Em có biết ta chờ mong?

Posted: 08/01/2015 in Nguyễn Đức Nam, Truyện Ngắn

Nguyễn Đức Nam
Ðể tưởng niệm một người bạn họa sĩ ở Dalat.

suy_tu_trong_hoang_hon

Chỗ này là ven đồi. Phía bên kia thung lũng là nghĩa-địa với những bia đá lố nhố và những bó hoa đã úa. Dưới thung lũng là vườn trồng rau và hoa, những luống rau xanh tươi và những cụm hoa nhiều mầu quấn quít nhau, thật đẹp.

Miếng đất của Thục hình nửa mặt trăng, chạy quanh đồi và có thể đi tắt sang nghĩa-địa bằng một con đường nhỏ.

Nguyên đứng trong nắng mỏng, nhìn xuống thung lũng, thấy thèm cái mầu xanh mát rượi của rau và hoa vô cùng. Lặng ngắm thiên-nhiên một lúc lâu rồi Nguyên mới cười, nói với bạn:

– Tôi thích miếng đất của bạn quá, nhưng gần bãi tha ma thành ra hơi sờ sợ.

Thục cởi trần. Thân thể Thục chắc nịch, đen bóng. Thục vung con dao dài, chém vạt cả một khoảng cỏ may, cười vang:

– Tao không sợ ma, chỉ sợ người thôi. Ở đây bao nhiêu năm rồi, không có con ma nào nó hại mình cả; Chỉ có mấy người ghen ghét mình, trước mặt mình thì cười cười nói nói thật tử-tế nhưng sau lưng mình thì nói xấu không biết mỏi miệng.

Nguyên với cái bồ cào, cào những cỏ úa khô, chất lại thành đống và tiếp lời:

– Ðồng ý. Mình chỉ sợ người, nhưng theo tôi, người hại chẳng đáng quan-tâm; Chỉ có Trời hại mới đáng lo thôi. Bằng chứng là có nhiều thằng ghét bạn, nói xấu bạn, hại ngầm bạn mà bạn vẫn sống nhăn, có hề hấn gì đâu.

Thục ngừng tay, quyệt mồ hôi trán, nhếch mép cười:

– Hì hì, nói đúng ra, tao chỉ sợ “ma…făm”, sợ cái hiền, ngoan, giỏi chịu đựng của vợ thôi. Ngoài ra, tao đếch cần, mày đồng ý không?

Nguyên gật đầu, không trả lời bạn vì chợt nghĩ đến người vợ trẻ của Thục. Nguyên không biết tên thật của chị và không bao giờ Nguyên hỏi vì Nguyên thường nghĩ: “vợ của bạn là chị” nên luôn luôn Nguyên gọi người đàn-bà-trẻ-con đó là chị dù rằng nàng có dáng bé nhỏ, ngây thơ như một nữ sinh trung-học.

Trong giờ phút này, chắc chị Thục đang ở sở. Chị đi làm bẩy ngày trong một tuần để nuôi con và người chồng họa sĩ, một người có rất nhiều khả-năng nhưng không thích bị giam lỏng trong những việc làm buồn chán thường ngày. Vì vậy, Thục chỉ thích ở nhà để vẽ, làm vườn và uống rượu. Dần dần, dường như Thục chán luôn cả vẽ, chỉ thích làm vườn và uống rượu. Biết đâu chừng một ngày nào đó Thục cũng sẽ chán luôn cả làm vườn?

Trong nhà, Thục có rất nhiều bức tranh vẽ chưa xong. Những khung vải, những ống mầu, những cây cọ nằm im lìm trong tháng năm dài đã bắt đầu vướng bụi. Nguyên thường hỏi bạn:

– Bao giờ bạn tiếp tục vẽ? Vẽ lại đi chứ! Bao nhiêu người thích tranh của bạn, đừng làm họ thất vọng.

Thục thường trả lời Nguyên bằng một câu hỏi tương-tự:

– Thế còn mày? Bao giờ mày viết cho xong mấy cuốn tiểu-thuyết mà mày hứa nhăng hứa cuội sẽ xuất-bản một ngày gần đây? Ðã một thời là thần-tượng của tuổi trẻ, đùng một cái gác bút là làm sao. . .?

Cũng như Thục ngưng vẽ, Nguyên ngừng sáng tác đã lâu. Lý do chính là công việc sở thì nhiều, lo lắng đến nhức đầu, rảnh được phút nào thì chỉ muốn nằm nghe nhạc hoặc đi chơi golf để quên đi những lo âu, suy tính. Lý do thứ hai là số độc-giả ở hải-ngoại rất hiếm. Tác-phẩm hay mà không có người biết đến để thưởng-thức thì cũng không khác gì đối-thoại với xác chết.

Có một số bạn-hữu đã trách móc là Nguyên chỉ ham đi “săn đô-la”, quên cả văn-chương, bè bạn.

– Bác Nguyên, bác Nguyên, bác có mang kẹo cho cháu không?

Tiếng trẻ con gọi làm Nguyên trở về thực-tại.

Nguyên vừa buông chiếc cào xuống thì một bé gái chừng năm tuổi, đã từ đỉnh đồi lon ton chạy tới, ôm chặt lấy chân chàng. Nguyên hôn lên má cô bé một cái thật kêu. Má trẻ con còn thơm thơm mùi sữa mẹ. Nguyên bế cô bé lên. Cả cái thân thể nhỏ bé ấy chỉ một thoáng đã ở trên vai chàng. Cô bé khoái chí cười khanh khách.

Ðúng lúc ấy, Nguyên thấy vợ của bạn, đang thong thả bước xuống. Người đàn bà nhỏ bé như cô học trò, lại càng nhỏ bé hơn giữa thiên-nhiên, giữa đồi hoa, giữa những luống rau, giữa khung trời ngả về chiều. Tuy bé nhỏ là thế nhưng bóng dáng nàng đã làm cho cả một vùng trời tươi sáng lên và dù hai mẹ con chỉ là hai thực thể mỏng manh nhưng sự hiện-hữu ấy đã như mang lại cho vùng đất của Thục một sức sống chan hòa, làm cho thiên-nhiên sinh-động hẳn lên.

Ðôi môi xinh tạo nên một nụ cười tươi:

– Anh đến lâu chưa ạ? Xin anh để mặc nhà em. Anh ấy làm vườn quen rồi, anh ngừng tay đi, kẻo lại dơ hết quần áo…

Trong lúc đó, Thục đang ở dưới cuối chân đồi, chỉ đưa tay vẫy vợ con rồi tiếp tục chăm sóc những luống rau xanh tươi, những khóm hoa hồng tươi đẹp. Nguyên chợt thấy thèm được ở trong vị thế của Thục và nếu được như vậy, Nguyên chắc chắn sẽ bỏ tất cả để ở cạnh vợ hiền, con ngoan.

– Anh có phải đi đâu chiều nay không ạ? Ở lại dùng cơm rau dưa với chúng em nhé?

Nguyên rất muốn ở lại nhưng không hiểu sao chàng lại từ-chối:

– Cám ơn chị. Tôi phải về sở, đi ăn với ông boss. Lỡ hẹn với ông ta rồi. Chị cho một cái “rain check” vậy nhé. Hôm nay tôi đến cho anh ấy biết là ngày mai tôi đi công-tác ở miền Nam, có lẽ một tháng mới về; à, nhân thể hỏi anh ấy có nhắn gì mấy tên bạn cũ ở dưới ấy hay không…. . .

Rồi Nguyên gọi Thục và nói thật lớn:

– Này bạn, có nhắn gì tụi thằng Thông, thằng Dũng không?

Thục nói vọng lên. Tiếng nói ấy tưởng chừng như phá tan sự êm đềm của buổi chiều tà:

– Bảo tụi nó là tao nhớ tụi nó lắm nhưng không có tiền mua vé máy bay đi thăm tụi nó được. Ðứa nào có giỏi thì lên đây, tao làm món “giả cầy” cho mà ăn. Ăn xong, nhớ Đà Lạt điên người luôn. Còn đứa nào không khá thì lên đây làm vườn với tao. Tao nghèo tiền nhưng rất giầu thời giờ, tụi nó lên đây chơi với tao bao nhiêu lâu cũng “no star”. Nguyên bật cười vì thứ tiếng Mỹ “mắc dịch” của Thục. “Không sao” mà dịch là “no star” thì Mỹ chạy trốn khỏi Việt Nam cũng là điều dễ hiểu thôi.

Nguyên quay người, bước lên những bậc đất mịn – như những bậc thang lát thảm nhung trong sở của Nguyên – do chính bàn tay Thục đẽo, gọt, đi về hướng ngôi nhà gỗ, có dàn hoa tím nhạt leo trên hàng rào.

Hai bên đường vào nhà Thục, những cây đào mọc thành hàng lối ngay ngắn, trên cành chi chít quả. Những cây mận cũng nặng chĩu những trái mầu tím đậm. Nguyên không còn nhớ đã bao nhiêu lần giúp Thục hái những quả đào tươi ròn ngọt và những trái mận mọng nước ấy để Thục mang ra chợ bán, lấy tiền mua rượu và món nhậu.

Vợ Thục và cô con gái có ý chờ Nguyên ở đỉnh đồi để cùng bước về phía ngôi nhà gỗ đã mờ mờ trong sương chiều. Người đàn bà còn rất trẻ ấy có một nét mặt đẹp nhưng phảng phất một nỗi buồn xa vắng. Nghe đâu nàng là con gái nhà giầu ở California, đã bỏ cuộc sống nhung lụa, đã bỏ chuỗi ngày ngà ngọc của tuổi sinh-viên, tự nguyện chọn người họa-sĩ nghèo làm chồng, không cần sự chấp-thuận của song thân, cũng như không cần tiệc cưới rườm rà, vừa tốn tiền, vừa tốn thời giờ quí báu của hai họ, của bạn bè.

Vì chưa có bằng đại-học nên lương của nàng thấp lắm. Nguyên giữ một chức-vụ quan-trọng trong sở và quen biết rất nhiều nhưng cũng chỉ tìm được cho nàng một chân sắp xếp hồ-sơ tại một ngân-hàng tư. “Không làm nhiều tiền một giờ thì đành phải làm nhiều giờ một tiền vậy”. Nàng thường bảo Nguyên mỗi khi Nguyên tỏ ý ân-hận đã không xin được những việc làm có số lương cao hơn cho nàng.

Nguyên không hiểu người-đàn-bà-trẻ-thơ này làm thế nào để có thể sống được, có thể lo cho chồng, cho con được với số lương hàng tháng chỉ bằng tiền đi ăn tối của vài người trong ban quản-trị, chỉ bằng chi phí công-tác của một quản-trị viên. Tiền chợ, tiền rượu cho chồng, tiền quần áo, tiền trả cho trung-tâm giữ trẻ, biết bao nhiêu thứ linh-tinh, lỉnh-kỉnh khác… mà nàng vẫn sinh-hoạt bình-thường, ngày này qua ngày khác, thật thản-nhiên, thật bình-tĩnh.

Có mấy lần Nguyên ngỏ ý muốn giúp đỡ nhưng nàng từ-chối một cách rất cứng rắn. Quần áo Nguyên mua tặng cho con bé, nàng chỉ cho con nhận vào dịp sinh-nhật và Giáng-sinh. Kẹo bánh Nguyên mang đến thì nàng nhận nhưng luôn luôn nhắc Nguyên là lần sau đừng mua nữa vì trẻ con ăn kẹo nhiều rất dễ bị hư răng.

Ba người đã đứng trước hiên nhà. Nhìn đôi mắt buồn, tha thiết của nàng và khuôn mặt ngây thơ, tươi vui của con bé, Nguyên quyến luyến quá, không muốn rời bước. Nhưng, giây phút luyến thương ấy dường như có một khúc mắc, vướng víu gì đó, làm Nguyên cảm thấy có lỗi với Thục.

Chàng hôn vội lên gò má thơm của đứa nhỏ rồi bước mau. Ði được một quãng ngắn, Nguyên quay lại, vẫn thấy hai mẹ con đưa tay vẫy…

***

Thành phố đầu tiên mà Nguyên phải ghé thăm trên con đường đi thanh-tra là New Orleans. Từ hồi còn học ở trung học Nguyên đã thích nhạc Jazz và đã đọc nhiều sách về thành phố của loại nhạc đặc-biệt này. Nguyên còn nhớ trên tường, trong phòng học của chàng, Nguyên có treo một bức tranh vẽ đoàn nhạc-sĩ da đen đang trình-diễn, nhẩy múa trên đường phố New Orleans. Bức tranh dùng rất nhiều mầu đỏ làm nền và hình dáng của những người nhạc-sĩ da đen đã nổi bật lên, cùng với mầu vàng chói của những cây kèn đồng, trông thật tương-phản nhưng cũng thật tươi vui, man-dại.

Phái-đoàn thanh-tra ở tại khách-sạn Hyatt Regency New Orleans, một khách-sạn sang trọng, thuộc khu-vực thương-mại trong trung-tâm thành-phố. Ngay khi chiếc limosine của khách-sạn ngừng bánh, Nguyên đã thấy Michael Smith và một số quản-trị-viên đứng chờ phía ngoài khu tiếp-tân. Vừa thấy Nguyên, Michael đã bước tới thật nhanh, mở cửa xe, bắt tay Nguyên, vẻ mặt thật mừng rỡ:

– Ông Nugent, lâu lắm mới được gặp lại ông. Ðại-diện ban quản–trị và tất cả nhân-viên của Hyatt Regency New Orleans, chúng tôi hân-hạnh được đón tiếp ông và phái-đoàn thanh-tra của Bộ Chỉ-Huy Trung-ương.

Michael là một quản-trị-viên tập-sự, làm việc với Nguyên hồi mới tốt-nghiệp đại-học, ở văn-phòng kế-toán của khách-sạn Hyatt Regency Washington. Hồi ấy, chương-trình tập-sự của quản-trị-viên là hai năm. Thường thường họ được lựa chọn tại các đại-học nổi tiếng, được huấn-luyện tại tất cả các ban, các khu-vực trong khách-sạn và chỉ có thể trở thành một quản-trị-viên thực-thụ nếu có phiếu điểm xuất-sắc do các trưởng ban phê chuẩn.

Michael là một thanh-niên da đen, tuy rất thông-minh nhưng lại rất ham chơi. Vì còn trẻ, vì lần đầu tiên trong cuộc đời được lên Thủ-đô, từ một vùng quê nghèo nàn của Louisiana, Micheal đi chơi thâu đêm, cố hưởng trọn những đêm vui của Georgetown D.C, Oldtown Alexandria. Dù có một sức khỏe phi-thường của một chàng trai da đen, Michael cũng không tránh nổi những cơn buồn ngủ; Do đó, Michael đã bị một Giám-thị người Mỹ trắng rình rập và bắt quả tang chàng đang ngủ say sưa trong một kho chứa đồ đạc thặng-dư. Dĩ nhiên là Michael bị cảnh cáo và được một bản phê điểm dưới mức trung-bình. Michael tưởng rằng sẽ phải bỏ mộng Quản-trị Khách-sạn, về Louisiana trồng bông, làm ruộng, chăn ngựa như ông cha mình ngày xưa.

Nhưng Nguyên đã cứu Michael. Thương thằng con trai nghèo, gốc nô-lệ, luôn luôn bị bọn da trắng khinh khi, đầy đọa, chẳng khác gì cách đối-xử với Nguyên khi chàng mới vào làm chân tập-sự ở công-ty này. Nguyên, với tư-cách của Giám-Ðốc Kế-Toán, đã cho Michael một điểm số rất cao và một phiếu phê-bình xuất-sắc. Nhờ vậy mà Michael tốt-nghiệp với hạng Ưu và được chọn bất cứ khách-sạn nào của Hyatt mà anh ta muốn làm. Michael đã chọn New Orleans, là nơi gần với chỗ mà Michael đã được sinh ra và lớn lên, được gần cha mẹ già, họ hàng, bạn bè.

Ðã ba, bốn năm Nguyên không gặp Michael. Hôm nay, Nguyên thấy nó mập ra và cách phục sức rất lịch lãm, hợp thời. Bàn tay to tròn của Michael vẫn còn nắm chặt lấy tay Nguyên:

– Gặp lại boss, tôi mừng quá. Sau khi thanh-tra, boss ở lại chơi với tôi. “Thầy trò” mình sẽ “ăn chơi” một phen cho “đã”. Boss có nghe tin tôi mới được lên chức Tổng Quản-Lý chưa?

Nguyên chưa biết tin ấy. Chàng ôm lấy Michael, vỗ mạnh vào sau vai anh ta:

– Giỏi quá. Có lời mừng cậu. Cậu xứng đáng lắm.Tôi biết cậu sẽ không phụ lòng tin của tôi…

Michael cho nhân-viên xách hành-lý của Nguyên và lấy chìa khóa cho Nguyên rồi đưa Nguyên lên phòng ngủ, có cái tên là Presidential Suite, chắc là để dành riêng cho President của công-ty, cho President của xứ Hoa-Kỳ hay cho những vua chúa xứ Ngàn Lẻ Một Ðêm.

Căn phòng rộng không khác gì một apartment với ba phòng ngủ: một phòng lớn trang-hoàng thật sang trọng, với giường ngủ cỡ lớn, một phòng ngủ xinh sắn, có hai giường đôi để dành cho con cái, một phòng khách có bộ bàn ghế bọc nhung, một vài cái ghế bành bằng da, một bàn giấy tròn, to và đặc-biệt là có một tủ sách cao, dài chiếm gần hết một phía tường. Ngoài ra, còn có một phòng ăn với bộ bàn ghế đủ cho hai mươi bốn người.

Trên bàn ăn, Nguyên đã thấy bầy một mâm trái cây đủ loại, một mâm đồ biển để ăn chơi và một chai Remy Martin, thứ rượu mà Michael biết Nguyên rất thường nhấm nháp. Nguyên cám ơn Michael rồi xin cáo lỗi đi thay quần áo dạo phố. Michael đảo mắt nhìn quanh phòng, xem có gì thiếu sót không rồi chào Nguyên, đi ra.

Nguyên vừa thay quần áo xong thì có tiếng gõ cửa và có tiếng cười nói ồn ào ỏ ngoài hành-lang. Chưa cần mở cửa, Nguyên cũng biết đó là giọng của mấy bạn trong nhóm thanh-tra kế-toán từ các tiểu-bang khác về đây làm việc với chàng.

Ðúng như Nguyên nghĩ, khi cửa mở, Nguyên nhận ngay ra đó là Jay, từ Chicago về, John từ California sang, Larry từ Texas lên và Kathy, từ Hawai vào. Ngoài ra, còn có vài khuôn mặt mới, Nguyên đoán là các phụ-tá mới được tuyển chọn, đi theo phái-đoàn thanh-tra để thực-tập.

Mới nhìn thoáng qua và bắt tay, chào hỏi sơ sơ, Nguyên cũng đã nhận thấy ngay nét trẻ, đẹp của các nữ phụ-tá này. Nguyên chợt nghĩ đến Michelle, cô phụ-tá xinh-đẹp của mình. Nguyên đã không dẫn Michelle đi theo vì cô nàng mới đính hôn, Nguyên cho cô ở lại nhiệm sở để có dịp vui hưởng quãng thời gian đẹp nhất của những người yêu nhau.

Nguyên theo các bạn xuống lobby. Theo chương-trình thì tối nay, phái-đoàn ăn tiệc tại một nhà hàng trong khách-sạn, nhưng ai cũng náo nức muốn xem thành-phố New Orleans về đêm nên rủ nhau ra khu “French Quarter”.

Vào giờ này, con đường Bourbon đã đầy người. Trên hè đường, thường có những người da đen chơi nhạc Jazz. Có người thì thổi kèn một mình. Có người chơi đàn giây lẻ loi. Cũng có những người cùng hòa nhạc với nhau bằng đủ thứ nhạc khí. Nguyên là người mê nhạc nên đứng lại nghe, quên cả đói. Nhưng cuối cùng thì Nguyên cũng phải theo nhóm bạn, vào một nhà hàng đặc-biệt về hải sản và có ban nhạc “Blue Tango”, trình-diễn hàng đêm cho phần khiêu-vũ.

Những món cua, tôm, sò, cá nấu rất lạ, rất ngon. Những ly rượu vang đắt tiền, đã làm tăng thêm khẩu vị. Bạn bè lâu ngày không gặp, biết bao nhiêu chuyện cần hỏi, cần nói. Nguyên vui vẻ cười đùa giữa đám bạn Mỹ cùng nghề-nghiệp nhưng Nguyên vẫn cảm thấy một sự thiếu vắng nào đó, không có những cởi mở như khi gặp lại bạn bè cũ, thuở niên-thiếu.

Laura, nữ phụ-tá của Larry, cô gái tóc có mái tóc vàng sõa vai, khuôn mặt đẹp ngây thơ, nhìn Nguyên với đôi mắt ngọc thạch và cười với chàng bằng đôi môi hồng xinh xinh, tự-nhiên như không thoa son:

– Ông Nugent im lặng quá, chắc là nhớ bà xã?

Larry cười to:

– Lộn rồi, em bé ơi. Ông Nugent còn “mồ côi” vợ. Người là giòng dõi quí-tộc, thuộc triều-đại nhà Nguyễn, giòng vua cuối cùng của Vietnam nên còn kén lắm, chưa có ai lọt vào mắt nâu của Người cả.

Laura không biết Larry nói thật hay nói đùa vì làm việc với Larry mới được mấy tháng, sau khi tốt nghiệp đại-học Cornell về môn Quản-Trị Khách-Sạn. Do đó, cô hỏi Nguyên với một giọng nói ngạc nhiên, thật dễ thương:

– Vậy ông là “The Last Prince of Vietnam”?

Nguyên chưa kịp trả lời thì Larry, John, Jay, Kathy và cả nhóm đã nhao nhao lên:

– Ðúng rồi. Ông Nugent là vị “Hoàng-Tử Cuối Cùng” và sẽ là “Hoàng-Ðế Cuối Cùng” của Vietnam đấy; Cho nên khi nói chuyện với Nugent, mình phải lễ-phép, kinh-cẩn, phải luôn luôn gọi Người là “Your Highness”, nghe chưa?…

Vừa lúc đó, ban nhạc “Blue Tango” bắt đầu bằng một bản luân-vũ chậm. Ðó là bài “Tennessee Waltz”, bản nhạc mà Nguyên đã một thời mê thích. Laura mời Nguyên ra sàn nhẩy.

Cầm bàn tay thon nhỏ và ôm thân thể mềm mại của Laura, Nguyên dìu nàng vào điệu nhạc dịu dàng. Hai người nhẩy thật tha thướt, thật say đắm. Mùi thơm của mái tóc vàng óng thoảng vào khứu-giác của Nguyên khiến chàng vô cùng ngây ngất. Ðôi môi hồng của Laura khẽ run theo tiếng nhạc. Nguyên khe khẽ hát theo nàng, thì thầm bên tai nàng. Bàn tay mềm mại của Laura dường như nắm chặt tay Nguyên và thân thể ấm êm kia đã dựa sát vào thân thể Nguyên từ lúc nào…

Rồi nhạc chuyển sang một điệu vui tươi. Laura nhún nhẩy thân hình thon gọn theo nhịp trống, nhịp đàn. Hai cánh tay nàng múa theo âm-thanh rộn ràng. Mái tóc sõa tung và nụ cười như không bao giờ tắt. Nguyên cảm thấy tuổi hai mươi trở lại với chàng. Nguyên muốn quên đi tất cả. Nguyên gửi cả hồn mình vào âm-thanh, vào nhịp bước Samba.

Nhóm bạn của Nguyên cũng đã xếp hàng sau lưng chàng và tất cả cùng nhẩy múa theo bước đi của rắn, giống như hồi nhỏ chàng vẫn thường chơi trò “rồng rắn lên mây”. Ban nhạc hứng khởi chơi thêm nhiều bản nhạc Nam Mỹ cuồng nhiệt. Hầu hết thực-khách đều ngừng ăn, hò hét và vỗ tay làm nhịp.

Ðêm vui tưởng như không bao giờ tàn. Ở đây, thời gian không còn chỗ đứng. Ở đây, không ai biết dùng đơn-vị gì để đo thời-gian. Nguyên và các bạn trở về khách-sạn lúc nào, không ai nhớ rõ. Cũng không ai muốn nhớ lại những gì đã xẩy ra. Có một điều mà Nguyên biết rõ là: Laura đã về Presidential Suite khi nàng say mềm. Nguyên đã dìu nàng vào phòng ngủ của chàng, cởi áo ngoài cho nàng, đặt thân-thể kiều-diễm ấy trên chiếc giường ngủ sang trọng như chiếc giường của vua chúa, đắp lên người nàng một tấm chăn mỏng rồi sang phòng khách, ngủ thiếp đi trên chiếc ghế bành, bên cạnh tủ sách. Trong giấc ngủ chập chờn, Nguyên nằm mơ thấy Thục và vợ, con của Thục. Nguyên dự –định sẽ gọi điện-thoại, hỏi thăm Thục nhưng khi tỉnh dậy, Nguyên đã quên mất vì Laura cứ quấn-quít bên chàng.

Chương-trình làm việc của Nguyên ở New Orleans kéo dài gần một tuần lễ. Thường thì ngày làm, đêm đi ăn chơi. Nhờ có Michael hướng-dẫn, Nguyên đã được thăm hầu hết những nơi chốn dành cho du-khách đến thăm. Nguyên cũng được Micheal dẫn về đồn-điền, nơi mà tổ-tiên của Michael đã làm nô-lệ, nơi sinh trưởng của Michael. Tại đồn-điền bát ngát này, Nguyên tưởng như lạc vào những đồn-điền trong cuốn phim”Cuốn Theo Chiều Gió”.

Nguyên cũng có dịp được vào xem ngôi biệt-thự nguy nga của gia-đình người Mỹ trắng, chủ-nhân của những đồn-điền mênh mông, bát ngát, chủ-nhân của hàng trăm nô-lệ. Theo Michael thì dòng giõi cuối cùng của gia-đình người Mỹ trắng này là một cô con gái, sau khi lấý chồng, đã theo chồng về thành-phố lớn, tặng cả ngôi biệt-thự và đồn-điền này cho chính-phủ tiểu-bang.

Nhìn hình chụp của những người đã từng sống ở đây hơn hai trăm năm, từ khi còn bé, đến lúc trưởng-thành, lấy vợ lấy chồng, có con cháu rồi mất đi để những con, những cháu tiếp-tục y khuôn một chu-kỳ như vậy, Nguyên cảm thấy bùi ngùi thương cho kiếp người ngắn ngủi.

Một tuần lễ ở New Orleans trôi qua quá mau chóng. Nguyên tính đi thăm một vài người bạn như Thông, như Dũng, như Y-sĩ kiêm Họa-sĩ Mùi Quí-Bồng nhưng rồi đến ngày cuối cùng lại phải họp hành, thuyết-trình liên miên nên đành thất hẹn.

Sau New Orleans, Nguyên cùng phái-đoàn đi thanh-tra đảo Hilton Head ở South Carolina. Ðây là một nơi nghỉ mát tuyệt vời với những khách-sạn sang trọng nằm ngay tại bãi biển, chạy dài mấy chục dậm. Tuy vậy, Nguyên vẫn thích, vẫn nhớ New Orleans hơn.

Sau cùng, phái-đoàn tranh-tra ghé Orlando, Florida. Chương-trình làm việc cũng mất một tuần mới hoàn tất.

Nhóm Larry, Jay, John và các phụ-tá chia tay Nguyên ở phi-trường Orlando. Lúc từ-giã Laura, Nguyên đã phải cố-gắng lắm mới không hôn lên môi nàng. Nguyên chỉ hôn nhẹ lên má nàng và ôm ghì trong một khoảnh khắc rất ngắn…

***

Nguyên về thị-trấn Highland vào một buổi chiều chủ-nhật. Trở lại miền Bắc, Nguyên thấy thân xác lâng lâng. Vừa xếp dọn hành-lý xong, Nguyên mang mấy chai rượu mà Micheal đã biếu chàng cùng với những quà kỷ-niệm và đồ chơi mà chàng đã mua ở New Orleans vào xe, rồi phóng nhanh đến khu đồi đằng sau nghĩa-địa thành-phố.

Trời đã sắp tối rồi, sao nhà Thục không có ánh đèn? Mặt trời đã lặn sau dãy núi mờ mờ sương chiều mà hiên nhà của Thục tối om? Nguyên xách túi quà, bước nhanh vào ngôi nhà gỗ với dàn hoa tím quen thuộc. Tất cả cửa sổ, cửa ra vào đều đóng kín.

Trước nhà, gần cây dương liễu, có một tấm bảng dựng lên từ bao giờ. Dù không có ánh đèn, dù sương chiều rơi làm mờ nhạt cả một góc trời nhưng Nguyên cũng vẫn đọc được nhưng giòng chữ trên tấm bảng:

NHÀ BÁN
Liên lạc: Andy Nugent
USA Executive Realty
(703) 801-7767

Andy Nugent là tên Mỹ của Nguyên, dùng riêng cho những dịch-vụ về lãnh-vực địa-ốc. Nguyên đang đứng tần-ngần, bối-rối thì người hàng xóm Mỹ đen, một thương-phế-binh trong cuộc chiến-tranh Việt-Nam, chống nạng lết tới trước nhà Thục. Nguyên đã gặp ông Mỹ đen này nhiều lần nên cất tiếng chào hỏi vồn-vã. Trái như thường lệ, ông không trả lời chào của Nguyên mà lật đật bước tới thật nhanh, đưa Nguyên một phong thư và run run nói:

– Thằng Thục bị xe đụng, chết đã ba tuần rồi. Vợ nó cho dựng tấm bảng đó và nhờ tôi đưa cho ông lá thư này.

Nguyên thấy đầu óc choáng váng. Chàng xé rách phong bì, đọc thật nhanh:

Highland ngày. . .tháng . . . năm . . .

Anh Nguyên,

Xe Thục bị lật xuống thung lũng Tình Yêu, khi kéo được lên thì đã quá trễ. Em gọi vào sở của anh, họ nói anh đi công-tác ở New Orleans nhưng khi em gọi về khách-sạn ở New Orleans thì điện-thoại-viên nói là anh đã check out, thành thử em không biết tìm anh ở đâu. Em đã bán nốt những nữ-trang còn lại để lo đám tang cho Thục.

Thế là hết. Em chẳng còn gì, ngoài con bé con. Hai mẹ con em sẽ lại về San Francisco, ăn bám cha mẹ. Những tranh vẽ của Thục xin anh nhận dùm, như một quà tặng của Thục và em để cám ơn anh đã lo cho chúng em trong bao lâu nay. Còn ngôi nhà này, chắc trị-giá chẳng được là bao, xin anh bán dùm em. Cám ơn anh rất nhiều. Cháu Thương Thương nhắc anh hoài.
Em: Ngọc-Châu

“Ngọc-Châu, tên em đẹp quá. Lần đầu tiên biết tên em thì không có em ở đây để gọi.”

Nguyên không còn nhìn thấy gì nữa. Không biết sương chiều che mờ trời đất hay nước mắt đã xóa nhòa vạn vật. Nguyên thất thểu bước xuống khu vườn của Thục. Ðường đồi dốc và trơn. Ðám cỏ gianh mà Thục mối chém vạt ngày nào, để cuốc đất trồng khoai, đã mọc lên ngạo-nghễ.

Những luống artichaut xanh mướt ngày nào, đã úa vàng. Những khóm hồng muôn mầu, nay đã tàn tạ, không còn lấy một nụ hoa. Những chùm đào, những quả mận đã rụng đầy lối đi.

Bao nhiêu mồ-hôi đã đổ xuống miếng đất này, bây giờ còn lại được những gì?

Thân thể như rã rời, Nguyên ngồi bệt xuống đất, nhìn về phía bên kia đồi, nơi có bãi tha ma, nơi mà người bạn nghệ-sĩ đang vĩnh-viễn ngủ yên. Trong một chút ánh sáng của hoàng hôn còn sót lại, nóc chuông nhà thờ hiện lên. Từ nơi đó, tiếng chuông chiều ngân vang, bao trùm cả khoảng không gian mờ ảo.

Nguyên tưởng như mình đang lạc vào một khu vườn của thiên-thần, một thánh-địa tươi mát, suốt năm chỉ có mùa Xuân, mọi người sống an vui và không bao giờ chết. Nguyên cầu mong Thục được sống bình-yên trong khu vườn ấy mãi mãi.

Nghĩ tới những vất vả, buồn tủi mà Ngọc-Châu phải chịu đựng trong những ngày qua, Nguyên lại ứa nước mắt. Nguyên thì thầm như đang có Thục ở bên cạnh:

– Thục ơi, có sống khôn chết thiêng thì hãy phù-hộ cho tôi được gặp lại vợ con của bạn, cho tôi được yêu thương, săn sóc Ngọc-Châu và bé Thương Thương đến trọn đời. . .

Nguyễn Đức Nam
(Trích trong Tiểu-Thuyết “ Những Người Tị Nạn” )
Nguồn: Tác giả gửi

Đã đóng bình luận.