Quỉ đạo

Posted: 17/09/2014 in Hồ Đình Nghiêm, Truyện Ngắn

Hồ Đình Nghiêm

thieu_nu_troi_tren_song

Năm ngoái lên vùng cao, năm nay đổ xuôi về miệt biển. Năm ngoái trú ngụ vùng kinh tế mới vừa khai hoang, đêm nghe vọng tiếng hú lạ thường từ núi rừng ngân nga giữa hun hút bóng tối trùng điệp. Năm nay gửi thân vào làng chài nằm dọc theo một eo biển lặng gió. Chuyến đi thực tế thường kéo dài nguyên tháng, trước kỳ nghỉ hè. Ba mươi ngày tạm biệt phố, đời sống thu hẹp lại với sự chịu đựng những nỗi nhớ, nhớ đèn đường nhớ quán cà phê nhớ con sông đổi màu khi trôi ngang cầu. Nhớ và nhớ. Vụn vặt, lăn tăn. Đi vào đầu những thứ chẳng đáng cất giữ. Bụi bặm của kinh kỳ.

Nhớ chuyến tàu rời sân ga một sáng mưa bụi. Đường sắt song song loáng ướt dẫn vào một quang cảnh tù mù. Tàu chạy, đâm vào những hư ảo. Tiếng còi tàu cũng đâm vào lòng nghe buốt ngọt. Hành trang chẳng nhiều nhặng, một ba lô mua ở chợ trời nhét ba bộ áo quần còn lỏng lẻo, cọ màu nằm chung với gói bột cà phê và nhúm đường cát. Ba lô thì máng sau lưng, tay thì xách một cặp vẽ có bọc bao ny-lông bảo quản chứa những vuông giấy trinh nguyên. Những đứa học trò học bè kỳ dị chậm lụt tìm chỗ giữa bao đồ đoàn của con buôn giàu kinh nghiệm trên chuyến tàu chợ. Họ biết ngang đâu thì sẽ đứng lên để nhận những bao tải từ dưới đất ném vào không sai trật. Họ biết ở khúc quành nào thì sẽ dụt quang gánh xuống. Điểm dừng của họ sẽ bình an, lành lặn tuyến đường băng qua mà không bị bọn thuế vụ gây nhiễu nhương tai hoạ. Nhờ vậy mà họ còn sống thở và con cái họ luôn tô đậm chữ tảo tần, chữ công ơn sinh thành dưỡng dục. Con cái họ sẽ chảy nước mắt khi ngó lên bởi vì họ đã chảy quá nhiều mồ hôi khi cúi xuống.

Nhân nói, chị tao cực lòng lấy một thằng an ninh đường sắt nhằm thong dong những chuyến đi. Người tình mà chị bội bạc đưa ra câu hỏi, vậy thì suốt cả cuộc đời em đều trôi nổi trên những toa tàu? Em mưu sinh hay em mưu cầu hạnh phúc? Tôi nói, tuần trước tao có gặp chị ấy trong chợ trời và dường như chị chẳng muốn ngó thấy tao.

Tôi buông cái ba lô xuống khi tìm được một chỗ ngồi. Ba lô quân đội Hoa kỳ đã cũ xơ, nguyên thuỷ có in sơn đen mẫu tự US ARMY mà trước ngày dùng nó để lên đường tôi đã cạo sửa, bôi che ARMY và điền thêm ở đằng trước ba chữ A TIME FOR. Lần tậu nó vô tình tôi đứng sát người chị của Nhân. Chị đã có lần ngồi yên cho tôi vẽ chân dung và chị đã cho tôi cái khăn mù-soa có thêu tên chị bên góc. Người ta thường dị đoan kiêng cử chuyện trao khăn tay cho nhau, nhưng chị ấy và tôi thì không. Vuông khăn trắng, chất vải mềm mại, thơm tho.Tôi đùa, hãy mang giữ như bùa thiêng rồi dùng nó để lau nước mắt hôm nào chị sang sông. Chị vày vò trái tai tôi, dịu dàng, đớn đau: Không, chị không lấy chồng đâu. Chuyện xưa nhưng không cũ tới độ phải vùi quên. Hôm ấy tôi tính chào nhưng chị ấy giả lơ giả điếc. Hình như khi đã lấy chồng người ta cần thay đổi một số tư duy, đoạn tuyệt tháng ngày quá khứ? A time for us.

Lớp học chúng tôi lần lượt xuống khi tàu dừng ở một nhà ga lộng gió. Mưa đã bị giữ lại bên kia đèo nhưng địa phận này vẫn xám mây. Gió mang theo chút hơi muối mặn và trong tiếng gió lùa ngang hàng cây thưa lá nghe lao xao như thể lời thì thầm của sóng biển sớm vọng một lời chào. Đồng bọn chúng tôi gồm mười ba đứa. Mười trai ba gái. Và nếu học ngoan vẽ đẹp chúng sẽ trở thành những cán bộ thông tin văn hoá đi bất cứ đâu để phục vụ nhân dân. Vẽ làm gì? Vẽ cho ai? Khẩu quyết ấy chúng tôi đã nghe rao giảng đến độ nằm mộng cũng văng vẳng một duột chẳng sờn lòng. Giảng viên chính trị họ bảo: Đào tạo một thằng hoạ sĩ kinh phí tốn kém gấp đôi nếu so với việc xuất xưởng một thằng bác sĩ. Phải nắm lấy điều cơ bản ấy mà phục vụ cho tốt, nhớ? Trong ba mặt trận, mặt trận văn hoá tư tưởng là then chốt. Eo ôi, mùa ra trận mùa này xấu lắm!

Tranh thủ đi đái đi ẻ, cảo dược phì phà đốt khói thuốc rồi chúng ta đợi phà đi sang bên kia đầm. Thằng trưởng lớp loan báo. Mười đực rựa đứng yên tìm hơi ấm nơi đốm lửa đầu môi, riêng ba giống cái thì nháo nhào đi tìm chỗ kín giải quyết bầu tâm sự. Những thị đã điểm tâm gì để bụng dưới tức căng sinh chóng mắc tiểu thế? Nếu đường xa vạn dặm mãi lắc lư con tàu đi, họ giải quyết vấn nạn đó bằng cách nào? Chị của Nhân nói, trong mọi trường hợp thì đàn bà con gái họ giỏi chịu đựng hơn bọn đàn ông con trai, tin không? Tôi tin, tôi từng tin tôi đã tin. Mẹ tôi là một tấm gương. Tao đâu có ba đầu sáu tay gì cho cam. Bà hay than kiểu đó và lời than kia minh chứng rõ một sự cam chịu quá mức tưởng tượng. Mẹ tôi đã mất và tôi đã bơ vơ lạc loài với những đớn đau không ai chia sẻ. Là cuốn tự điển dãi dầu một sớm một chiều bị trái ngang mang đi hoả thiêu.

Đầm đục màu nước lợ, có nghĩa là nửa mặn nửa ngọt do sông giao duyên cùng biển mà tạo nên. Nghe nói tôm cua sò cá trú thân dưới dòng nước pha tạp này thịt thà thảy đều hàng độc ở cái khoản ngon nhức răng, ngọt lừ, không tanh. Mọi loài đều đặc sắc, thịt “hiền”. Có loài cá quen tung tăng biển rộng, khi ăn thịt nó có kẻ ngứa ngáy trúng độc; mà khi chúng lưu lạc vào vùng nước lợ thì biến đổi thân phận, ăn chúng vào chỉ có nước ngậm mà nghe. Nước lợ, nước hai, không chừng là am miếu lớn cho thuỷ sinh vật trú thân an tâm dưỡng tánh. Mới hôm qua anh ác đến dường ấy, ăn vào mữa mật mà hôm nay anh co mình nằm trên bếp riu riu, gắp thịt anh cho vào mồm và miếng cơm, ui chào thiệt ấm bụng cách chi! Cơm với cá như mạ với con chứ chưa nghe ai than van cơm với cá như con với mụ dì ghẻ!

Mỗi đầm phá có riêng cho nó một đặc sản, vùng thì nổi tiếng sò huyết, vùng vang danh cá mú, vùng danh trấn giang hồ cua xanh mực ống hằng hà sa số. Nhưng đầm cau có dưới mạn ghe thuyền đang trôi này nổi tiếng những vụ gieo mình tự tử. Khi người ta tìm tới cái dấu chấm đen tối ấy, đường sống người ta bị dồn vào nơi không lối thoát. Chúng tôi băng qua trên những lượng sóng. Bề mặt của nó thuỷ chung chẳng bao giờ thay đổi, quen thuộc tới độ nhàm nhán bởi sự đơn điệu nó mang. Đi hang cùng ngỏ hẹp thay đổi địa hình ra ta bà thế giới, sóng nước vẫn ngần ấy một dung mạo nhấp nhô. Cái khiến người ta bợn lòng đến thắt ruột là dưới bề mặt kia, trường lưu thuỷ ấy đang chôn dấu niềm bí mật nào?

Đi thực tế có nghĩa là anh va chạm, hoà lẫn vào cuộc sống của dân dã nơi anh nhắm tới với tư trang anh mang: Ba cùng. Cùng ăn, cùng ở, cùng làm. Anh sẽ ghi lại, phát hoạ ra giấy đời sống, tư thế họ lao động để khi đưa vào tranh, điều cần thiết là cái thành quả mà anh vừa thâm nhập phải biểu lộ rõ, đề cao sự vinh quang do lao động mang lại. Và như thế cũng có nghĩa là anh, không khác gì hơn một đứa buộc phải bóp mép sự thật. Anh sáng tạo ra những điều khác hẳn với thực tại đớn hèn mà quần chúng đang nai lưng hứng chịu. Người ta không chấp nhận một bức tranh vẽ nên một cảnh sắc quá đỗi ám tối. Cái đấy là của bọn tư bản dẫy chết, phông màn cảnh quang của chúng ta phải tươi hồng, phải mạnh khoẻ phải rạng rỡ nụ cười tin tưởng vào tương lai sáng lạng dưới màu cờ đỏ thắm ngồn ngộn sức sống. Anh đừng gạn đục khơi trong vướng mắc ý nghĩ quàng xiên do đâu mà cái đầm mênh mang sông nước kia đã có lắm kẻ gieo mình tìm vào một lối thoát bất khả lựa chọn.

Mỗi gia đình thu nhận hai “trò” cho vào ở chung. Nhân và tôi ký gửi trong căn nhà ngói sồi trụt mái rêu phong mà gia chủ là người đàn ông thấp bé đứng ngác ngơ tranh tối tranh sáng như đối mặt với một bản cáo trạng vừa được tuyên xử lấp liếm trước toà án nhân dân. Không bàng hoàng, không buồn bã như gió cát quanh năm ở đây đã đắp lên mặt ông sự dửng dưng tựa vô cảm. Tiếng nói địa phương âm vực rất nặng, khó nghe nhưng điều ấy chẳng làm phiền ai. Tôi cám ơn ông đã chỉ chỗ ngủ tươm tất cho hai đứa. Thường thì đây là nơi tui phơi khô sắn khoai nhưng độ rày mất mùa nên bỏ trống. Muỗi chốn ni to hơn con ruồi đồng, nếu treo mùng thì sẵn cây đinh ở đây, đầu kia thì cột dây vô song cửa.

Cửa nhìn ra một vườn thưa cây, cát trắng ở đó có thể làm người ta hoa mắt trông xanh chanh chua ra cam vàng lớn ngọt. Hai cây cau cao vút với thân khẳng khiu không tạo ra bóng im và một cái giếng có người đàn bà đang ngồi vo áo quần trong cái thau nhựa chứa nước bẩn đục. Con vợ tui. Người đàn ông cho biết. Thằng con trai tui thì theo ghe đi đánh cá chiều mới về. Lạ quá, thời buổi chi mà cá tuồng cũng biết bỏ trốn. Đi cả ngày cuối buổi hắn đem về mô khoảng vài con lớn chỉ bằng ngón chân cái. Lãnh đạo họ nói rừng vàng biển bạc mà tui đời mô tin. Thằng con tui nói bao nhiêu cá lớn thì người quyền thế họ thu mua hoặc dâng lên cho lãnh đạo. Mình không có đầu óc, họ có trí não họ cần bồi dưỡng hơn mình để họ tận tuỵ lao động tìm ra phương án dụ khị cá tôm quay đầu vào vùng biển của mình.

Chữ được chữ mất nói vấp váp như bị ma đuổi nhưng tôi nghe hiểu thông suốt. Nhất là câu cuối: Buồn miệng thì nói năng lung tung rứa thôi, mấy anh đừng đi báo cáo phản ánh cho một ai hay. Con vợ tui cứ đe tui hoài mà chứng nào tật nấy. Nói bỏ lỗi chớ tui điếc mà cũng sợ súng, cái mới khổ! Ông chấm câu bằng một nụ cười, nụ cười của kẻ suốt đời đi tìm bới một niềm vui đã tuyệt mệnh, thôi hiện hữu. Nhân nói tụi mình được lọt vào đây là đúng ổ, giả thử vô đúng một căn hộ tiên tiến thì khó mà làm vịt nghe sấm được, điên đầu chứ không giỡn.

Bữa đầu mới tới lạ nước lạ cái nên cho anh em ngồi định thần, thăm thú vườn tược giao lưu cảm tình và đóng vai người thành phố văn minh biết tôn trọng đời sống riêng tư cũng như của cải bà con đã rộng lòng cho ăn nhờ ở đậu. Tôi ra giếng chào bà chủ nhà. Mấy anh là người ra răng? Bà hỏi mà không ngước mặt lên. Chỉ có hai ba cái áo vải mà dường như bà chăm chú giặt rõ lâu. Tôi thưa với bà tụi con chỉ là học trò thôi, bây giờ khác xưa, họ bắt học trò phải đi về nông thôn, đi lên vùng cao hoặc ra tới miệt biển để mở mắt để khôn vặt để làm phiền lòng những người hảo tâm khi không bị quấy rối cảnh sống. Tụi con sẽ đi ra ngoài suốt ngày, chiều mới về ăn qua loa rồi lịm người ở góc kẹt nào đó mà ngủ. Có nghĩa là tụi con cố không làm cho hai bác phải bận lòng. Nếu có việc gì nặng nhọc xin hai bác cứ sai bảo để tụi con có dịp trả ơn.

Người đàn bà chẳng nói gì, bà tạt thau nước ra sân cát. Bà vắt ráo ba chiếc áo rồi mang phơi chúng trên một sợi dây căng ngang giữa hai thân cây cau. Chiếc áo màu tím, chiếc màu xanh lá non và cuối cùng là màu “vô sắc”. Tất cả đã cũ, đã giã từ màu nguyên thuỷ, hiện tại thì chúng bị ngấm nước làm đậm chất phôi pha. Tôi dùng chữ vô sắc theo nghĩa là màu đó chưa có một tên gọi chính xác và những thứ màu có trên áo đó chưa khi nào tôi sử dụng để bệt vào tranh. Nó sống sượng quá, nó không thuộc vào màu lạnh cũng như nó cách ly với màu nóng. Nó sẽ nằm trên những tấm tranh mà dân học Mỹ thuật gọi là tranh bờ hồ do bọn ngoại đạo siêng thao tác để kiếm cơm. Xã hội này luôn nghi ngờ những thứ toàn bích, những hoàn hảo và những bức tranh đẹp, ngây thơ hồn nhiên các thứ sẽ chịu chung số phận úp mặt vào vách nghe mốc thếch xâm thực sau tấm bố bị thời gian mù loà khuynh đảo xếp xó. Tôi ngó ba chiếc áo khi không làm cho sợi dây căng bị chùng xuống. Nước rỉ rả ứa ra từ chất vải để nhỏ giọt xuống, chậm rãi, trong vắt tựa những hạt lệ thầm lặng rơi. Và mất khoảng một hai phút sau khi nhìn ngó tôi mới phát hiện ba chiếc áo kia thật nhỏ nhắn, hoàn toàn không vừa kích của người vừa giặt, rũ phơi. Rồi màu sắc chưa chín nó mang ngầm thông báo chủ nhân phải là một người trẻ tuổi. Một thiếu nữ vừa qua tuổi dậy thì chẳng hạn. Một bà già mòn chân qua sạn đạo sẽ không đời nào sở hữu những vật mang thứ màu mè tươi mươi nông nổi kia.

Nhân và tôi thường tách đám bạn học khi túa ra biển tìm kiếm một bố cục, một khung cảnh để ký hoạ. Chiếc thuyền nhỏ lật úp trên bãi, những sào tre dùng để căng trải tấm lưới, những hoa màu thích hợp với cát đang độ ra quả, sai trái bên luống nương, từng mái tranh xiêu vẹo chẳng đồng dạng giam giữ nhiều bóng tối thường là nơi bị anh em vây bủa chụp bắt hí hoáy vẽ. Chúng tôi ngồi trên một hòn đá cao nghe sóng hát miên man để định thần một dong duỗi. Hai đứa giao hẹn sẽ đi hai lối riêng sau đồi cát kia rồi gặp gỡ đằng cái vòm tối trông như một hang động có nhiều bọt sóng. Nhân rẽ trái nhắm hướng tây, tôi hướng mặt trời mọc ngó bóng mình lầm lũi biến tướng ăn đen vào cát vàng thoạt ẩm thoạt khô. Tôi không mấy thích biển, cảm giác luôn bị choáng ngộp khi đứng đối mặt. Sự trống trải nó chiếm ngự khiến tôi luôn hoang mang. Nó bắt trí óc mình phải liên tưởng về một cội nguồn của thời tiền sử, và rồi thì bỏ băng rất nhanh, vụt cái, thoáng chốc nghĩ tới ngày tận thế. Chẳng có âm thanh nào được can dự, không tạp nhạp, chỉ thuần là sóng gào ngoài xa và bên tai tiếp cận với gió ve vãn tiếng vi vu. Chân đi mất quân bình trên cát sồi sụt, không nhìn ra sinh vật, giao thoa giữa bầu trời và mặt biển là sợi chỉ đậm màu căng ngang, xanh thứ sắc màu vừa là biểu tượng của tự do vừa là vô ngôn một răn đe của thần chết.

Tôi lạc hồn đi nửa ngày chưa nhìn ra một cái gì bắt mắt. Tôi lên dốc thoi thỏi để buông thân xuống cát mịn, nửa nằm nửa ngồi bên cụm cây ngoi đầu giữa nơi chẳng được lựa chọn. Chăm sóc nó là gió cát là hơi nước của trùng dương và nó ra được hoa, những chùm màu trắng nhỏ nhít đến tội nghiệp. Tóc tôi rối trong gió nhưng nụ hoa vẫn an nhiên chẳng hề rung động. Nó hiện diện như nói với tôi những gì buồn bã nhất khi ta sống thở với lẻ loi, với một mình một bóng. Bất chợt tôi nhìn thấy một vết nhơ sẫm màu phơi trên cát trắng, nó tựa một cái dằm khó chịu đâm vào nhãn tuyến. Tôi nheo mắt, dùng cặp vẽ để đội lên đầu che bớt nắng nôi oà vỡ. Hình như là một đám rong bề thế bị lạc trôi tự lòng biển hay một con cá lạ lùng lên bờ để hoàn xác thành một mỹ nhân? Một sự thôi thúc vô hình lôi đầu tôi dậy, trao hiếu kỳ vào đôi chân để bắt tôi đổ người chạy xuống bãi. Càng thu ngắn khoảng cách cái vật ngắc ngoải do sóng liếm kia càng rõ dần hình tướng. Rõ cho tới khi phải đứng khựng lại, tim đập sai nhịp. Một thây người. Một chiếc áo bị bức hết khuy nút, một đôi vú chực bung ra, một mái tóc dài chôn rối đất cát. Một cái xác có nơi trương phình bắt đầu phân huỷ. Khuôn mặt cứng như được làm bằng chất sáp, hai mắt đục lờ tròng đứng yên ngó tôi bất động. Nó thu cất được gì vào đồng tử trước khi chết mà không chju đóng lại võng mô? Tôi rất muốn kề cận để dùng tay vuốt mắt người xấu số nhưng nỗi sợ hãi đã làm tôi cóng tay. Cuối cùng tôi quyết định dùng chiếc khăn tay của người chị Nhân trao gửi luôn xếp vuông vắn trong túi áo, lấy ra, giũ rộng rồi thu can đảm tôi lại gần phủ đắp lên mặt cô gái bạc phước.

Tôi không vẽ được gì. Chuyến đi thực tế kết thúc. Thành phố trông già nua sau một tháng đoạn lìa tưởng nhớ. Phượng đỏ nở rộ làm bầu trời thêm nung lửa, chật chội. Tôi bị đánh rớt kỳ thi cuối năm, bài làm bị phê bình và ai đó không ngớt xỉ vả tôi. Bức tranh tôi dùng toàn màu xám chủ đạo, ửng hiện chút xanh của màu trời chút trắng của bọt sóng, của chiếc khăn tay. Ba nhân vật được thu tóm: Ông bà gia chủ ở tư thế đứng và cái xác cô gái nằm trên giường tre. Tôi không muốn dài lời giải thích về “tác phẩm” ấy. Tôi đã vẽ nên nó do một thôi thúc tự mình cũng không cưỡng lại được. Ông bà cho Nhân và tôi tá túc thực sự thì họ có hai người con. Một trai một gái. Trai mưu sinh đánh cá, sớm tối kề cận chăm nom cha mẹ. Gái gửi theo ghe người bà con quyết định vượt biển đổi đời. Người cha không khóc than như bà mẹ luôn sùi sụt nước mắt nước mũi. Ông bấu víu vào vai tôi, cám ơn cậu đã phát hiện ra cháu, cám ơn cậu đã đắp mặt cho cháu. Chúng tôi là dân chài nên chúng tôi biết đã có một vài loài cá, khi sắp chết chúng dùng tàn lực để bơi về nơi chốn chúng tự giao ước để chôn thây, một thứ nghĩa địa. Trường hợp con gái bất hạnh của chúng tôi cũng thuộc dạng tương tự, nó muốn về thăm lại cố hương nhìn mặt anh nó, cha mẹ nó. Tui nói điều không phải thì xin cậu bỏ ngoài tai, đó là con gái tui chắc sẽ linh thiêng, cậu có nguyện ước gì xin bình tâm thắp cho em nó một cây nhang cúi đầu mà khấn vái.

Khi làm lễ động quan, ba chiếc áo bị bỏ quên vẫn còn phơi ngoài sân đồng loạt run lên. Chất vải bị già nắng khô quắt tựa mo cau xao động kiểu hứng gió lớn. Tôi bước ra, trời hầm hập lá cây im sững tịnh không chút heo may. Tôi nói thầm: Thôi em đi. Anh cũng yên lặng trở về thành phố. Anh sẽ vẽ cho em tấm chân dung để gia đình thờ phượng. Anh thực chẳng có nguyện ước gì cả cũng như anh chưa từng xin xỏ ai một điều, dẫu nhỏ bé.

Tôi rời trường, không đủ tư cách để làm một hoạ sĩ. Tôi đi buôn. Tôi leo lên tàu Thống Nhất xuôi Nam và định mệnh xúi tôi ngồi gần người chị Nhân. Nhan sắc người ta dễ phôi phai sau khi lấy chồng hay tại vì đang cấn thai, xuống sắc? Chúc mừng chị. Lớn thế này thì chắc đã đi siêu âm để biết trai hay gái? Chi kéo tay tôi, lôi tôi sát sao vào lòng, hơi thở nóng: Suỵt! Chớ manh động. Đẻ đái gì, thai thiết gì. Toàn cả thuốc tây không đó, thương nhau thì cởi áo cho nhau, mang hộ chị một nửa lô này nhé, êm xuôi tới bến chị sẽ hậu tạ. Đã có bồ chưa? Nhân nó bảo em bỏ học đi giang hồ à? Có thế chứ. Giờ thì chúng ta luôn nhìn thấy nhau. Một đôi khi chị nhớ em vô hạn, có tin không?

Tôi nhìn sâu vào mặt chị. Với biệt nhãn của đứa mộng làm hoạ sĩ tôi nhìn ra, không trùng lẫn, dung mạo này với cô gái chết trôi tuy hai mà một. Hèn gì bức chân dung tôi vẽ bằng màu nước đặt trên bàn thờ cô gái ai cũng tấm tắc: Cậu chỉ ngó em khi em đã là cái xác mà đã lột tả được thần sắc rạng ngời em mang khi còn trên trần đời.

Tôi không phải là hoạ sĩ. Tôi chỉ là một con buôn mà thuật ngữ lúc ấy gọi là bọn mánh mung. Mọi định nghĩa, sự quy chụp, xét cho cùng đều mang tính khiên cưỡng. Tôi cũng không rõ tôi là ai? Một con cá sông hồ bơi không ra khỏi cái đập chắn kiên cố mà người ta dùng ngăn chận với bên kia là trùng dương biển gào mặn muối. Cá không ăn muối cá ương. Tôi suốt đời không dám cãi lại mẹ cha vậy mà muôn đời tôi vẫn hư thân.

Hồ Đình Nghiêm
Nguồn: Tác giả gửi

Đã đóng bình luận.