Cầu hiền và sử dụng năng lực trí tuệ

Posted: 09/09/2014 in Bình Luận, Nguyễn Thị Từ Huy

Nguyễn Thị Từ Huy

van_mieu_quoc-tu_giam

Phần 1

Một trong những cuốn sách tôi đọc trong những ngày đầu tiên tới Paris là cuốn La-Sơn Phu-Tử của Hoàng Xuân Hãn, viết về Nguyễn Thiếp – La-sơn Phu-tử, nhân vật lịch sử của vùng La-sơn xưa, tức là Can-lộc ngày nay.

Tôi đọc Hoàng Xuân Hãn và gặp lại tâm tình của ba tôi. Trong từng trang sách, tôi thấy lại nỗi niềm của ba tôi, và như nghe thấy giọng ông, mà tôi vẫn lưu giữ trong ký ức kể từ hồi niên thiếu, kể những câu chuyện về lịch sử và địa danh xứ Nghệ.

Đọc sách Hoàng Xuân Hãn, tôi nhìn thấy trước mắt mình, xếp chồng lên những tòa nhà trên các đường phố Paris, hình ảnh 99 ngọn núi Hồng Lĩnh, tiếp nối nhau chạy dài về tương lai, và những khúc sông lúc hiện lúc ẩn, khuất sau những bãi bồi hay những xóm làng, có những nơi vẫn còn rất nghèo đói. « Nói tóm lại, triền sông Lam là một nơi rất nhiều thắng-cảnh. Đứng chỗ nào, chung quanh cũng trông thấy núi. Mà ở núi nào cũng đầy dấu-tích xưa : đền cũ, thành xưa, bãi chiến-trường, nơi ẩn-dật. Nhà La-sơn phu-tử ở về phương nam, bên cạnh núi Nhạc-sạn, phía tây-nam núi Hồng-lĩnh. » (La-sơn Phu-tử (LSPT), Hoàng Xuân Hãn, nxb Minh Tân, Paris 1952, tr.45. Từ đây trở về sau, những trích đoạn trong sách này sẽ được chú thích bằng số trang đặt trong ngoặc đơn. Chúng tôi cũng giữ nguyên cách viết chính tả có ngang nối của Hoàng Xuân Hãn).

Có những cuốn sách như vậy. Chúng không chỉ tường trình sự việc, mà sự việc là nơi hợp lưu giữa nỗi niềm của nhân vật và nỗi niềm của tác giả. Những cuốn sách như vậy có thể làm lay động và đánh thức cả cảm xúc lẫn suy tư ở độc giả. Những cuốn sách đó dù không có lời hô hào nào, nhưng tiếng gọi của chúng thâm sâu và da diết.

Đó là điều mà một cuốn sách có thể làm : kết nối các không gian, kết nối các thời đại (quá khứ – hiện tại và có thể cả tương lai), và kết nối nỗi niềm, tâm tình của những con người ở các không gian và các thời đại khác nhau ấy.

Khởi đi từ một tâm tình rất riêng tư, cuốn sách này đã khiến tôi phải suy nghĩ về những câu chuyện chung của chúng ta, cả trong quá khứ lẫn hiện nay. Trong bài này, tôi sẽ đề cập tới một vấn đề : cầu hiền và sử dụng năng lực trí tuệ.

Quang Trung đã cầu hiền như thế nào…

Trong cuốn La-sơn Phu-tử, Hoàng Xuân Hãn thuật lại thái độ hết sức đặc biệt của Quang Trung đối với Nguyễn Thiếp, một nho sĩ đậu hương giải từ lúc còn rất trẻ, sau đó qua vòng thi Hội nhưng từ chối thi tiến sĩ, có ra làm quan nhưng rồi chọn cách hành xử xuất thế, từ quan vào núi ẩn dật. Tính chất đặc biệt thể hiện trong việc Nguyễn Huệ ba lần viết thư mời Nguyễn Thiếp ra làm việc và đều bị từ chối cả ba lần, nhưng vẫn tiếp tục hội kiến và trọng dụng La-sơn Phu-tử, bất chấp việc ông già ở ẩn đó về căn bản là không chịu hợp tác với Nguyễn Huệ, vì sự trung thành với nhà Lê, cho đến tận mãi về sau, khi Lê Chiêu Thống « rước voi về giày mả tổ », khiến cho cụ không còn có thể đặt lòng trung vào nhà Lê được nữa, đồng thời cụ cũng nể Nguyễn Huệ, người đã bộc lộ những phẩm chất không chỉ của một tài năng quân sự, một dũng tướng trăm trận trăm thắng, mà còn là của một người trọng tài, trọng kiến thức, độ lượng và giỏi bang giao.

Lần thứ nhất Nguyễn Huệ viết thư mời Nguyễn Thiếp là vào tháng 12 năm 1786, năm Cảnh Hưng thứ 47, lúc đó ông chưa lên ngôi vua, bức thư ký tên An-nam Đại-nguyên-súy. La-sơn Phu-tử trả lại thư cùng lễ vật. Hoàng Xuân Hãn bình luận : « cụ chối một cách đường-hoàng, lời-lẽ rất khôn khéo. […] ngôn-từ rất đứng-đắn, không tỏ ý gì sợ-hãi cả. […] Thực ra cụ chỉ một lòng trung với vua Lê, còn Huệ đối với cụ chỉ là một anh tù-trưởng ở chỗ biên thùy mà thôi. Nên cụ không những trả lễ vật mà lại còn trả cả thư mời nữa, để tỏ ý cùng Huệ rằng cụ hoàn-toàn không chịu giao-thiệp với Huệ ». (101)

Nguyễn Huệ chẳng những không tự ái, không trừng phạt, mà kiên trì tiếp tục mời Nguyễn Thiếp hợp tác. Một năm sau, vào tháng 10 năm 1787, lúc bấy giờ Nguyễn Huệ, với danh nghĩa Đại-nguyên-súy Tống-quốc Chính-bình-vương, viết bức thư thứ hai cho La-sơn Phu-tử. Lời lẽ hết sức trọng thị, và Nguyễn Huệ không mời Nguyễn Thiếp ra giúp mình, mà ra giúp sinh-dân để thực hiện đạo-nghĩa. La-sơn Phu-tử trả lại y nguyên các lễ vật hậu hĩnh của Nguyễn Huệ và lấy lí do sức khỏe yếu để từ chối, nhưng hứa hẹn một khả năng : « Để ngày khác, đứng ngoài mà làm một người cố-vấn dự-bị » (104)

Hoàng Xuân Hãn nhận xét về thái độ và cách ứng xử của Nguyễn Huệ : « Huệ không bằng-lòng, nhưng lại càng thêm trọng cụ, và muốn mời cụ ra cho kỳ được. Cho nên mười một ngày sau khi cụ viết thư trên, nghĩa là lập-tức sau khi nhận được thư ấy ở Phú-xuân, Chính-bình-vương bảo viết thư cố nài cụ. Thư này dài hơn các thư trước. Vương lại sai quan Hình-bộ thượng-thư Thuyên-quang-hầu Hồ Công-Thuyên mang tới núi. Thế mới biết lòng khẩn khoản của Chính-bình-vương là thế nào. » (105).

Trong bức thư thứ ba này, Nguyễn Huệ có những lời thống thiết như sau : « Kẻ danh-thế thỉnh-thoảng ra đời. Quả-đức hằng nghĩ và mơ-tưởng đến. Trong mười lăm năm đến bây-giờ, chưa hề phút nào giám quên. Không ngờ nay, trông lên thành Lục-niên có người tài đương ở đó. Ấy là trời để dành Phu-tử cho quả-đức vậy. Tuy Phu-tử không thèm tới, nhưng lòng dân đen trông ngóng, Phu-tử nỡ ngơ-lảng được sao ? Lòng cầu hiền, quả-đức há giám sinh bụng đầu siêng sau lảng đâu » (107). Trước những lời lẽ tha thiết đó, La-sơn Phu-tử tiếp tục từ chối một lần nữa, tiếc là không còn giữ được bức thư phúc đáp của ông.

Liên tục bị từ chối, Nguyễn Huệ chẳng những không giận mà một năm sau đó, tháng 3 năm 1788, trên đường hành quân ra Thăng Long, khi dừng chân tại Phù Thạch, đã viết thư mời La-sơn Phu-tử tới hội kiến. Trong cuộc gặp gỡ trực tiếp này, Nguyễn Thiếp đã có cơ hội để nói ra một cách thẳng thắn lý do không hợp tác với Nguyễn Huệ. Theo tường thuật của Hoàng Xuân Hãn, các sách lịch sử chép lại cuộc đối thoại giữa hai nhân vật này có khác nhau về lời lẽ, nhưng ý rất thống nhất : Khi Nguyễn Huệ hỏi lý do vì sao mời ba lần mà không nhận lời, Nguyễn Thiếp nói thẳng rằng nếu Nguyễn Huệ phù Lê thì là anh hùng, còn nếu giả nhân nghĩa để lấy tiếng thì là gian hùng. Bị mắng là gian hùng mà Nguyễn Huệ lấy làm sợ mà trọng đãi cụ hơn. Đồng thời lệnh cho La-sơn Phu-tử xem đất để lập kinh đô ở Phù Thạch, Nghệ An, nhưng cả lần này Nguyễn Thiếp cũng từ chối, ông lần lữa, trì hoãn không chịu xem. Vì thế, việc lập kinh đô ở Phù Thạch không thành.

Ngày 29 tháng 11 năm 1788, trên đường tiến quân ra Thăng Long diệt quân Thanh, Nguyễn Huệ có cuộc hội kiến thứ hai với Nguyễn Thiếp. Quang Trung hỏi ông kế đánh giặc, Nguyễn Thiếp hiến kế : « quân quý thần tốc ». Sách Lê quí Kỷ sự chép : « Ngày 29, Huệ đến Nghệ-an, nghỉ binh. Triệu Nguyễn Thiếp đến hỏi phương-lược. Thiếp nói : « Người Thanh ở xa tới, mệt nhọc, không biết tình-hình khó dễ thế nào, thế nên chiến thủ thế nào. Vả nó có bụng khinh-địch. Nên đánh gấp đi thì không ngoài mười ngày sẽ phá tan. Nếu trì-hoãn một chút thì khó lòng mà được nó. » (130). Nguyễn Huệ hành quân thần tốc, ngày 20 tháng chạp đến Tam Điệp, ngày 30 tháng chạp Quang Trung hạ lệnh xuất quân, hẹn quân sĩ sẽ ăn tết ở Thăng Long ngày mồng 7, nhưng ngày mồng 5 quân Tây Sơn đã giành chiến thắng ở kinh thành, sớm hơn cả dự định. Về sau trong một bức thư gửi Nguyễn Thiếp, Quang Trung có viết : « Trẫm ba lần xa-giá Bắc-thành, Tiên-sinh chịu ra bàn chuyện thiên-hạ. Người xưa bảo rằng : « Một lời nói mà dấy nổi cơ-đồ ». Lời Tiên-sinh hẳn có thế thật ». (131) Theo nhận định của Hoàng Xuân Hãn, phương kế của Nguyễn Thiếp đã góp phần vào chiến thắng oanh liệt của Nguyễn Huệ.

Về sau, nể tấm lòng trọng hiền tài của Nguyễn Huệ, La-sơn Phu-tử nhận lời làm viện trưởng viện Sùng chính, nhưng làm việc tại nơi cụ ở ẩn, tại núi Thiên Nhận (Nghệ An). Nhiệm vụ của Sùng chính viện là dịch sách Tàu sang tiếng ta, để phục vụ cho việc dạy học. Nguyễn Huệ lập Sùng chính viện có lẽ để thực hiện một trong nhũng lời khuyên của Nguyễn Thiếp dành cho ông, trong cương vị là vua một nước, liên quan đến việc học : tránh học từ chương (học từ chương là học để làm quan, cầu danh lợi, chỉ dẫn đến “Chúa tầm thường, tôi nịnh hót. Quốc phá gia vong”), mà phải có chính-học, nghĩa là « học cho rộng rồi ước-lược cho gọn, theo điều học biết mà làm. Họa may nhân-tài mới có thể thành-tựu ; nhà nước nhờ đó mà vững yên » (Trích bản tấu của Nguyễn Thiếp gửi Quang Trung, ngày mười…(không rõ ngày mười mấy) tháng 8 năm 1791, LSPT, tr.146).

Và trong tờ chiếu của Quang Trung về việc lập Sùng chính viện, nhà vua viết: “Trẫm định đặt Sùng-chính thư-viện ở Vĩnh-kinh, tại núi Nam-hoa; ban cho ông làm chức Sùng-chính-viện viện-trưởng. Cho ông hiệu La-sơn Tiên-sinh và giao cho ông chuyên coi việc dạy. Nhất định theo phép học Chu-tử, khiến cho nhân-tài có thể thành-tựu, phong-tục trở lại tốt đẹp” (Trích tờ Chiếu của Quang Trung, ngày 20 tháng 8 năm 1791, LSPT, tr.148). Lời lẽ của Quang Trung ở đây có lặp lại đúng lời của Nguyễn Thiếp trong bản tấu. Ta thấy, Quang Trung ra chiếu lập Sùng chính viện chưa đến mười ngày sau khi Nguyễn Thiếp dâng tấu. Nguyễn Huệ làm gì cũng thần tốc. Về việc Quang Trung giao hẹn La-sơn Phu-tử trong vòng ba tháng phải dịch xong ba kinh “Thi, Thư, Dịch”, Hoàng Xuân Hãn bình luận: “Đó chắc vì Quang-trung muốn đọc gấp. Quang-trung lại bảo dịch gấp kinh “Thi” trước để mình xem. Thế tỏ rằng ông đại-tướng không chỉ thượng-võ, mà trong sự hiếu-học cũng như trong mọi việc khác, Quang-trung muốn chóng thành công” (153)

Sùng chính viện được mở cũng có thể xem như là một cách Nguyễn Huệ tiếp thu lời khuyên của Nguyễn Thiếp về vấn đề Quân đức (đức của vua). Trong bản tấu trên đây, Nguyễn Thiếp đưa ra ba lời khuyên trọng yếu trong đó thứ nhất là: “1) Một là bàn về quân-đức. Vua dốc một lòng tu đức, ấy là gốc của vạn sự. […] Từ xưa thánh hiền chưa có ai không bởi sự học mà có đức”.(144) Như vậy La-sơn Phu-tử quan niệm rằng đạo đức chỉ có thể xây dựng trên cơ sở học vấn. Phải chăng đấy là lý do khiến Nguyễn Huệ cấp tốc cho xây dựng Sùng chính viện, cho dịch sách Tàu, và nôn nóng muốn đọc kinh thư, muốn xây dựng học vấn của bản thân và phổ biến học vấn cho con dân của mình?

Câu hỏi đặt ra là : Vì sao Nguyễn Huệ bị từ chối nhiều lần mà vẫn đặt lòng tin vào Nguyễn Thiếp, vẫn tin rằng ông ấy thực bụng giúp mình đánh quân Thanh và giúp mình lãnh đạo quốc gia? Nếu không tin đã không hỏi, mà có hỏi thì cũng sẽ không nghe theo.

Để trả lời câu hỏi này, tôi sẽ quay trở lại với thực trạng sử dụng năng lực trí tuệ của chúng ta hiện nay. Đôi khi thực tế đương đại lại có thể giúp chúng ta tìm thấy câu trả lời cho những vấn đề trong quá khứ.

(Paris, ngày 4/8/2014)

Phần 2

Nếu không tin đã không hỏi, mà có hỏi thì cũng sẽ không nghe theo.

Tôi nhắc lại câu này, đã viết ở đoạn cuối của phần trước về thái độ trọng tài của Nguyễn Huệ đối với Nguyễn Thiếp, để nối sang hai sự kiện có lẽ vẫn còn chưa mất tính thời sự: hiến pháp Việt Nam năm 2013, và giàn khoan Trung Quốc 981. Và từ hai sự kiện này để nói thêm một vài điều về thực tế sử dụng nguồn năng lực trí tuệ hiện nay; mặc dù hiện tượng chảy máu chất xám ở Việt Nam đã trở thành báo động, chẳng ai lạ gì, báo chí, các diễn đàn, các hội thảo, các nghiên cứu… đã nói mãi, nói từ lâu, mà chẳng thay đổi được gì.

Trước khi đề cập tới những chuyện này cần nhắc lại một ví dụ nữa về thái độ cầu hiền trong lịch sử Việt Nam. Đó là trường hợp của Nguyễn Trãi, một nhân vật chủ chốt trong công cuộc chống quân Minh¨giành độc lập dân tộc. Trong “Chiếu cầu hiền tài” do Nguyễn Trãi soạn thay Lê Lợi, có một tư tưởng rất hiện đại, đó là khuyến khích những người có tài năng tự tiến cử. Nguyễn Trãi viết:

“Tuy nhiên, người tài ở đời vốn không ít, mà cầu tài không phải chỉ một đường, hoặc người nào có tài kinh luân mà bị khuất ở hàng quan nhỏ, không ai tiến cử, cùng người hòa kiệt náu ở nơi đồng nội, lẩn ở hàng binh lính, nếu không tự mình đề đạt thì trẫm bởi đâu mà biết được ! Từ nay về sau, các bực quân tử, ai muốn đi chơi với ta đều cho tự tiến. Chiếu này ban ra, phàm các quan liêu đều phải hết chức vụ, tiến cử hiền tài. Còn như những kẻ sĩ quê lậu ở xóm làng, cũng đừng lấy điều « đem ngọc bán rao » làm xấu hổ, mà để trẫm phải than đời hiếm nhân tài.”

Bản thân Nguyễn Trãi cũng đã hành xử đúng như vậy. Khi Lê Lợi dấy binh, ông không đợi được mời, mà tự mình, cùng với Trần Nguyên Hãn, tìm đến Lam Sơn xin gia nhập nhóm khởi nghĩa, và ông cũng chủ động tự dâng Bình Ngô sách cho Lê Lợi, cùng Lê Lợi đánh thắng giặc Minh; dù rằng để rồi sau khi thắng lợi Trần Nguyên Hãn bị Lê Lợi hại chết và Nguyễn Trãi bị Lê Lợi bỏ tù, rồi về sau còn bị tru di tam tộc, bản án oan thảm khốc mà tất cả chúng ta đều biết.

Nguyễn Trãi kêu gọi những người có năng lực hành động theo ý thức trách nhiệm của mình, không cần phải câu nệ vào sự khiêm tốn.

Ngày nay năng lực trí tuệ đang được sử dụng như thế nào

Trở lại với câu chuyện hiến pháp 2013. Các trí thức đương thời được mời “góp ý kiến” cho dự thảo hiến pháp sửa đổi. Chủ trương đăng công khai trên các phương tiện truyền thông chính thống, ngoài ra các cuộc họp lấy ý kiến được tổ chức trên toàn quốc, và chủ trương đó được tương đối đông đảo trí thức đáp ứng.

Ngoài ra một số trí thức đã chủ động viết các bản góp ý, gửi trực tiếp đến Văn phòng Quốc hội. Họ không lựa chọn cách hành xử của Nguyễn Thiếp, mà chọn thái độ mà Nguyễn Trãi kêu gọi. Dĩ nhiên họ không tự tiến cử bản thân (Nguyễn Trãi khuyến khích người có năng lực tự tiến cử, nhưng bộ máy lãnh đạo hiện nay thì không, chẳng ai có thể tự tiến cử, chỉ có đảng mới có quyền lựa chọn và chỉ định). Họ chỉ đề xuất các ý tưởng, kèm theo các phân tích duy lý về việc vì sao họ có các đề nghị đó. Nhiều ý kiến được đưa ra trong đó tiêu biểu là kiến nghị 72 (bản kiến nghị này đã trở thành nổi tiếng, có thể dễ dàng tìm thấy trên google, nên không cần phải nhắc lại cụ thể ở đây).

Khác với Quang Trung, những người điều hành đất nước ngày nay hỏi mà không nghe, không thực hiện. Theo một số phân tích, bản hiến pháp được Quốc hội thông qua năm 2013 còn tệ hơn cả bản Dự thảo sửa đổi hiến pháp được ban hành năm 2012.

Tại sao phải sửa đổi hiến pháp vào thời điểm đó? Và tại sao phải thông qua hiến pháp một cách vội vã như vậy? Hoặc đặt câu hỏi theo cách khác: động cơ sửa đổi hiến pháp là gì? Câu trả lời trên truyền thông chính thống là: “Sửa đổi Hiến pháp 1992 để tạo đà cho sự phát triển của đất nước”. Chúng ta đã thấy sau khi hiến pháp 2013 ban hành đất nước đã “phát triển” như thế nào(!)…

Trong thực tế, bất chấp sự phản đối mạnh mẽ từ dân chúng, điều 4 đã được bảo lưu, và hai điểm mới quan trọng nhất, không có trong hiến pháp 1992, được Quốc hội và ban soạn thảo bằng mọi giá đưa vào hiến pháp 2013 là hai điểm liên quan đến sở hữu toàn dân (điều 53), và quân đội (điều 65): đảng được đưa lên thành đối tượng phục vụ của quân đội, đối tượng mà quân đội phải thể hiện lòng trung thành (điều này hoàn toàn không tồn tại trong các bản hiến pháp trước đó)

Nếu theo dõi một số mốc thời gian, ta sẽ thấy:

Hiến pháp mới được thông qua ngày 28-11-2013.

Ít lâu sau, từ ngày 10 đến ngày 12-3-2014 đã diễn ra Chương trình giao lưu hữu nghị quốc phòng biên giới Việt – Trung tại hai thành phố giáp biên là Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh và Đông Hưng, tỉnh Quảng Tây. Các báo chính thống đưa tin về sự kiện này đều khẳng định “tình hữu nghị thắm thiết” giữa Việt Nam và Trung Quốc, giữa quân đội hai nước, khẳng định mối quan hệ hợp tác chiến lược toàn diện của hai nước trên cơ sở 16 chữ vàng và 4 tốt.

Và chỉ hơn một tháng sau khi trình diễn màn kịch cảm động đó của quân đội hai nước, vào ngày 3-5-2014, Trung Quốc đã chứng minh “tình hữu nghị thắm thiết” này bằng cách đưa giàn khoan 981 cắm vào vùng đặc quyền kinh tế Việt Nam.

Như nhiều người đã phân tích, một trong các ý nghĩa biểu tượng của giàn khoan 981 là ở chỗ Trung Quốc muốn khẳng định chủ quyền của mình ngay trên vùng lãnh hải của Việt Nam. Giàn khoan 981 đã được sử dụng như một lá cờ của Trung Quốc.

Hiến pháp 2013 có thể liên quan gì đến việc này?

Điều 65 của hiến pháp 2013 cho phép Quân đội Việt Nam đặt việc bảo vệ đảng thành một trong những nhiệm vụ hàng đầu của mình. Xin nhắc lại, đây là điểm mới đưa vào so với các hiến pháp trước đó. Những người có chút suy nghĩ nhìn thấy ngay sự nguy hiểm của một quy định như vậy khi nó được thể hiện ở điều 70 của dự thảo sửa đổi hiến pháp 1992 (“Lực lượng vũ trang nhân dân phải tuyệt đối trung thành với Đảng cộng sản Việt Nam, Tổ quốc và nhân dân”), nên đã vô cùng lo lắng và tha thiết, mạnh mẽ đề nghị hủy bỏ nó, trong đó có cả tướng quân đội là ông Nguyễn Trọng Vĩnh. Có những người đã chấp nhận thỏa hiệp với việc giữ điều 4 của hiến pháp để đòi bỏ bằng được điều luật ấy về quân đội. Tuy nhiên, tất cả những ý kiến, những lo lắng và tâm huyết của tướng lĩnh, trí thức và nhân dân đều không có giá trị đối với những người soạn thảo và thông qua hiến pháp. Điều 70 của dự thảo sửa đổi hiến pháp trở thành điều 65 của hiến pháp 2013, quy định quân đội phải tuyệt đối trung thành với đảng, với một chút nhượng bộ về câu chữ, xếp đảng sau tổ quốc và nhân dân, nhưng về bản chất không có gì thay đổi, vì đảng nắm quyền lãnh đạo tuyệt đối.

Giả định rằng, đảng, trong tư cách là bộ phận lãnh đạo đất nước tuyệt đối và toàn diện (tư cách này được quy định ở điều 4 của hiến pháp), vẫn cương quyết con đường “hợp tác chiến lược toàn diện”, giữ “mười sáu chữ vàng, bốn tốt” với Trung Quốc, và đặt sự tồn vong của đảng lên trên sự tồn vong của quốc gia, thì quân đội dĩ nhiên phải bảo vệ quyết định ấy của đảng. Hiến pháp muốn rằng quân đội phải tuyệt đối trung thành với đảng. Vậy, câu hỏi cần đặt ra là: “Ai là người thực sự muốn đưa một điều khoản như điều 65 vào trong hiến pháp? Ai là người được lợi nhất từ điều 65 này? Ai là người thực sự muốn nhanh chóng thông qua một hiến pháp như vậy?”. Theo logic thì câu trả lời là : đảng, dĩ nhiên ở Việt Nam chỉ có một đảng. Nhưng câu hỏi chưa dừng lại đó: ngoài đảng cộng sản Việt Nam ra, còn ai muốn áp đặt một điều khoản như thế vào hiến pháp Việt Nam?

Chỉ một thời gian ngắn sau khi hiến pháp 2013 được thông qua, Trung Quốc cho đặt giàn khoan 981. Trước một sự xâm hấn quá hiển nhiên như vậy, trước việc quốc thể bị làm nhục đến như vậy, rất nhiều nhóm người Việt Nam khác nhau đã đồng loạt có hành động phản ứng, bằng nhiều hình thức khác nhau. Và các trí thức Việt Nam một lần nữa chọn cách ứng xử của Nguyễn Trãi, tự nguyện đóng góp ý kiến cho lãnh đạo, tiêu biểu nhất là những người đề xuất kiến nghị kiện Trung Quốc ra tòa án quốc tế, và những người đề xuất các biện pháp thoát Trung [mở ngoặc bình luận thêm: xét về mặt chữ nghĩa, so với “Bình Ngô sách” ngày xưa, thì “thoát Trung sách” (nếu có) ngày nay, ở một vị thế kém chủ động hơn nhiều, nó cho thấy, trong việc giải quyết mối tương quan với Trung Quốc, bản lĩnh và tài năng của trí thức chúng ta ngày nay kém hơn tiền nhân của chúng ta ngày xưa rất nhiều.]

Và một lần nữa, cũng như các góp ý cho hiến pháp, các nỗ lực đóng góp về trí tuệ trong vụ giàn khoan đã không được sử dụng. Trong khi thượng viện Mỹ ở đâu xa xôi bên bờ Đại Tây Dương ra nghị quyết về Biển Đông thì Quốc hội Việt Nam, Quốc hội của đất nước đang bị xâm lăng, không ra nổi một nghị quyết. Giàn khoan đã được rút đi, nhưng điều đó không có nghĩa là Trung Quốc sẽ dừng lại.

Nếu lãnh đạo không đủ hiểu biết, không đủ trách nhiệm và không đủ tự do để sử dụng những người có năng lực trí tuệ và các thành quả của trí tuệ thì tất yếu sẽ không giải quyết được các vấn đề của đất nước. Nếu cơ chế chính trị và cơ chế quản lý không cho phép những người có năng lực đứng vào vị trí của họ, đồng thời lại đặt những người không đủ năng lực vào vị trí không phải của họ, thì hậu quả tất yếu sẽ là sự suy thoái toàn diện của quốc gia. Việt Nam hiện nay đang ở vào tình trạng như vậy.

Nhìn các động thái gần đây của Trung Quốc thì có vẻ như họ cho rằng đã tới hồi cuối của tiến trình đưa Việt Nam và quỹ đạo của Trung Quốc. Cái quỹ đạo này thì không phải là suy đoán, mà có thể chứng minh được qua hàng loạt vụ việc: Hoàng Sa, Trường Sa, bô-xít Tây Nguyên, Vũng Áng Hà Tĩnh, thuê rừng đầu nguồn, các hợp đồng kinh tế, các hợp đồng xây dựng, sự phổ biến của hàng lậu và các sản phẩm văn hóa Trung Quốc… Và có cả hội nghị Thành Đô.

Có vẻ như Trung Quốc đánh giá rằng tình trạng Việt Nam đã chín muồi cho Trung Quốc tiến tới xác lập một cách công khai vị thế của họ đối với Việt Nam. Đấy chẳng phải là một trong những ý nghĩa của giàn khoan 981 mà nhiều người đã nói đến hay sao ? Sau giàn khoan 981 là gì, những người dân Việt Nam không (hoặc chưa) biết được. Cũng như người dân Việt Nam vẫn chưa biết được nội dung thỏa thuận của hội nghị Thành Đô và các hệ lụy cùng với thỏa thuận đó.

« Những người bình thường không biết rằng mọi việc đều có thể ». Tôi dẫn lại câu này của David Rousset mà Hannah Arendt dùng làm lời đề từ cho một chương trong cuốn « Hệ thống toàn trị » (Le système totalitaire).

Người dân bình thường chúng ta hàng ngày vẫn đọc câu khẩu hiệu chăng trên các đường phố: « Đảng cộng sản Việt Nam – người tổ chức và lãnh đạo mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam », nhiều người vẫn còn tin vào điều đó. Người dân bình thường không biết rằng Việt Nam liệu có bị biến thành một tiểu khu của Trung Quốc, như một số người đang lo lắng vì một thông tin trên tờ Hoàn cầu Thời báo mà chính phủ Việt Nam cho đến nay không hề cải chính. Chúng ta quả thật biết được quá ít về những quyết định liên quan đến đất nước, nghĩa là liên quan đến chính số phận của mỗi chúng ta.

Nhưng chúng ta biết rằng chất xám đang chảy máu ồ ạt, các nguồn lực trí tuệ bị lãng phí trầm trọng và bị hủy hoại không thương tiếc, các ý kiến tâm huyết bị vứt vào sọt rác. Và có chuyện đó là vì đảng, nhà nước, chính phủ không quý trọng năng lực trí tuệ, và không tin ở người dân của mình, luôn có xu hướng nhìn người dân thành ra kẻ thù, thành ra những kẻ phản động. Những người có suy nghĩ khác với đường lối của đảng thì ngay lập tức có thể bị quy thành phản động, và điều này được áp dụng đối với cả người trong đảng, chứ không riêng gì người ngoài đảng.

Nguyễn Huệ xưa kia, bất chấp Nguyễn Thiếp nhiều lần từ chối (không chỉ ba lần từ chối thư mời làm việc, mà còn những lần khác từ chối xem đất, từ chối bổng lộc…) vẫn tin rằng La sơn Phu tử sẽ giúp mình đánh ngoại xâm, và sẽ giúp mình quản lý tốt đất nước. Bởi cả hai người đó hiểu rằng cả hai đều hành động vì lợi ích của dân tộc. Nguyễn Thiếp có thể từ chối hợp tác với Nguyễn Huệ khi cho rằng sự hợp tác đó sẽ phục vụ cho lợi ích của Nguyễn Huệ, và làm phương hại đến nhà Lê. Nhưng khi nhà Lê đã bán nước cầu vinh, và hiểu rõ Nguyễn Huệ hành động vì đất nước, Nguyễn Thiếp đã hiến kế thật lòng, đã thật lòng viết các bản tấu đưa ra các lời khuyên cho bậc quân vương trong thuật trị nước. Còn Nguyễn Huệ tin Nguyễn Thiếp vì chính sự từ chối của bậc nho sĩ đã chứng tỏ nhân cách và tầm cỡ của ông, con người như thế không thể không hành động vì nước, vì dân.

Còn trong xã hội ngày nay, những người có nhân cách và có viễn kiến lại là mối đe dọa đối với hệ thống. Bởi hệ thống được vận hành và được duy trì dựa trên sự tha hóa của con người, dựa trên sự yếu kém, sự thiếu hiểu biết và sự sợ hãi của con người. Chúng tôi sẽ trở lại vấn đề này vào một dịp khác. Ở đây chỉ nói ngắn gọn rằng: những ý kiến đóng góp nhằm làm lợi cho quốc dân, nhằm làm cho đất nước giàu mạnh lại trở thành nguy hiểm cho sự tồn tại của hệ thống, hay nói cách khác là nguy hiểm tới sự tồn tại của đảng cầm quyền, và ảnh hưởng tới lợi ích vật chất trước mắt của một số người và một số nhóm đang có quyền quyết định, ở mọi cấp độ xã hội, và mọi lĩnh vực xã hội. Đấy là lý do sâu xa khiến chất xám bị ruồng bỏ, trí tuệ bị kìm hãm, hậu quả là sức mạnh quốc gia bị hủy hoại.

Tuy nhiên, tình thế nguy ngập lúc này đặt những người lãnh đạo hiện nay trước những lựa chọn mang tính quyết định: hoặc là kiên trì giữ vững hệ thống để rồi lệ thuộc vào Trung Quốc, hoặc là phá vỡ hệ thống, tiến hành cải cách để giữ độc lập dân tộc và phát triển đất nước. Lãnh đạo Việt Nam sẽ chọn điều gì?

Cuối cùng, phải chịu trách nhiệm về tất cả các vấn đề đã nói ở trên không chỉ có những người quản lý, chính phủ và đảng, dĩ nhiên đảng phải chịu trách nhiệm lớn nhất và cao nhất, vì đảng giành quyền lãnh đạo toàn diện và trực tiếp, và người của chính phủ cũng là người của đảng, người đứng ở vị trí quản lý các cấp cũng là người của đảng. Mà nhìn chung, trách nhiệm thuộc về tất cả mọi người, về toàn bộ cộng đồng. Đây sẽ là chủ đề của bài tiếp theo.

(Paris, 15/8/2014)

Phần 3

Bài trước đề cập đến trách nhiệm của hệ thống quản lý, bộ máy lãnh đạo và cơ chế chính trị trong việc hủy hoại nguồn năng lực trí tuệ, khiến cho đất nước không thể nào phát triển được trong một thời đại mà chất xám là yếu tố chính làm nên sức mạnh của các cá nhân và các quốc gia.

Bài này nói đến trách nhiệm của cộng đồng chung, tức là của mỗi cá nhân đối với việc năng lực trí tuệ bị kìm hãm và mất mát.

Nguồn lực chất xám hiện nay bị lãng phí theo nhiều cách. Tôi tạm phân loại như sau.

Chảy máu chất xám ra nước ngoài : những người có năng lực buộc phải ra đi, tìm công việc ở nước ngoài, một số lưu vong (vì ở lại cũng sẽ hoặc ngồi tù hoặc bị vô hiệu hóa, trường hợp của các trí thức miền Nam từng làm việc dưới chính quyền Sài Gòn trước 75, trường hợp của các trí thức miền Bắc đấu tranh cho tự do tư tưởng, như Dương Thu Hương, Phạm Thị Hoài, hoặc muốn được sống và làm việc trong môi trường tự do, như họa sĩ Nguyễn Đai Giang…, chỉ xin kể một vài trường hợp làm ví dụ), một số chủ động ra đi để tìm cách bảo vệ và phát triển năng lực của họ (trong số này phải kể đến rất nhiều lưu học sinh học xong không về nước, có một số trở về nhưng rồi lại phải tìm cách ra đi, do không muốn năng lực của mình bị chết mòn vì miếng cơm manh áo).

Chảy máu chất xám khu vực : những người có năng lực rời khu vực nhà nước chuyển sang làm việc cho các tổ chức tư nhân hoặc công ty nước ngoài đóng ở Việt Nam.

Chảy máu chất xám tại chỗ : những người có năng lực làm việc trong khu vực nhà nước hoặc tư nhân không thể phát triển được các năng lực của mình, trái lại những năng lực đó cùn mòn, mất mát dần cùng với thời gian. Theo tôi, thất thoát năng lực trí tuệ theo hình thức này là vô cùng lớn và góp phần quan trọng dẫn đến mọi tình trạng trì trệ hiện nay. Sự xói mòn trí tuệ thường nhật, ngày này qua ngày khác. Đây là sự lãng phí kinh khủng nhất, đau đớn nhất, và tủi nhục nhất.

Ngoài ra còn có thể kể đến một số trường hợp bị ngồi tù, và sau khi ra tù bị vô hiệu hóa, hoặc bị vô hiệu hóa bằng cách cô lập, theo dõi, không cho làm việc, tài năng bị hủy diệt một cách đau xót. Những ví dụ mà giờ đây không ai có thể phủ nhận được : Trần Đức Thảo, Nguyễn Mạnh Tường… gần đây có Phạm Minh Hoàng.

Và sự trù dập, trừng phạt đối với họ đã tạo ra một làn sóng sợ hãi lan ra cả toàn bộ xã hội, đặt tất cả mọi người vào tình trạng sợ hãi, cái tình trạng khiến cho các khả năng của trí tuệ không thể nào phát triển được, khiến cho người ta chỉ còn nghĩ, nói và viết những gì « được phép », « an toàn ». Đây là cách thức hủy hoại năng lực trí tuệ ghê gớm nhất và « hiệu quả » nhất. Trong cái khung « được phép » và « an toàn » đó, mọi khả năng phát minh và sáng tạo đều có thể tiêu biến hết.

Phần lớn các bài viết về vấn đề này tập trung các lý giải vào trách nhiệm quản lý của nhà nước, của cơ chế, của các chính sách cụ thể (những lý do này được phép xuất hiện trên báo chính thống), hoặc tập trung vào nguyên nhân cốt lõi nằm ở tính độc tài của hệ thống chính trị độc đảng (lý do này chủ yếu xuất hiện trên truyền thông lề dân). Các lý giải ấy, từ phương diện quản lý và lãnh đạo, theo tôi, đều rất đúng, và đã đề cập phần nào ở bài trước, nên không lặp lại ở đây nữa. Nếu có thể nói thêm điều gì thì đó là : thực tế quản lý hiện nay cho thấy, cơ chế đảng trị không chỉ gây ra hiện tượng chảy máu chất xám trên toàn cục, mà ngay cả một số người bộc lộ ra là có tư tưởng dân chủ thì khi đứng ở cương vị quản lý một đơn vị họ cũng không thu hút được những người có năng lực, hơn thế, họ cũng làm chảy máu chất xám như thường. Một vài người có khả năng trong công việc dù rất muốn hợp tác, kể cả chấp nhận thiệt thòi, nhưng cũng không thể hợp tác được với họ. Và lý do vẫn là bởi cách điều hành mang tính « cộng sản » (tức là thiếu dân chủ, và thiếu năng lực quản lý) của họ mà họ không tự nhận thấy.

Trong bài này, tôi bổ sung thêm, hoặc đúng hơn là nói rõ thêm (vì cũng có một số người đã đề cập đến khía cạnh này hay khía cạnh kia của vấn đề) về một nguyên nhân khác. Nguyên nhân đó là : cộng đồng chung đã không ủng hộ và không bảo vệ (hoặc không bảo vệ nổi) những người có năng lực.

Đối với môi trường làm khoa học như các trường đại học hay viện nghiên cứu, phần lớn những người có năng lực ra đi (và thường là ra nước ngoài, hoặc ra làm việc ở khu vực tư nhân và thường là trường hợp này phải bỏ chuyên môn ) là bởi họ không thể làm chuyên môn với chế độ lương hiện tại. Với mức đãi ngộ như hiện nay họ không thể sống được, chứ đừng nói làm nghiên cứu hay sáng chế. Và để làm chuyên môn đòi hỏi họ phải tập trung thời gian và công sức, họ sẽ không có thời gian để làm thêm những công việc khác để kiếm thêm thu nhập. Muốn phát triển chuyên môn, chẳng có cách nào khác là phải ra nước ngoài.

Một nguyên nhân quan trọng khiến những người có năng lực ra đi : họ ra đi để bảo vệ nhân phẩm của họ. Bởi họ không muốn thỏa hiệp với môi trường chung, cái môi trường không ủng hộ họ, nếu họ muốn giữ nhân cách. Nếu họ thỏa hiệp với môi trường (mà người ta có thể dùng một thứ ngôn từ mỹ miều để đòi hỏi họ : « nhập gia tùy tục »), nghĩa là họ sẽ phải bằng lòng để cho nhân cách của mình tha hóa, để cho nhân phẩm của mình bị xúc phạm bởi chính mình. Nhẽ ra phải cùng nhau đòi tăng lương cho xứng đáng với công việc và phẩm giá của mình, thì tất cả đều chấp nhận mức lương phi lí, mức lương chết đói, đồng thời lại chấp nhận làm những việc khiến cho đạo đức suy đồi, năng lực chuyên môn giảm sút, để có thể sống sót (hay thậm chí làm giàu), và lấy cái « tinh thần » « nhập gia tùy tục » buộc tất cả mọi người cùng phải tha hóa, và như thế thì sẽ tạo nên cả một tập thể tha hóa. Nhiều tập thể tha hóa cộng lại sẽ tạo thành cả một xã hội tha hóa. Những người có một chút tự trọng, một chút ý thức về giá trị và nhân phẩm của bản thân, sẽ không chịu đựng nổi điều đó. Nói cách khác, họ ra đi vì muốn được làm người.

Tôi chỉ lấy một ví dụ rất nhỏ, một ví dụ giữa hàng ngàn vạn ví dụ trong công việc hàng ngày của một giảng viên đại học. Còn những ví dụ trầm trọng hơn, độc giả có thể tìm thấy dễ dàng trên báo chí và truyền thông các loại.

Bạn tham gia vào một hội đồng chấm luận văn thạc sĩ, bạn đánh giá rằng luận văn đó rất kém, không đáp ứng trình độ thạc sĩ, và bạn thấy độ lượng lắm thì có thể cho 4 điểm, và bạn dự định sẽ cho luận văn đó 4 điểm. Nhưng bạn sẽ làm thế nào khi người hướng dẫn luận văn nhất định cho rằng đó là một luận văn khá, và cho 8 điểm, và đồng thời cả hội đồng cũng nhất trí cho luận văn đó vào loại khá, tức là trên 6 điểm, và nhất là khi chủ tịch hội đồng lại là một giáo sư được cho là có uy tín về chuyên môn cũng đồng ý như vậy ? Đó là chưa kể đến trường hợp ông giáo sư đó còn là thầy của bạn, và các thành viên hội đồng cũng là thầy cô của bạn. Chỉ có hai khả năng : bạn giữ nguyên điểm 4 và làm mất lòng tất cả hội đồng, hoặc bạn thỏa hiệp với hội đồng, cho luận văn đó đạt chuẩn. Nhưng dù sao, một mình bạn cho điểm 4 thì luận văn vẫn được thông qua vì hội đồng sẽ lấy điểm trung bình cộng. Và bạn chẳng có cách nào khác là phải chấp nhận cái kết quả được đa số tán thành ấy. Kết quả ấy cũng đồng nghĩa với việc một bằng dởm sẽ được cấp hợp pháp. Và bạn sẽ chẳng làm được gì hết, trừ phi bạn đưa việc đó lên báo. Nhưng nếu bạn đưa việc đó ra công luận thì bạn sẽ không thể nào làm việc tiếp với tập thể đó được nữa. Người ta sẽ lập tức quy cho bạn cái tội « nói xấu tập thể ». Bạn sẽ bị cô lập bởi chính cộng đồng trong đó bạn làm việc. Từ ví dụ này ta thấy rõ cộng đồng đang ủng hộ cái gì, và tẩy chay cái gì. Làm sao xã hội có thể có được nhiều bằng dởm đến thế nếu các hội đồng khoa học tại các trường đại học không đồng ý thông qua các luận văn kém chất lượng ? Làm sao có bằng tiến si 200 triệu nếu các hội đồng khoa học không chấp nhận điều đó ? Có các tiến sĩ dởm, các bằng cấp dởm là do có sự ủng hộ của tất cả mọi người ở tất cả các cấp trong hệ thống.

Một người có ý thức về nhân phẩm, trọng sự trung thực không thể nào tồn tại trong môi trường đó mà có thể tự cảm thấy yên ổn được. Và thế là người đó sẽ ra đi. Nhiều người mà tôi đã tiếp xúc ở trong trường hợp tương tự.

Còn nhiều người thì không thể chấp nhận nổi ngay từ ngưỡng cửa vào cơ quan, nếu họ phải xin xỏ, chạy chọt, bị đặt vào một tình thế : trả nhiều trăm triệu đồng để thu về mỗi tháng từ ba đến bốn triệu đồng. Cái mà họ không chấp nhận được không chỉ là tình trạng phi lý đó, mà còn là họ không muốn « bán » mình, không muốn tự chà đạp lên nhân phẩm của họ.

Đấy là một ví dụ về những trường hợp phổ biến. Còn có những trường hợp ít phổ biến hơn, nhưng người nào đã lâm vào sẽ cảm nhận rất rõ.

Nếu bạn là nạn nhân của một vụ « thanh trừng » hoặc « đàn áp » với đủ mọi bằng chứng rõ ràng, thì cộng đồng nơi bạn làm việc, hoặc cộng đồng chung, vẫn có thể cho rằng đấy chỉ đơn giản là một « tai nạn nghề nghiệp » hoặc là bạn sai (với đường lối hiện hành) thì bạn phải chịu lấy, một mình. Và cộng đồng vẫn có thể ăn ngon ngủ yên, không cần thấy rằng mình cũng phải có chút ít trách nhiệm với đồng nghiệp. Một ví dụ điển hình là Nhã Thuyên (tôi sẽ còn trở lại với vụ việc này, bởi có thể nhìn thấy rất nhiều điều từ câu chuyện của Nhã Thuyên). Chẳng phải toàn bộ cộng đồng trí thức Việt Nam cho đến hiện nay vẫn không thể nào bảo vệ nổi Nhã Thuyên hay sao ? Đã có một vài phản ứng như thư ngỏ phản đối hiệu trưởng ĐHSPHN, nhưng ông hiệu trưởng này cho đến nay không chịu trả lời, không chịu có bất kỳ hành động sửa sai nào. Bộ Giáo dục cũng không hề có một can thiệp nào trước sự vi phạm luật giáo dục trầm trọng đến như thế. Tóm lại Nhã Thuyên cho đến nay vẫn phải chịu bất công.

Những khả năng mà Nhã Thuyên từng có (thể hiện trên bản luận văn thạc sĩ) liệu có mất đi hay không ? Điều đó một phần phụ thuộc vào lựa chọn và vào ý chí của Nhã Thuyên, và phần quan trọng, phụ thuộc vào việc cộng đồng có làm gì để bảo vệ những năng lực đó hay không. Mở ngoặc để nói rằng, Bakhtin, người đã khiến cho châu Âu và thế giới nể trọng vì những đóng góp cho lý thuyết về thi pháp học, đã bị đi đày ở Xi-bê-ri vì bị kết tội chống nhà nước Xô-viết, nhưng sau đó, từ những năm 50 của thế kỷ trước, ông đã được đứng trên bục giảng đại học của nước Nga, thậm chí còn giữ chức vụ trưởng khoa. Ít ra người Nga đã bảo vệ những tài năng của họ, sau những sai lầm mang tính hệ thống mà không một chế độ cộng sản nào tránh được.

Hơn một nửa thế kỷ sau, Phạm Minh Hoàng, một trường hợp tương tự Bakhtin, không còn có cơ hội ở đại học Việt Nam. Tương tự, đối với Nhã Thuyên giờ đây mọi cánh cửa đại học ở Việt Nam dường như đã đóng lại. Điều mà cộng đồng chuyên môn có thể làm là đấu tranh cho Nhã Thuyên có được một vị trí trong đại học, bằng cách đó mà bảo vệ các năng lực của Nhã Thuyên. Ít ra thì cũng phải có những trường sẵn sàng nhận Nhã Thuyên vào làm việc. Tuy nhiên điều đó đã không xảy ra trong thực tế. Và những người làm chuyên môn trong giới đại học phải chịu trách nhiệm về chuyện này. Chính chúng ta, chứ không phải ai khác, đã góp phần làm hủy hoại năng lực trí tuệ của đồng nghiệp của chúng ta. Chúng ta đứng nhìn người khác bị hủy hoại, đứng nhìn người khác chịu bất công mà không nghĩ rằng phải làm điều gì đó cho họ, cũng tức là cho chính chúng ta.

Cộng đồng chung đã và đang hủy hoại năng lực trí tuệ theo những cách như vậy. Mỗi người đang hủy hoại năng lực của chính mình và của người khác theo những cách thức như vậy.

Hoặc trường hợp khác, giả dụ bạn vì một lý tưởng tiến bộ mà đi ngược lại với cách vận hành trì trệ của cộng đồng, đi ngược lại với các « chuẩn » mà cộng đồng đang tuân theo, có những hành động nhằm bảo vệ công lý và lẽ phải theo quan niệm của bạn, và nếu chẳng may vì thế mà bạn bị rơi vào tình trạng khó khăn (bị chính quyền sách nhiễu hoặc cô lập, chẳng hạn) thì rất có thể bạn sẽ thấy xung quanh bạn đột nhiên nhiều người, bạn bè hay đồng nghiệp, rơi vào tình trạng bận bịu, họ sẽ chẳng có thời gian dành cho bạn nữa. Và dù bạn có một vài khả năng nhất định, bạn được đào tạo bài bản và thậm chí đã có một số thành quả khẳng định năng lực của bạn trong công việc, thì đột nhiên bạn sẽ thấy người ta đối xử với bạn như một người rất kém cỏi, người ta sẽ đẩy bạn xuống hàng những người mới ra trường và kém năng lực, và người ta sẽ đoan chắc với bạn rằng bạn sẽ không thể nào vượt qua được kỳ kiểm tra tối thiểu nhất mà một người mới ra trường cũng có thể vượt qua. Trong số những « người ta » ấy có cả những người đã tỏ ra cùng lý tưởng với bạn. Vì sao vậy ? Vì người ta cần có lý do để cho rằng bạn bị đối xử như vậy là hợp lý, người ta cần có lý do để cùng với chính quyền cô lập bạn, mà lại vẫn không phải là về phe chính quyền. Không ai nhận bạn làm việc là vì bạn kém cỏi, hoặc vì bạn có nhiều nhược điểm (hay gây gổ với đồng nghiệp, chẳng hạn) chứ chẳng phải vì cộng đồng không ủng hộ bạn, chứ chẳng phải vì mọi người sợ gì đâu. Thật tuyệt để có thể ăn ngon ngủ yên khi người khác phải chịu bất công một mình, phải vậy không?

Toàn bộ cộng đồng trí thức (nếu ở Việt Nam có một cộng đồng như vậy, tôi vẫn phải tự hỏi mình rằng ở Việt Nam có một cộng đồng trí thức không, hay cũng chỉ có những phe nhóm giữa những người làm chuyên môn, giống như các phe nhóm giữa những người làm chính trị, mà thôi ?) phải chịu trách nhiệm về tình trạng lãng phí nghiêm trọng về nguồn năng lực chất xám hiện nay, cũng như về mọi vấn đề khác trong xã hội. Bởi tình trạng hiện nay được tạo ra và được duy trì là nhờ chính sự thỏa hiệp của tất cả mọi người, nhờ việc họ chấp nhận tất cả mà không phản ứng, nhờ việc họ tự nguyện làm một bộ phận giúp cho toàn bộ cỗ máy vận hành với sức mạnh hủy hoại của nó, tự nguyện chấp nhận bị hủy hoại bởi chính cái cỗ máy do mình góp phần tạo ra.

Ý thức được điều đó cũng có nghĩa là mỗi cá nhân phải nhận lấy trách nhiệm của mình.

Nếu mỗi người không thấy được trách nhiệm của mình, tức là 90 triệu người này đều không chịu nhận lấy phần trách nhiệm của mình, thì việc một nhóm nhỏ vài chục người có thể khuynh loát toàn bộ xã hội là điều chẳng có gì khó hiểu.

Nói riêng trong lĩnh vực khoa học, và hẹp hơn là trong lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn, những người viết, nghiên cứu cũng như sáng tác, ở thời điểm này, phải hiểu rằng chừng nào còn sự lãnh đạo độc tài của một chính đảng duy nhất (cho dù tên gọi của nó là gì, đảng lao động hay đảng cộng sản…), chừng nào còn tồn tại Hội đồng Lý luận Trung ương, và chừng nào cái Hội đồng này còn là nơi tập hợp của những đại diện tiêu biểu cho sự hạn hẹp cả về kiến thức lẫn về nhận thức và đạo đức nghề nghiệp như Phan Trọng Thưởng, chừng đó còn chưa thể có môi trường cho tự do học thuật và tự do sáng tạo, chừng đó vòng kim cô vẫn tiếp tục siết chặt.

Tuy nhiên, có chịu để cho đầu mình chui vào vòng kim cô đó hay không, có cam chịu đánh mất tự do nghiên cứu và tự do sáng tác của mình hay không, điều đó chỉ tùy thuộc vào từng cá nhân, và mỗi cá nhân phải chịu trách nhiệm, phải tự lựa chọn. Dĩ nhiên, mỗi sự lựa chọn đều có cái giá phải trả. Nhưng không ai có thể đổ tội cho Hội đồng Lý luận Trung ương hay ông Phan Trọng Thưởng hay một ông X, Y, Z nào đó trong việc tự mình tước đoạt tự do của mình.

Trường hợp tác phẩm «Đèn cù » mới đây của Trần Đĩnh là một ví dụ cho thấy rằng tự do nghĩ và viết của mỗi người là do chính mỗi người định đoạt. Trần Đĩnh đã tự quyết định ông ấy viết gì, viết như thế nào, trong thời gian bao lâu, lúc nào thì công bố, và công bố ở đâu. Dĩ nhiên, trong việc đó Hội đồng lý luận Trương và chế độ kiểm duyệt ở Việt Nam không có giá trị một xu đối với ông ấy. Chừng nào mỗi nhà văn, mỗi viên chức, mỗi giáo chức hành động được như Trần Đĩnh, chừng đó Hội đồng Lý luận Trung ương sẽ tự khắc chui vào cái thùng rác lịch sử của nó, không còn giá trị một xu đối với bất kỳ ai.

Những ai còn than phiền và đổ lỗi cho đảng, cho bộ máy đàn áp tư tưởng, cho chế độ kiểm duyệt, những người đó thực sự đã tự hủy diệt chính mình, tự chối bỏ chính mình trong tư cách là một giá trị riêng biệt, tự phủ nhận khả năng tự quyết định của mình, tự từ chối tồn tại với tư cách là một cá nhân độc lập và tự chủ. Nhờ sự tự phủ nhận đó mà bộ máy đàn áp và cơ chế độc tài sẽ tiếp tục tồn tại. Những người đó chỉ còn là một thành phần cấu tạo của đám đông. Nhìn chung xã hội Việt Nam hiện nay, nếu dựa vào định nghĩa của Hannah Arendt mà xét, thì vẫn còn là một xã hội đám đông được cấu thành từ những phân tử trơ ì mất khả năng phản ứng, chứ không phải là một cộng đồng được cấu thành từ những cá nhân có tự do quyết định và tự do hành động, có trách nhiệm đối với người khác và đối với xã hội.

Trở lại với vụ Nhã Thuyên, nếu cả giới đại học và nghiên cứu mà chịu để cho ông Thưởng và vài tay bồi bút không có trình độ chuyên môn khuynh loát đến như vậy, thì phải thấy rằng chúng ta đang yêu nô lệ đến mức như thế nào. Nếu không phải là trong tình trạng yêu sự nô lệ thì cũng là đang trong một tình trạng quá sợ hãi, hoặc quá vô cảm.

Aung San Suu Kyi nói : « Nhà tù đích thực duy nhất, đó chính là nỗi sợ. Và tự do đích thực duy nhất, đó là tự giải phóng khỏi nỗi sợ ». («La seule véritable prison, c’est la peur. Et la seule vraie liberté, c’est de se libérer de la peur.». Trích trong cuốn Aung San Suu Kyi – un portrait en mots et en images)

Cần phải nhìn thấy lỗi của đảng. Nhưng đổ lỗi cho đảng không phải là cách giải quyết vấn đề. Và không thể nào giải quyết vấn đề nếu chỉ ngồi yên nhìn đảng phạm hết lỗi này đến lỗi khác, mà không làm gì cả. Nếu như đảng nhất quyết chỉ nhận phần lãnh đạo toàn diện, triệt để, vĩnh viễn, nhưng lại nhất quyết không chịu nhận trách nhiệm trước các vấn nạn của xã hội và sự yếu kém của đất nước ; nếu đảng không chịu nhận trách nhiệm, thì mỗi một công dân phải nhận lấy cả cái phần trách nhiệm mà đảng đã từ chối. Mỗi một cá nhân phải nhận lấy phần trách nhiệm của mình, trước hết là ở vị trí công việc của mình, sau nữa là đối với môi trường sống của mình, môi trường hẹp và môi trường rộng, tức là đối với đất nước của mình. Nếu không như vậy thì chỉ có mất mát mà thôi : mất đạo đức, mất văn hóa, mất giáo dục, mất nhân phẩm… tức là mất con người, và sau cùng là mất nước.

Việc phái đoàn lãnh đạo cao cấp Việt Nam vừa sang « thần phục » Trung Quốc, việc hơn 10 ngàn lao động nước ngoài trong đó chủ yếu là người Tàu vừa được « tuyển dụng » ở Hà Tĩnh, cho thấy, đúng như nhận xét của André Menras, rằng Trung Quốc đang « đánh dấu lãnh thổ của mình ngay trong lòng Việt Nam! ». Nó cũng cho thấy sự lựa chọn của lãnh đạo đương nhiệm ở Việt Nam: đất nước được sử dụng làm công cụ để phục vụ cho lợi ích cá nhân của những người lãnh đạo và để duy trì quyền lực của đảng cầm quyền. Cùng với dàn khoan 981, những sự kiện hậu giàn khoan đã bộc lộ đầy đủ các triệu chứng của một dân tộc đang bước vào con đường nô lệ.

Giờ đây đã là lúc cấp bách, Việt Nam cần phải có những người dám nhận trách nhiệm lớn đối với đất nước, cái trách nhiệm mà đảng đã và đang từ chối.

Giống như người nông dân Nguyễn Huệ xưa kia đã đứng lên nhận lấy cái trách nhiệm mà các vua triều Lê mạt đã từ chối.

(Paris, 28/8/2014)

Nguyễn Thị Từ Huy
Nguồn: Blog Nguyễn Thị Từ Huy (RFA)

Đã đóng bình luận.