Từ một lần lên thăm bạn | Nỗi đau gửi theo

Posted: 13/08/2014 in Phạm Quốc Bảo, Tùy Bút / Tản Mạn / Tạp Ghi

Phạm Quốc Bảo

stone_zen_garden

Trong tâm tình sâu kín, tôi đã có ý định lên thăm Ngô Vương Tọai cả gần một năm nay… nhưng rồi cứ lấn bấn, việc này việc nọ thay nhau đến mà không rứt ra được. Lại nữa, tình trạng thắt chặt an ninh phi trường lẫn giá sinh họat mỗi năm một tăng, ảnh hưởng rõ rệt vào điều kiện di chuyển nói chung bằng máy bay của chúng ta. Như cái cảnh tượng hàng dọc ngoằn ngòeo con rắn những hành khách chờ khám xét hành lý và cá nhân, đối với ai trong chúng ta thì đây cũng đã là một ám ảnh đến nỗi.. phải khó chịu. Còn vé máy bay giá cao hơn trước khá nhiều, hành lý mang theo cũng bị giới hạn, phải chịu thêm sở phí, và cả đến vấn đề ăn uống trên phi cơ cũng bị giảm thiểu hẳn nếu không muốn chịu chi thêm tiền túi ra… Và nhất là dạo này ảnh hưởng của tuổi tác đã bắt đầu khiến cho tâm lý của cá nhân tôi ngại đi xa, thích chần chừ khất lần với chính mình.

Ôi… Nhớ lại mười năm trở về trước, tôi vốn sẵn là tên thích di chuyển: Cứ cuối tuần là nhấp nhỏm, không xuống San Diego chơi với Nghiêu Đề, Lê Tất Điều thì lại lên San Jose bù khú với một lô anh em trên đó. Từ Trần Lam Giang, Bùi Ngọc Tô, Nguyễn Bá Trạc, Phạm Tài Tấn, Nguyễn Văn Tấn, Trần Trị Chi… Hồi ấy, chân tôi làm như lúc nào cũng ngứa ngáy, luôn luôn cần phải di chuyển chỗ này chỗ kia, chứ không thì phát cuồng mất! Phải vậy thôi: Chân có đi thì mới thỏa mãn được cái miệng thèm ăn món ngon vật lạ, cái tai chỉ khóai nghe những luồng gió mới – những chuyện đời thường vô cùng quyến rũ, cái mắt hau háu nhìn cảnh sắc và con người thay đổi bất ngờ trong đời sống… Có như vậy mới kích thích cho cái đầu làm việc, cái ký ức hớn hở tiếp nhận, cái tay tí tóay viếc lách để làm quà trao gửi với bạn hữu được chứ!

Tuy nhiên mới đây nghe thêm là Nguyễn Minh Diễm và Lê Thiệp sức khỏe bắt đầu lại có vấn đề, tôi làm như được tiếp sức thúc đẩy mình lên Washington D.C. một chuyến. Vậy mới biết rằng tuổi tác lẫn hòan cảnh đối với tôi cho đến lúc này vẫn chưa đủ cân nặng bằng cái thâm tình bạn hữu vốn sẵn hiện diện từ lâu trong con người mình…

Và đến lúc ngồi yên vị trên máy bay, tôi mới nhẩn nha nhớ rõ: Cũng phải cả 18 năm nay mình mới lại có dịp lên đó! Ấy mà chuyến đi lên đấy lần này mở đầu xem ra đã khiến tôi có cảm giác như tươi mới hẳn hòan tòan. Mở đầu cái màu sắc mới lạ này chính là trong tâm tình, cho đến bây giờ tâm trí tôi vẫn đinh ninh rằng mình xa nơi đấy dường như không hề lâu đến mức gần hai thập niên như vậy! Thế mới biết thời gian mỗi lúc một qua nhanh, tuổi tác càng chất chồng thì tâm tình có huynh hướng đốt giai đọan, khiến cho tôi chỉ nhớ những gì muốn nhớ mà thôi.

Chẳng qua cũng tại… cái tuổi già!

Đầu tiên thì lấy vé máy bay di chuyển đã là một vấn đề mới rồi: Người bạn của tôi dò tìm trên NET để mua vé trả bằng thẻ tín dụng một cách dễ dàng, nguyên công việc này cũng đủ khiến cho tôi không thốt hẳn ra bằng lời nhưng trong bụng đã ‘chào’ thua bạn ấy rồi. Thêm vào đấy, bạn tôi mua được vé đi từ phi trường địa phương là John Wayne Airport, trước ngày đi có hai tuần mà khứ hồi chỉ có ba trăm đồng bạc, đợt đi thì xế trưa còn đợt về đến nơi là trên 11 giờ đêm, chỉ có một điều là phải chuyển một lần máy bay. Đi vào buổi trưa mà tại phi trường LAX thì rời Little Sàigòn này trễ nhất cũng là 9 giờ rưỡi sáng mới ‘chắc ăn’ vì phải trừ hao các vụ bị kẹt xe trên xa lộ mà còn phải đợi khám xét cá nhân và hành lý thường ra xếp hàng trong cái đuôi dài dằng dặc trước khi lên được máy bay ở đấy. Nhận được vé qua email, tôi hết sức cảm ơn và quả thật là ‘phục’ lăn, buột miệng khen sự chu đáo vô cùng của bạn tôi!

Nhưng, theo kinh nghiệm của cá nhân, tôi đã thấy rằng chẳng khi nào đời mình lại có những điều kiện hòan hảo trong may mắn cả: Vé mua trước có hai tuần mà được rẻ đến gần nửa giá, rồi còn đuợc đi về ngay tại phi trường địa phương. Nghĩa là chắc chắn chẳng sợ bị kẹt xe trên xa lộ, mà chỉ tốn có hai mươi phút là đến và về, thì nhờ bạn hữu đưa đón thật dễ mà khỏi phải tốn dăm ba chục bạc tiền taxi hay Shuttle!… Được lợi thì đại khái là thế, nhưng thật ra khi vào thực tế thì bất cập.. rắc rối. Vé đã ghi rõ là không được bay một mạch đến nơi: Khi đi, phải chuyển máy bay ở Chicago và lúc về chuyển ở San Francisco, một tiếng đồng hồ xách va ly chạy vòng vo trên những hành lang dài hun hút, mệt đứt hơi thì mới kịp lên chuyến kế. Rõ rệt là tiền nào của nấy!

Tuy nhiên, vấn đề quan trọng cốt lõi ở đây vẫn là bắt nguồn từ cá nhân của tôi: Cách đây mười năm trở về trước thì cái trò chuyển đổi chuyến bay như vậy là một sự kiện chả bao giờ tôi phải lưu tâm tới, mà thường ra tôi lại thích thế nữa, nghĩa là được dịp háo hức biết thêm những phi trường mới. Còn bây giờ thì khác hẳn. Mệt bở hơi tai, khiến mình không còn hứng thú tới cái chuyện đủng đỉnh nhìn ngắm người qua kẻ lại… Ôi. Chẳng qua cũng tại cái tuổi tác nó hành mình.

Lại nữa: Lúc về, va ly của ai nấy xách cho đỡ tốn tiền gửi. Thế mà lên máy bay, va ly tôi to hơn thì cứ phom phom được cho qua trạm xét vé; va ly của anh bạn nhỏ hơn thì trái lại, chẳng hiểu tại sao lại bị yêu cầu trao cho nhân viên chuyển đi sau. Chúng tôi cứ đinh ninh là sẽ xuông xẻ lãnh hành lý ngay khi về tới nơi; nhưng khi hai đứa xuống phi trường John Wayne rồi mà chờ mãi không thấy, hỏi trạm thì mới được biết rằng hành lý của anh bạn đã thất lạc và chiều hôm sau họ mới đưa tới tận nhà!

Cảnh xưa.., xưa quá, đến độ lại như mới hòan tòan!

Thủ đô nước Mỹ kỳ lên thăm này quả cho tôi có một cảm tưởng như mới mẻ thật đấy.

Phi cơ cất cánh ở Nam Cali vào xế trưa, chính xác là 13 giờ 55 phút (tức gần 2 giờ chiều), tới phi trường O’Hare, Chicago, lúc 8 giờ tối, xách va ly đi như chạy loạn thì mới vượt qua được ba hành lang dài nối đuôi nhau để lên chuyến kế tiếp đúng 9 giờ lẻ 5 phút, nhưng phải đợi đến gần một tiếng sau và như vậy là vừa thở vừa uống chưa xong ly nước lọc thì bắt đầu đã nghe phi công trưởng nhắc, chuẩn bị xuống phi trường Reagan. Ra tới hành lang đợi bạn đón, nhìn đồng hồ:12 giờ, giữa đêm, ở Washington D.C. Hóa ra hai nơi, Chicago và Washington D.C. cách nhau một múi giờ!

Anh bạn Dương Thiệu Chí chở hai chúng tôi qua ngược rẽ xuôi trong đêm tối, mà lại lất phất mưa nữa. Tôi chẳng thấy cái gì hai bên đường, ngòai những lằn sơn trắng lờ mờ giữa đường đi trong sương mỏng. Chỉ như anh mù đang sờ voi. ‘Sờ’ vào đường phố thủ đô mà chẳng thấy ra cảnh vật chung quanh gì xất cả!

Sáng hôm sau, 7 giờ dậy, nhìn ra ngòai cửa sổ trời sáng mờ mờ. Liếc qua nhiệt kế thấy thóang gần 50 độ F. Tắm một cái, mới có cái cảm giác sảng khóai trở lại. Bước xuống bếp, làm một ly cà phê đen với một muỗng đường và ra cái deck phía sau nhà, đốt một điếu thuốc lá đầu ngày. Yên lặng rít, nghe ông bạn Chí nói rằng cái luật cấm hút thuốc ở thủ đô này bây giờ khá là gắt gao: Ở thị xã Silver Spring, khu bạn tôi có nhà ở, hàng xóm khiếu nại đến độ hút thuốc ở cái deck đằng sau nhà của mình cũng bị ‘hỏi thăm’ đến! May mà bạn cũng đang hút thuốc với bọn tôi, và có sẵn cả cái gạt tàn để bên cạnh, hút thả giàn!.. Nhưng vẫn chỉ theo lời bạn tôi kể: Ở bất cứ nơi nào khác trên này thì hút thuốc lá phải nên có một giỏ rác ‘đặc biệt’, bọc bao ny lông lót hẳn hòi, hút xong gói bao ny lông kỹ lại và đem ‘diếm’ vào đáy thùng rác lớn ngay, không có ‘bà chủ’ (tức xếp ở trong nhà) thấy ngứa mắt là cũng vẫn bị cự như thường!..

Ông bạn còn kể ra mấy lần phải sửa chỗ này chữa chỗ nọ, khiến tôi ngầm hiểu một cách rõ rệt là căn nhà này 18 năm trước tôi đã được đến trú ngụ một lần. Thế mà từ khuya hôm qua với sáng nay tôi vẫn thấy là lạ như mình mới lần đầy bước chân tới! Đồng thời, tôi lại bùi ngùi nhớ về lần lên kỳ trước ấy: Có một tối vì bận bịu, hai đứa chúng tôi về tới nhà đã 10 giờ đêm rồi mà bà cụ thân sinh ra bạn tôi (sẵn dịp lên ở nhà con gái) vẫn thương hai đứa (con ruột lẫn bạn của con) như thời hai mươi mấy năm về trước còn ở Sàigòn, cụ nhất định nấu canh mồng tơi và rán đậu rồi rưới nước mắm trộn hành lá xắt nhỏ, ăn ghém với dưa cà để “hai đứa về ăn cơm tối cho nó mát ruột!”. Cụ còn cất công ngồi đợi tụi tôi đi khuya về, khiến bước vào nhà sau một ngày họp hành liên miên mà hai chúng tôi vội lên phòng tắm cho nhanh một cái là xuống ăn, “không có cụ phải đợi lâu nữa!”… Lần lên kỳ này thì cụ đã về với ông bà tổ tiên cả gần mười năm nay rồi…

Gần trưa, đến giờ hẹn trước, bạn chủ nhà bận việc khác phải đi, cho mượn chiếc xe. Hai đứa chúng tôi lên đường, với chiếc GPS: Từ đấy ra khu Eden trung bình nửa tiếng, nếu không kẹt xe. Bạn cùng đi với tôi lái xe trên xa lộ 495, một lọai beltway của thành phố Houston vậy. Thấy bên trái có 2 lằn EZ Pass (như lọai Express Way ở Cali) đang trống trơn vì giờ này không bị kẹt xe. Đi xa lộ vòng đai về phía nam rồi chuyển sang phía đông, sau đó mới bắt vào đại lộ Arlington. Hai bên đường còn những vạt bãi cỏ thóang, thỉnh thỏang mới có một khu shopping center nhỏ, còn phía trong cùng vẫn là những mảnh rừng cây.. Và tuyết không biết tự bao giờ đã bay xuống như mưa bụi, phủ lốm đốm trên những mái nhà thấp ven đường.

Anh bạn vừa lái xe vừa giảng giải cho tôi nghe rằng giữa những nếp nhà kia, căn nào mà có mái tan tuyết sớm nguyên do là vì hệ thống sưởi của nhà ấy đã lâu không được bảo trì nên bị hở, khiến không gian trong nhà ấm lên đến mái…

Qua mấy giao lộ, thấy dòng xe cộ ở đây tương đối chịu đi nối đuôi và thứ tự nhường nhau . Tôi đang tự nhủ thầm rằng dân cư ở đây chạy xe xem ra cũng còn ‘hiền’ hơn bên Cali, nhất là so với khu Little Sàigòn Nam Cali. Thì bạn tôi chỉ cho thấy đằng sau một chiếc xe đang chạy phía trước mặt, tôi đọc được trên bảng số có ghi: “Nước Mắm: I put that shit on everything”. Tôi bật cười: “Riêng cái hiện tượng này coi bộ trên này ‘xôm tụ’ hơn dưới mình đấy!”.

Bây giờ là vào giữa tháng Ba, 2013. Tôi đã có ý xem thủ đô nước Mỹ đang ở thời gian biên giới mùa đông sang Xuân nó biến chuyển ra sao. Tôi nhớ rằng khuya qua đã chớm mưa và sáng nay có tuyết nhẹ. Hai vạt cỏ trước nhà của bạn tôi ở Silver Spring lún phún tươi; còn sau nhà thì khỏang cách từ cái deck ra đến bờ rừng thông là mảnh đất gồ ghề lơ thơ mấy bụi lau khô trơ cành, phải tinh mắt một chút ta sẽ thấy vài túm thủy tiên đất đã nhú lên một hai chiếc lá hình lưỡi kiếm và mấy nụ hoa hiếm hoi đã nẩy mầm xanh.. Nhưng khi được đến ngôi nhà nhỏ khuất nẻo trong khu bên phải đại lộ Arlington, nhà của anh Đặng Đình Khiết (nơi đây cách khu Eden chỉ độ chưa đầy một cây số), tôi như òa lên một nỗi mừng vui thích thú: Nhìn ra những khóm cây cỏ hoa lá ở vườn trước nhà anh Khiết đã xanh om. Nhiều cụm thủy tiên đất hoa vàng lá xanh cũng đã điểm xuyết một cách duyên dáng không ngờ, như hơi thở của mùa xuân đang ấm áp len lén về đây tự lúc nào rồi!

Khung cảnh của nhà anh Khiết khiến tôi hừng chí và chợt nhớ tới ông cụ thân sinh ra anh Nguyễn Bá Trạc: Hai mươi mấy năm về trước, tại căn nhà yên tĩnh trên con đường nhỏ chạy trên một cây cầu xi măng bắc qua cái lạch bé con con, cạnh vườn hoa bên một trường tiểu học ở trung tâm thành phố San Jose. Cuối năm nào mà tôi từ dưới Little Sàigòn lên thăm là thấy cụ sớm chiều một mình ngồi bên chiếc bàn nhỏ ngòai hàng hiên nhà tỉ mẩm tỉa thủy tiên, những củ và rễ trắng phau có mấy cọng lá vút dài xanh mướt. Nhận ra tôi, cụ ngẩng đầu lên, đôi kính lão trễ tới gần chóp mũi, miệng cụ mỉm cười. Sau lời chào của tôi, cụ lại nhắc: “Khi nào về lại dưới ấy, anh chịu khó cầm theo vài nhánh thủy tiên mà ăn Tết!”

Mới đấy mà đã thóang vút một cái, hai mươi mấy ba chục năm lướt qua như một cái chớp mắt…

Cuộc đời tôi bắt nguồn từ di chuyển.

Định cư ở Hoa Kỳ, tôi đã từng được nhiều dân Mỹ cho biết họ sinh ra và lớn lên tại một thành phố rồi cả đời chưa có dịp đi xa ra ngòai tiểu bang họ sinh trưởng. Trái hẳn lại, tôi là một cá nhân xem ra suốt cả đời đều sống theo những di chuyển không ngừng.

Đầu tiên hết, bất cứ ai trên trái đất này khi cần đề cập tới gốc gác là phải nói về nơi sinh chốn ở, phải không? Nói chung là về ý niệm quê hương thì thường ra đối với đa số chúng ta chắc cũng khá đơn giản… Nhưng suy nghiệm từ bản thân, quê hương đối với tôi xét vào chi tiết rõ rệt thì không hề đơn giản hóa được đâu.

Thí dụ như nói tới nguyên quán, nơi phát xuất ra giòng họ của cha mẹ tôi là ở Nam Định… Ấy! Riêng cái nghĩa của chữ nguyên quán ở đây có thật là bao hàm nơi cha mẹ tôi sinh ra hay không, hiện nay tôi cũng chẳng biết chắc nữa. Còn cá nhân tôi thì mãi tới khi sống được tới 62 tuổi rồi tôi mới có dịp trở về nơi đó, Nam Định, để chính mắt nhìn thấy quê quán bản gốc của mình lần đầu!

Và tôi cũng chỉ có cơ hội lưu lại ở đó gần một ngày trời, để được hướng dẫn thăm khu nhà từ đường và ra đến nghĩa địa của dòng tộc. (Dòng tộc xác định ở đây chỉ với những người còn sống ở lại ngòai Bắc sau năm 1954 thôi nhá, chứ cha mẹ tôi thì lại mất và được chôn cất tại những nghĩa trang quanh Sài Gòn, rồi sau năm 1975 bị bắt buộc phải bốc mộ, bỏ tro cốt vào hũ thờ trong một ngôi chùa ở trong Nam)

Cũng ở cái làng Dương Lai – tổng Trình Xuyên – huyện Vụ Bản – tỉnh Nam Định ấy, tôi đã được ăn một bữa cơm trưa tại nhà một người bà con xa, rồi ngay sau đó thì vội vã lên đường lại…

Nghĩa là tất cả chuyến về quê năm 2004 ấy chỉ thóang phớt qua, như tôi chỉ hiện hữu trong một giấc mơ, mà không một hình ảnh nào đậm nét còn đọng lại lâu trong tâm trí mình!

Còn nơi tôi được sinh ra đời là ở Vĩnh Phúc Yên. Cho đến giờ phút đang viết đây tôi cũng chưa hề mường tượng ra sao về cái nơi chốn ấy. Tôi chỉ nghe nói lại rằng thời gian tôi sinh ra đó là đúng lúc cha tôi đang làm việc cho nhà giây thép (tức là nhân viên sở bưu điện, nói theo ngôn ngữ bây giờ) ở đấy … Và trong thời thơ ấu (mẹ tôi mất đi lúc tôi chưa đầy 11 tuổi đầu!), tôi còn nhớ mang máng là mẹ tôi đã có lần tâm sự rằng khi tôi vừa sinh ra đời thì bà mệt quá, thiếp đi một lúc sau tỉnh lại, nhìn ra thì thấy bầu trời vẫn chưa ửng mây phớt đỏ rạng đông…

Thật ra thì ngay chính cha mẹ tôi cũng suốt đời phải bôn ba kiếm sống tại rất nhiều nơi, nên tất cả anh chị em tôi đều đuợc lấy chữ của địa danh nơi được sinh ra mà đặt thành tên, như các cụ thường dạy là để đánh dấu những giai đọan sống trên con đường tha phương cầu thực vậy mà. Cha mẹ tôi bảo thế. Chẳng hạn như tôi tên Bảo là vì được sinh ra đời tại một chẩn y viện tọa lạc trên một ngọn đồi nhỏ thuộc huyện Bảo Sơn, tỉnh Vĩnh Phúc Yên vậy!

Rồi đến trú quán thì SàiGòn là nơi gia đình tôi từ Hà Nội di chuyển vào và định cư từ cuối năm 1954 cho đến năm 1975… Và trú quán thứ nhì của tôi là Little SàiGòn, Nam Cali, suốt từ giữa năm 1981 cho đến bây giờ, 32 năm, một quãng thời gian dài nhất trong cuộc đời của riêng tôi.

Thế đấy. Cá nhân tôi mà bản quán – sinh quán lẫn trú quán khác biệt chí ít thì cũng được liệt kê đại khái như kể trên rồi. Chứ nói chi đến gần sáu năm tù đầy, tôi đã phải di chuyển bốn trại ở trong Nam và ba trại ở ngòai Bắc. Và sang đây 32 năm, mặc dù định cư chỉ có một tiểu bang nhưng nhà ở thì cũng đã phải thay đổi độ khỏang trên mười chỗ khác nhau. Đấy là chưa nói tới nguyên do vì công việc và cũng vì tâm tính của cá nhân thúc đẩy mà tôi đã không năm nào mà không đi xa tới dăm bẩy chỗ, trên nước Mỹ lẫn Úc Châu, Âu Châu, Canada và Đông Âu.

Bệnh với lão

Cũng suy ra từ cái tuổi tác của cá nhân, tôi thấy bắt buộc phải thổ lộ ở đây một vài điều nhận xét mới nhờ vào kinh nghiệm bản thân. Chứ tôi phải thú thật rằng xưa nay vốn ngại đề cập tới ‘cái tôi’ vừa đáng ghét lại vừa ‘chẳng giống ai’ cả.

Số là từ trước tới nay chúng ta vẫn quen thấy rằng khi nhắc nhở đến cuộc đời thì người ta thường hay đề cập vấn đề “sinh-lão-bệnh-tử”. Trước tuổi sáu mươi, tôi vẫn băn khoăn rằng, nếu câu nói này mà xét theo nguyên tắc trình tự những giai đọan sống của một đời người, từ ấu thơ sang thiếu niên rồi trưởng thành kéo dài tới trung niên thì sau đó tuổi già mới phát hiện ra; như vậy phải nói là “sinh-bệnh-lão-tử” mới xác thực chứ. Bởi con người từ lúc sinh ra cho đến khi chết, bệnh là một yếu tố có thể phát tác ra ở bất cứ lớp tuổi nào.

Nhưng trên mười năm nay, mỗi tuổi được sống thêm ra thì biến chuyển tâm-sinh lý mỗi lúc một khác đi, đã khiến tôi dần dà cảm nhận được rằng:

– Đời sống của bất cứ một con người nào thì cũng giống nhau ở chỗ là đã có ‘sinh’ thì nhất định phải có ‘ốm đau bệnh tật’, có ‘già nua đi’ và phải ‘chết’. Như thế, đời người mặc dù hết sức ngắn ngủi nhưng vẫn theo tuần tự như vậy, có khác nào so với vũ trụ và vạn vật đâu.

– Trong cái vòng quẩn quanh vô cùng nhỏ bé của đời sống ấy, có sinh thì chắc chắn phải có tử, hai mốc điểm “sinh” và “tử”đánh dấu ở hai đầu giới hạn của một đời người. Còn “lão” và “bệnh” là hai hiện tượng chúng cứ thường xuyên xẩy ra, ở cả thể xác-tinh thần-tâm lý, và đều có thể bất cứ lúc nào chúng đưa ta đến cái chết, chẳng ai có thể biết trước được cả.

– Xét sâu vào chi tiết, chúng ta còn nhìn ra những diễn biến hỗ tương ảnh hưởng vào nhau trong cuộc sống của “bệnh” và “lão”: Bệnh đại khái có bệnh của thân thể và bệnh của tâm lý (lạc quan hay bi quan), bệnh của tinh thần (trí tuệ phát triển hay trì trệ). Cả ba thứ bệnh này đều có tác dụng ảnh hưởng lẫn nhau, để tạo ra những hậu quả cho con người chúng ta! Hiện tượng già nua đi ở con người cũng vậy, cũng lão hóa thể xác (thể hiện ra bên ngòai hình thể và những bộ phận bên trong cơ thể), lão hóa tâm lý và lão hóa trí tuệ. Hai lọai già và bệnh còn hỗ tương ảnh hưởng lẫn nhau nữa!

– Do đó, câu nói “sinh-bệnh-lão-tử” mục đích không phải chỉ được liệt kê theo thứ tự của những sự kiện phát sinh ra trong đời sống, mà còn muốn diễn tả nội dung ảnh hưởng tương tác lẫn nhau của bốn yếu tố này trong sự sống của con người (lẫn vũ trụ và vạn vật)

– Đặc biệt hơn nữa, lúc ta còn trẻ và trung niên, nghĩa là lúc mà cả con người của ta từ thể xác lẫn trí óc và tâm thần đang thời phát triển phương cương, bệnh có phát sinh thì ta mới thấy đau khổ đầy ải. Đến khi được chữa trị xong rồi là con người ta thường quên ngay đi cái khổ bị bệnh hành, mạnh dạn tiếp tục hân hoan trên con đường sống. Nhưng chính thời kỳ ấy, ta cần phải lưu ý rằng khi thể xác bị bệnh hành, chuyện chữa trị cấp thời là điều cần thiết trước tiên. Tuy nhiên, ngay sau đấy, nếu ta không truy cứu để thấu hiểu cặn kẽ đến căn nguyên của mầm bệnh để tìm cách trừ cho tuyệt ‘nọc’, cứ ỷ y như cũ, tức là cứ nuôi mầm bệnh bằng những chứng tật, thì sớm muộn gì bệnh cũng sẽ tái phát, hiện tượng này được gọi tắt là bệnh tật và tật bệnh, có tính cách xoay vòng ảnh hưởng lẫn nhau.

– Còn lúc tuổi tác ta trở về già, từ thể xác cho tới tâm thần và trí não chúng ta đều cằn cỗi dần đi, vì chứa đựng quá nhiều thứ, nên mọi sinh họat của con người ta cũng đều ‘uể uải’ hết, nếu lại phải chịu đựng thêm tật bệnh nữa thì cái mầm mống ngại khổ-chán sống nó cứ mỗi ngày một ‘hành hạ’ tòan diện con người của mình. Nếu chúng ta không thức thời mà thay đổi triết lý sống, đơn giản hóa mọi sinh họat cho phù hợp với tuổi tác thì nỗi khổ đau dằn vặt cứ thế mà đeo đẳng day dứt chất chồng, ta không thể nào chịu đựng nổi nữa đâu!

Nhận xét như trên quả có hơi dài dòng về bệnh tật đấy. Nhưng kinh nghiệm cho tôi biết, hãy chứng tỏ tối đa tình cảm của mình qua hành động sống, còn đồng thời ngòai ra lại cần phải giới hạn cũng tối đa cái thói ưa bầy tỏ cho người khác biết về những hiểu biết mới của mình, nhất là đừng bao giờ đề cập đến tật bệnh cuả thân hữu. Bởi phần đông người ta không ưa đề cập nhiều đến cái bệnh tật mà mình đang phải chịu đựng. Hơn nữa, ở vào chừng tuổi này, chả còn ai ‘dậy khôn’ được cho ai nữa cả!

Bạn hữu

Sau khi phải ‘bóp bụng’ thổ lộ ba điều bốn chuyện về cái già và bệnh tật, tôi thật sự đang thở phào nhẹ nhõm và thơi thới hân hoan để bàn sang cái ‘mảng’ quan trọng là bạn hữu với quí vị đây.

Dù gì đi nữa, bạn hữu đối với cá nhân tôi xưa nay vẫn được mỗi lúc một trân quí hơn lên, bổ túc cho cái vòng thân mật bản thân bên cạnh gia đình của mình. Tôi nghiệm thấy thế. Hay nói một cách khác đi, tôi quan sát thấy rằng phần đông những ai thuộc thế hệ sinh trước và sau thập niên 1940, như tôi chẳng hạn, đa số đều bầy tỏ bằng hành động trong đời sống của mình là cái thái độ quyến luyến bạn hữu, mỗi tuổi sống thêm là một thân thiết hơn lên.

Chẳng thế mà có người cho rằng bạn hữu quan trọng ở chỗ gần gũi thân mật với nhau từ thuở còn đi học. Sự kiện này xem ra rất phù hợp với hầu hết chúng ta. Nhưng nếu chỉ học chung hồi nhỏ không thôi, rồi sau đó ít gặp, mà còn tan tác một người một nơi, mỗi người theo đuổi một nghề nghiệp riêng, thì dù thời đi học có thân mật với nhau cách mấy đi nữa thì cũng vì hòan cảnh “xa mặt cách lòng” mà phôi phai dần đi. Còn như trường hợp đã học chung hồi nhỏ, lớn lên thường xuyên vui chơi với nhau, hay cùng một sở thích, rồi ra đời vẫn còn có dịp sinh họat chung, gặp gỡ nhau hòai nữa… Nghĩa là phải có một thời gian gắn bó dài lâu với nhau bằng nghề nghiệp, bằng cái phần số trong những giai đọan khó quên nhất vừa qua của cuộc đời mình thì chắn chắn là phải mật thiết với nhau hơn cả.

Cũng có người thổ lộ rằng sở dĩ thế hệ tôi mà bạn hữu quí mến nhau được như vậy là vì chúng tôi sinh ra là gặp ngay lúc đất nước phải chiến tranh, rồi lại cùng nhau trải qua hai mốc điểm khá đặc biệt của lịch sử dân tộc cận đại: Năm 1954 chuyển đổi nơi cư trú để chan hòa nếp sống với nhau (dù có gốc gác là từ Bắc-Trung hay Nam phần đi nữa); và cái năm 1975 tan tác khổ ải, thêm quá nhiều người bạn của chúng tôi bị tiêu vong từ lúc còn xanh tóc, rồi sau đó lại thóat ra khỏi nước mà định cư ở hải ngọai này, và nhất là hiện nay chỉ còn ít người sống sót cho đến tận bây giờ để được xếp vào cái lớp tuổi già với nhau như chúng tôi đây… Nghĩa là tựu trung lại, có đến bốn năm thứ đổi đời hy hữu như vậy đều gom góp lại cho một thế hệ chúng tôi.

Trong kinh nghiệm của dân tộc, chúng ta vốn đã được biết rằng “không thầy đố mầy làm nên” Nhưng đặc biệt hơn nữa là cả đời tôi những vị thầy đếm cũng chưa hết hai bàn tay mình. Thế mà, trong khi đó, kinh nghiệm bản thân tôi đã chúng minh cho thấy trong bất cứ giai đọan nào của đời sống thì cái châm ngôn “học thầy không tầy học bạn” bao giờ và luôn luôn đều đi kèm với ‘ bạn cũng là thầy của mình’ nữa! Cho nên đối với tôi, từ ngữ bạn hữu có một nội dung khá sâu xa… Ở một bài viết khác thuận tiện, tôi sẽ xin khề khà trình bầy cặn kẽ vào vấn đề này sau. Riêng ngay tại đây, tôi chỉ xin dứt khóat khẳng định rằng: Sống ở đời mà được có bạn hữu, càng nhiều bao nhiêu càng hãnh diện bấy nhiêu; và đối với tôi bạn hữu là một niềm hạnh phúc vô biên, không một giá trị nào khác có thể so sánh bằng!

Còn nói chung, trong mỗi một cá nhân, những ai vốn sẵn từ trong cuộc sống đã tỏ ra bằng hành động coi trọng tình bằng hữu. Thì theo tôi đấy là điều kiện tiên quyết đáng trọng nhất, sau đó rồi mới có thể xét vào những chi tiết khác nữa đuợc…

Cho nên, kỳ này hai đứa chúng tôi lên đấy, đương nhiên là đi thăm mấy ông “thần nước mặn”. Trước nhất phải là Nguyễn Minh Diễm. Rồi cũng nhờ Diễm hứng khởi một cách hăng hái (đến nỗi chính bà xã của chàng cũng chính thức tỏ ra khuyến khích) ‘tình nguyện’ hướng dẫn cả bọn đến thăm Lê Thiệp, và gian nan nhất là tới với Ngô Vương Tọai, ở một khu nhà còn khá mới, thuộc Manassas, khá xa và cũng khó tìm đến. Thế là tất cả mong muốn đều được chu tòan, quá những gì chúng tôi dự định!

Ngòai ra, chúng tôi còn hẹn hò được với những Đặng Đình Khiết, Phạm Đức Tiến, Đào Trường Phúc, Nguyễn Anh Văn, Nguyễn Mai Thọ… Riêng anh Trần Quang Duật thì đã rất sốt sắng và ăn ý với Phạm Gia Cổn, cho nên tôi cứ thế mà được ‘ăn theo’, thỏai mái được hưởng ké sự thù tiếp ân cần tới ba lần của anh.

Không những thế, hai đứa chúng tôi còn được lên khề khà ở quán Xe Lửa. Và nhờ vậy, chúng tôi tình cờ một cách hân hạnh được gặp gỡ những ông bạn như Nguyễn Tường Giang, Đỗ Hùng… , những vị tôi nghe danh lâu bây giờ mới có dịp gặp là ông Cò Ly, ông luật sư Tòan.. , cả đến như ông Nguyễn Mạnh Hùng, một nhân vật thường xuyên có việc xuống ‘chơi’ dưới Nam Cali chúng tôi nữa!

Tuy thế, vài ngày ở nán lại thủ đô Mỹ vẫn phải gọi là quá vội vã. Tôi không làm sao còn có thêm được thì giờ đâu để dám hẹn gặp những Đòan Triệu Hân, Nguyễn Hữu Hiệu, Duy Lam, Đặng Văn Thụ, Uyên Thao… và với những bạn quá lâu rồi mà không liên lạc lại được như Nguyễn Đình Hùng, Đỗ Việt Cường…

Thôi thì.. xin hẹn gặp lại.

Tôi dám nói lên lời hẹn gặp lại một cách ‘chắc như bắp’ như thế là vì trong quá khứ của chưa đầy một năm nay, nào có hẹn trước bao giờ đâu mà tôi đã được bù khú một lần với Phạm Đức Tiến, tới hai ba lần với Đòan Triệu Hân, Đặng Văn Thụ… , tại Nam Cali!

(Tháng 4 – 2013)

Nỗi đau gửi theo

Tưởng nhớ đến Nguyễn Minh Diễm

nguyen_minh_diem
Nhà báo Nguyễn Minh Diễm (1943 – 2014)

Cùng một lúc, từ nhóm bạn học chung P.C.B. (1) đầu thập niên 1960, nhóm nhân viên làm việc ở R.F.A (Đài Á Châu Tự Do)… đến nhóm bạn cùng lớp với An Thục Đức (bà Nguyễn Minh Diễm), niên khóa 1954-60, ở trường Phan Chu Trinh Đà Nẵng, ‘tấn công’ tôi liên tiếp bằng những cú phôn và emails, khiến tôi người cứ bần thần mà không thể tập trung để làm bất cứ một việc gì cho ra hồn cả: Lúc thì thấy nhẹ hẫng như đang sống trên mây, lúc lại bị cảm giác nặng trĩu như chỉ muốn nằm lăn ra đất mới đỡ khó chịu đi…

Cả ba ngày hôm nay con người tôi sống như trong một cõi mộng du nào đó… Bỗng tự tôi nhớ lại là sau khi mất Ngô Mạnh Thu (cũng vào tháng Tám năm 2004), cơ thể tôi đã ở trong trạng thái này.

Và cả trên một năm nay, mặc dù tôi vốn đã tự mường tượng rằng cái tình cảnh này rồi cũng sẽ phải diễn ra. Ấy thế mà khi thực sự chuyện phải đến thì con người tôi vẫn không sao có thể khác được. Thì ra đúng là ở vào cái tuổi trên bẩy mươi, như cá nhân tôi bây giờ, có những điều xẩy ra ngòai hẳn cái khả năng kiểm sóat của chính mình. Hay nói một cách chính xác hơn, càng lớn tuổi lại càng gặp nhiều hơn những trường hợp minh chứng rằng mình bất lực hòan tòan đối với chính mình, trong cuộc sống.

Gặp một người bạn thân, thân với tôi lẫn cả Diễm, tôi thổ lộ tình huống này của tôi. Vốn là một y sĩ, anh ấy đã khuyên tôi: Nên chịu khó ngồi lại mà viết ra. May thì tâm thần có thể sẽ giảm thiểu được phần nào cái áp lực nặng nề ấy chăng.

Và thế là tôi cứ làm như đang thì thầm tâm sự với Diễm, những gì tôi đang còn nhớ được, mặc dù trong thực tế thì các cú phôn và những đọan trong emails đều cho tôi biết là Diễm đã không còn… tỉnh nữa.

Vậy phải viết bắt đầu từ đâu nhỉ? … Thôi thì cứ những gì hiển hiện ra là mình đề cập đến…

Mấy năm nay, cứ mỗi lần nhắc nhớ về những năm học dưới trung học là Phạm Gia Cổn kể ra cái thời học trường Hàn Thuyên, có cả Minh Diễm trong nhóm các anh chàng nhà ở khu tam giác Cư xá Đô Thành, chợ Vườn Chuối và chùa Tam Tông Miếu ; nhưng hồi ấy Diễm xuất hiện trong một dáng dấp khá là ‘hiền lành’ nên sau này hầu hết anh em bạn hữu cùng hai lớp ấy ít có cơ hội nhớ ra, trừ Cổn.

Thời học ở P.C.B. cũng vậy, cũng chỉ đếm trên đầu một bàn tay những ai còn nhận dạng được Diễm từ thuở ấy. Tuy nhiên, cùng học chung một niên khóa này mà sau đó bỏ sang học Văn Khoa sàigòn, cùng ban Triết, thì chỉ có Diễm với tôi. Nhưng hồi đó Diễm lại la cà thường xuyên, và dĩ nhiên là thân thiết hơn, trong băng “cá vàng” Văn khoa cùng với Phạm Quân Khanh, Trần Lam Giang, .. rồi Phạm Phúc Hưng (cử nhân Vật Lý bên Khoa Học) và Bùi Ngọc Tô (bên Nha khoa ). Còn Vũ Ngự Chiêu thì đến năm 1967 gì đó (tôi nhớ mang máng như vậy, không chính xác lắm đâu) mới chịu khó trở lại học ban Sử/Văn khoa, sau khi đã là trung úy ‘đề lô’ cho binh chủng Nhẩy Dù.

Nhưng lúc tốt nghiệp cử nhân giáo khoa Triết, thì trong những anh em ra trường cùng niên khóa duy nhất có một mình Diễm đựợc chấm đậu hạng bình cho chứng chỉ Siêu Hình (hay Triết Tây?), một thứ hạng mà vào thuở ấy rất hiếm ai đạt được. Rồi sau đó Diễm đi dạy lai rai ở Sàigòn, trước khi lên làm giảng viên của Văn Hóa Vụ, trường Võ Bị Quốc Gia Đàlạt…

Cho đến khỏang giữa tháng 12 năm 1980, sau một năm rưỡi bị liệt một bên người, tôi được thả từ Trại Số 5 (Yên Định, Thanh Hóa) và đi xe lửa về lại Sàigòn. Trước khi vượt biển thành công (vào cuối tháng giêng 1981), tôi được Vũ Sinh Hiên cho ăn một bữa cơm gia đình để đời, tại nhà Hiên, ngay bên cạnh đường xe lửa cổng số 6 Phú Nhuận. Gia đình Hiên hồi ấy còn để ngay trước cửa nhà cái thùng bán nước đá và nước ngọt! Lan man thăm hỏi những người bạn cũ, tôi nhớ Hiên cho biết: Đậu vẫn đi dạy, người tạm được cho là may mắn nhất trong bọn. Còn Diễm thì đã về tù và suốt ngày đang bận chạy mối hàng bán ngòai vỉa hè, thế mà vợ con vẫn cứ đề huề cả …

Mấy năm sau, tin tức Diễm đã mưu sinh khấm khá hơn nhiều nhờ cả nhà trụ vào gánh phở. Giữa thập niên 1990, nghe nói gia đình Diễm sang định cư ở Washington D.C. Rồi Diễm vào làm cho RFA, năm 1997, để cuối cùng được giữ chức trưởng ban Việt Ngữ RFA.

Năm 2007, Diễm tình cờ được đề nghị chụp hình tòan bộ để khám bệnh thường niên, như một ý định để yên lòng gia đình nhưng bất ngờ, cũng nhờ đấy mà khám phá ra là chính Diễm đang bị nhuốm bệnh. Đúng lúc ấy, trên đường từ Phần Lan về lại San Jose (Bắc Cali), ghé qua Washington D.C. , Nguyễn Bá Trạc may mắn duy nhất trong nhóm bạn hữu được vào thăm Diễm tại nhà thương. Và dù được điều trị khỏi rồi nhưng theo gợi ý của cả gia đình, Diễm xin nghỉ làm việc luôn vào năm 2010. Thế là chàng ta cứ thanh thản đủng đỉnh mãi cho tới cách đây trên một năm…

Tính ra gần hai mươi năm sinh sống ở ngòai này, cứ mỗi lần có dịp xuống Nam Cali, vì việc sở hay vì chuyện gia đình (như hồi lo tang cho anh Khâm, đám cưới con trai Cổn… ), Diễm đều gặp gỡ bạn hữu ít nhất là một buổi bù khú với nhau. Đặc biệt cách đây mấy năm, tại quán Zen của Lý Kiến Trúc, tôi may mắn gặp được gần như cả đại gia đình: Viết đến đây tôi làm như thấy rõ mồn một hiện ra trước mặt những ánh mắt nụ cười tươi vui, tràn đầy hạnh phúc của vợ chồng Minh Diễm – Thục Đức, nhất là của mấy đứa con và mấy đứa cháu nhỏ nhà Diễm…

Tháng ba năm ngóai, 2013, Cổn và tôi lên Washington D.C., trước tiên là đến thăm Diễm tận nhà. Anh tỏ ra rất nhẹ nhàng tươi vui mà lại thân tình tiếp đón nồng hậu, cho biết mới rứt đợt ‘chemo’ đầu tiên. Như gián tiếp chứng tỏ là đã khỏe lại và tinh thần phấn chấn, sẵn sàng vui chơi với bạn ở xa lên, Diễm hẹn sáng mai đến sớm, ăn xôi bà xã nấu sẵn, rồi sau đó chính anh hướng dẫn hai đứa chúng tôi cùng đi thăm Lê Thiệp và Ngô Vương Tọai.

Gần nhất, cách đây vài tháng, nhân buổi tủ sách Tiếng Quê Hương tổ chức ra mắt cuốn “Ung Thư Ơi, Chào Mi” của Lê Thiệp, nghe kể lại là Diễm đi gậy đến dự và phát biểu đại khái rằng con người ta có sinh thì có bệnh, ngay cả sự sợ hãi cũng là bệnh, bệnh tưởng, và người nào cũng đều có phần số riêng của người đó cả…

23 tháng Bẩy

Nhắc sơ lại cái sườn đời sống của Nguyễn Minh Diễm như trên, thực tâm tôi muốn bầy tỏ rằng Diễm và tôi hai cá nhân ít nhất là đã khá may mắn thóat được ra khỏi nước, như một trong vài điều kiện có thể tạo nên cơ hội để chúng tôi sống và làm việc một cách đường hòang hơn ai khác, trong số những bạn học cũ còn kẹt lại sau tháng Năm – Bẩy Lăm. Nhưng so sánh giữa hai chúng tôi thì rõ rệt Diễm đã thông minh – giỏi và nhất là nỗ lực trong đời sống hơn tôi nhiều. Cái cá nhân tôi nhỏ bé, nhìn lại cuộc đời mình, tôi tự nhận thấy mình chỉ thích hụ hợ vui chơi hơn bạn nhiều.

Xưa nay tôi vẫn cho là cuộc đời của con người mới đáng kể hơn cả. Chính nhờ từng trải trong cuộc sống mà người ta mới hình tượng ra thiên đàng và địa ngục, như là mấy cái cột mốc sống còn để người ta tự dè chừng và cố gắng vươn tới trong đời. Nếu đúng như vậy thì lẽ ra cá nhân nào luôn luôn nỗ lực và cố gắng sống cho lương thiện thì cần phải được sống dai hơn so với những ai lười biếng và gian ác chứ!

Diễm và tôi bằng tuổi nhau, thế mà bây giờ tôi vẫn sống nhăn… Thì ra đúng như người ta vẫn nghiệm thấy thực tế trong cõi đời này: “Người thông minh, sống giỏi giang và luôn luôn lương thiện thì dễ bị kiệt sức, mất sớm” Nghĩ vậy mà tôi cảm nhận được cái nỗi đau một cách đầy ‘trái khoáy’ ấy đang dầy vò trong tâm trí tôi…

Cách đây tám năm, 2006, cũng vào tháng Tám, mùa Hạ, Đỗ Ngọc Yến – Đào Mộng Nam – Nguyễn Văn Diên đồng lọat ra đi vào cõi vô cùng. Tôi nhớ lúc ấy tôi đã có viết một bài lấy tên là “Vị Cay Của Hạ”. Mùa Hạ năm nay, đối với cá nhân tôi, thì rõ rệt không chỉ có vị cay không thôi mà còn đau đớn nữa. Nỗi đau mang nặng không những của mấy bạn hữu còn ở lại cõi đời này mà của cả những người đã và vừa ra đi. Nỗi đau của cả một lớp thân hữu đã từng có một thời học chung và cùng trải qua những bước đường sống còn gập gềnh khúc khủyu của trên sáu mươi năm nay…

Tự nhiên tôi nhớ đến đọan thơ chót bài “Khóc bạn”(1902), Nguyễn Khuyến sáng tác cách đây cả trên một thế kỷ:

“.. Bác chẳng ở dẫu van chẳng ở
Tôi tuy thương lấy nhớ làm thương
Tuổi già hạt lệ như sương
Hơi đâu chuốc lấy hai hàng chứa chan.

(04, tháng Tám, 2014)

(1) Viết tắt của Physics-Chemistry-Biology, chứng chỉ Lý-Hóa-Sinh thuộc văn bằng cử nhân của Khoa học, đồng thời cũng là năm Dự bị để được tuyển lựa vào học năm thứ nhất phân khoa Y Khoa, Viện Đại Học Sàigòn.

Phạm Quốc Bảo
Nguồn: Tác giả gửi

Đã đóng bình luận.