi nghĩ, ngôn ngữ tù cải tạo cần được đưa vào các lớp văn học sử vì đây là thứ ngôn ngữ chất chứa sự khôn ngoan, ví von, tài tình, đầy trào phúng, và tiềm tàng sức phản kháng. Nhà báo Vũ Ánh đã ghi chú cặn kẽ những danh từ mà chỉ những người tù với nhau mới hiểu, một thứ tri thức của người trong cuộc.

Đọc “Thung Lũng Tử Thần,” chúng ta không chỉ được chứng kiến những thử thách và mưu mô huỷ diệt con người, mà còn tìm được một số âm bản của đời sống dân sự và quân sự của Việt Nam Cộng Hoà. Tương quan của những người bạn tù là tương quan có từ trước khi vào tù – cho dù trực tiếp hay gián tiếp. Một tương quan đặt nền tảng trên lý tưởng và phục vụ, trên tình người, trên vận mạng quê hương và dân tộc – dù như tác giả đã cẩn trọng ghi lại, có một số người đã không tôn trọng tương quan đó vì những trò lũng đoạn thâm độc trong tù. Tương quan đó giúp ghi lại gia phả chung của dân tộc. Dưới chế độ Cộng Sản, con người dễ dàng bị mất tích dưới nhiều hình thức. “Thung Lũng Tử Thần” cung cấp cho chúng ta những manh mối sau cùng của một số người, mà nếu bạn tù của họ – như Tác giả Vũ Ánh – không ghi lại, thì thân nhân và bằng hữu của họ sẽ vĩnh viễn không biết họ đã biến mất như thế nào. Những manh mối này là những tấm bia mộ vô thể, những nén hương vĩnh cửu, cho những người đã mất quê hương, mất gia đình, và mất luôn cả một nấm mồ chôn thân.

Trong bối cảnh di dân của người Việt từ tháng Tư 1975 đến nay, tôi cho rằng có hai nhóm người đã tăng thêm ý nghĩa cho chữ đồng bào: đó là những người ‘đồng thuyền’ và những người ‘đồng tù.’ Qua những nghiên cứu về người Việt hải ngoại, vì không phải là một thuyền nhân, nên tôi dễ dàng nhận thấy rằng, giữa những người đi cùng thuyền, có một tình cảm rất đặc biệt, gần như ruột thịt. Dù không gặp nhau hàng chục năm, họ vẫn quý mến nhau, tìm bắt liên lạc với nhau, quan tâm đến nhau như ngày mới rời trại. Có lẽ vì họ đã đi qua cửa tử với nhau, đã dắt díu nhau trên chiếc cầu mỏng manh giữa hai bờ sống chết. Giữa những người bạn tù cải tạo cũng vậy. Họ dành cho nhau một tình cảm khắn khít đặc biệt, để cùng giữ cho nhau một phần của quá khứ, như một di sản quý báu. Những thuyền nhân Việt Nam thì may mắn hơn, họ có thể trở về những trại tỵ nạn ngày nào, cầu nguyện và trùng tu lại mộ chí cho những người đã bỏ mình nơi đất khách. Những người tù cải tạo không thể trở về nơi cấm cố ngày xưa, nhưng họ trở về bằng hồi ức. “Thung Lũng Tử Thần” – hay những tác phẩm về kinh nghiệm tù cải tạo – chính là những cuộc hành hương, tìm về một chốn xưa, với những kinh nghiệm tuy hãi hùng, cơ cực, đày đoạ nhân phẩm, nhưng là nơi mà những người bạn tù đã chia sớt với nhau hơi thở, hy vọng, và nghị lực. Tôi tin rằng những người bạn tù của tác giả có mặt hôm nay sẽ rất cảm động thấy lại hình ảnh đời mình trong tập sách, và nhất là như tâm nguyện của tác giả, muốn chia sẻ cuốn sách này với thế hệ con cháu của các vị đó.

Như những vấn đề khác trong một chế độ thông tin một chiều và cục bộ, những trại cải tạo bị chính quyền Việt Nam hiện nay dùng để làm địa điểm du lịch, nhằm xưng tụng chính mình, và tiếp tục “che đậy hành động bóp chẹt bao tử để tẩy não tù nhân của nhà cầm quyền Hà Nội” (tr. 15). Chính quyền Việt Nam đánh mất trí nhớ về cái chế độ ‘lao cải’ – mà Nhà báo Vũ Ánh đánh giá là “một chu kỳ khép kín” (tr. 15). Họ hoàn toàn không đả động gì đến lịch sử kinh hoàng, cái chính sách dùng xác người và mạng người để thực hiện cái mà họ gọi là “biến một vùng đất hoang vu sỏi đá thành một vùng đất trù phú, rợp bóng cây xanh.”

Dân tộc Việt Nam đã phải trả một cái giá quá đắt cho chính sách tù cải tạo, và vẫn còn phải trả cho đến ngày hôm nay. Chúng ta rất cần, nhưng vẫn chưa có, những dự án nghiên cứu chuyên môn về ảnh hưởng của trại cải tạo đối với tù nhân chính trị, với gia đình của họ, và với dân tộc Việt Nam. Cái ảnh hưởng và những hậu quả của trại cải tạo sẽ kéo dài qua nhiều thế hệ, và sẽ mãi mãi là một phần lịch sử tăm tối nhất của dân tộc Việt Nam và của nhân loại. Những hồi ức tù cải tạo có thể đã bắt đầu phai nhạt cho một số vị cao tuổi, nhưng những đau đớn về tinh thần lẫn thể xác vẫn còn hằn sâu. Có lẽ những thế hệ một và một rưỡi còn nhớ và biết cái bi kịch hỏa lò tại Việt Nam, nhưng thế giới và những thế hệ Việt ngoại biên vẫn cần một văn khố chính thức về bi kịch này. Điều quan trọng là chúng ta không để cho những sự thật về bi kịch này phai nhạt. Chúng ta cần ghi lại những đau thương – không vì hận thù – nhưng vì để đấu tranh cho Công lý, Hòa bình, Tự do, Bác ái. Những quần đảo ngục tù vẫn còn hoành hành trên cơ thể của nhiều con dân Việt và ngay trên đất Việt qua những hậu quả khốc liệt của nó. Những chiếc áo tù ngày nào, tuy nay không còn ấm lạnh trên thân thể người tù cải tạo, nhưng kinh nghiệm của những năm tù khổ sai là một chiếc áo đầy gai, vẫn châm chích và làm đau đớn tâm hồn và thể xác họ. Hàng chục năm sau khi ra khỏi trại tù, họ vẫn còn oằn oại trong những bệnh tật do giai đoạn oan nghiệt này tạo ra, và những kinh hoàng của giai đoạn biệt giam vẫn bám riết tâm trí họ. Nếu những đau thương này đã đến từ bất công, thì chúng cũng là một mối đe dọa cho con người ở tất cả mọi nơi – như nhà tranh đấu dân quyền Martin Luther King đã nói, “Bất công ở bất cứ nơi nào là bất công ở khắp mọi nơi.” Xã hội con người không tách rời nhau bởi biên giới hay ngôn ngữ, mà cộng thông trong lý tưởng công bằng, bác ái, và dân chủ. Do vậy, tôi tin chắc rằng, trong tương lai, sẽ có những con em người Việt quan tâm đến đề tài này và thực hiện những dự án tôi gợi ra ở trên. Những học giả nghiên cứu về trại cải tạo hay về cộng đồng Việt Nam hải ngoại nói chung sẽ cần và sẽ cảm kích có được những tài liệu quý giá như “Thung Lũng Tử Thần.”

Kinh nghiệm của người di dân ở bất cứ nơi nào trên thế giới cũng thường bị mai một và lấp đi bởi rào cản ngôn ngữ, vật lộn mưu sinh, và sự nín lặng của quá khứ tang thương. Người Việt ở hải ngoại đã may mắn có điều kiện thuận lợi để mở một bước ngoặc mới. Chúng ta có ngót bốn mươi năm duy trì văn hoá, lịch sử, và tiếng Việt qua các sinh hoạt giảng dạy Việt ngữ và truyền thông tại hải ngoại. Trong những năm gần đây, với phong trào giáo dục song ngữ Anh Việt nở rộ trong hệ thống giáo dục công lập ở Hoa Kỳ từ cấp mẫu giáo đến bậc đại học, chúng ta có thể chắc chắn rằng, các thế hệ tương lai sẽ có đủ khả năng ngôn ngữ để lãnh hội những tác phẩm như “Thung Lũng Tử Thần” bằng chính tiếng mẹ đẻ của mình, mà không cần đi vòng qua một bản dịch Anh ngữ (tuy chúng ta vẫn cần bản tiếng Anh để giúp cộng đồng thế giới hiểu về kinh nghiệm Việt Nam). Điều này có lẽ làm ấm lòng rất nhiều vị tuy đã ra đi nhưng đã dày công ghi lại lịch sử dân tộc bằng tiếng Việt cho đời sau. Xin cám ơn Nhà báo Vũ Ánh và tất cả những người cầm bút, muốn nói cho thế hệ cháu con những gì họ đã sống và đã hiểu.

“Thung Lũng Tử Thần” là nơi con người bị đoạ đày vào địa ngục trần gian, nhưng chính nơi đó, người tù cho thấy sức sống mãnh liệt nhất của nhân loại. Người tù cải tạo, phải chăng, đã tận dụng sức sống tiềm tàng của dân tộc Việt, mới có thể chịu đựng và kiên trì vượt qua những “Thung Lũng Tử Thần,” băng qua những tháng ngày kiệt óc cạn tim? Con người đã thắng cái ác, dù cái ác đó có sức tàn phá và huỷ diệt tột cùng, và cái ác đó luồn lách vào trong mọi đường gân thớ thịt và tất cả mọi mặt của cuộc sống. Sức sống ấy chính là chìa khoá cho dân tộc đi tới. Chúng ta cùng đi qua “Thung Lũng Tử Thần” với Tác giả Vũ Ánh, để chính trong cửa tử, cùng tìm thấy đường sống cho những thế hệ tương lai.

Kỷ niệm duy nhất tôi có với Nhà báo Vũ Ánh, là chuyện sách vở. Nhân một lần ghé thăm, tôi mang biếu ông một quyển sách liên quan đến lịch sử Việt Nam cận đại bằng Anh ngữ. Khi gặp lần sau, tôi hỏi ông nghĩ gì về quyển sách. Ông nói:

– Trong đó, có nhiều điều cần phải coi lại! Không hẳn như tác giả viết.

Tôi định sẽ ghé chơi và nghe ông nói về những điều ông nghĩ là không chính xác trong quyển sách đó. Nhưng tôi đã lỡ mất dịp. Ai sẽ nói cho thế hệ chúng tôi những điều cần phải coi lại, khi những nhà sử học thực thụ đã sống trong lịch sử và đứng giữa lịch sử như ông cứ lần lượt bay xa…? Tôi ngưỡng mộ bài viết mà ông kể lại “Mùa Xuân trong Biệt thự số 5,” khơi mạch cho tình người giữa những đốn mạt nhất của trại tù cải tạo. Với tâm tình nhân bản trong bài viết, Alpha Non-Nước-Hồng-Hà – tên theo đặc lệnh truyền tin của ông – đã cởi trói cho những uất nghẹn của dân tộc. Buông xã mà không buông lơi. Để những ngày ông bị biệt giam được chuyển mình, cất cánh. Để dân tộc hoá kiếp, đầu thai, làm kiếp mới, tốt đẹp hơn.

Xin trân trọng cám ơn sự theo dõi của Quý Vị.

Trangđài Glassey-Trầnguyễn

bia_thung_lung_tu_than-va
Để có sách, xin liên lạc: Ngô Yến Tuyết
yentuyet8@gmail.com 714 261 3531.

trangdai_glassey_tran_nguyen-pham_xuan_dai
Nhà văn Phạm Xuân Đài và Tác giả sau buổi ra mắt sách

Trangđài Glassey-Trầnguyễn (trangdai.net), một chuyên gia nghiên cứu về Cộng đồng người Việt hải ngoại, là học giả duy nhất trên thế giới đã thực hiện hàng trăm cuộc phỏng vấn lịch sử truyền khẩu với người Việt ở cả bốn châu lục: Á, Âu, Úc, và Mỹ. Một tác giả song ngữ đoạt nhiều giải thưởng, Trangđài tiên phong ghi lại lịch sử của người Việt tại Quận Cam qua Dự án Vietnamese American Project từ thập niên 1990 bằng chính student loans của mình, và đoạt giải quán quân tại cuộc tranh tài nghiên cứu của CSU năm 2004 với bài viết “Quận Cam, Sử Vàng.” Cô là người Việt duy nhất được Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ cấp học bổng Fulbright tòan phần, bậc tối ưu, để nghiên cứu về người Việt tại Thụy Điển. Cô tốt nghiệp 4 cử nhân cùng lúc, là thủ khoa 2 ngành và cũng tốt nghiệp cao học Sử Học với hai giải thủ khoa tại CSUF. Trangđài tốt nghiệp Cao học ngành Nhân chủng học tại Đại học Stanford, và hiện đang hoàn tất chương trình tiến sĩ.

Nguồn: Tác giả gửi bài và ảnh

Đã đóng bình luận.