Những kỷ niệm vụn, 2

Posted: 07/03/2016 in Nguyễn Toàn, Tùy Bút / Tản Văn / Ký Sự

Nguyễn Toàn, Sydney

sac_do_la_thu

Mấy người bạn thân biết tôi còn một số “kỷ niệm vụn” nữa chưa chịu tiết lộ hết, điện thoại cằn nhằn hoài, biết từ chối không được, tôi liền cầu cứu với anh Huân. Ông anh tôi cười:

– Thì cứ bật mí, nhưng bật… nhẹ thôi. Nhớ là tránh, đừng đụng nhiều quá đến chuyện đời tư là được. Hoặc có đụng đến chuyện riêng tư của ai, thì chỉ nên nhắc đến những chuyện “không có hại”mà thôi.

Tôi nói với ông anh tôi:

– Nhưng em đâu có biết tất cả mọi chuyện, anh giúp em với. Anh kể, rồi em ghi lại.

– Được – ông anh tôi nhận lời… À, chú cũng có thể hỏi anh Tâm. Ổng cũng biết nhiều đấy.

Thế là tôi lại có những dòng này. Nhân vật đầu tiên tôi kể ở đây là nhà thơ, nhà văn tiền bối Đinh Hùng. Ông Đinh Hùng những khi làm thơ tình cảm ký bằng tên thật, nhưng khi viết truyện dã sử như Kỳ Nữ Gò Ôn Khâu, Tên Đao Phủ Thành Đại La, ông dùng bút hiệu Hoài Điệp Thứ Lang và làm thơ trào phúng, ông dùng bút hiệu Thần Đăng. Nhà thơ họ Đinh cũng như một số văn nghệ sĩ bậc tiền bối khác, cũng gia nhập “xã hội” Phi Yến Thu Lâm, tức “phiện thú lắm”. Một lần theo anh Hoàng Trúc Tâm đến thăm ông tại nhà riêng trên căn lầu đường Trần văn Thạch Tân Định, nhà thơ vừa tiếp chúng tôi vừa Phi Yến Thu Lâm. Thấy nhà thơ nằm hút trong một tư thế “lạ”, nhưng tôi không dám hỏi, chỉ đưa mắt như dục anh Tâm lên tiếng. Mãi sau, anh Tâm mới hỏi nhà thơ:

– Anh nằm hút, sao không dùng gối gối đầu mà lại dùng lon Guigoz, bộ không đau đầu sao.

Đinh Hùng cười:

– Moa dùng lon Guigoz làm gối quen rồi, gối đầu bằng gối thường hút hoài cũng không “phê”.

Tâm:

– Thế ông đựng gì trong đó. Kim cương hay vàng khối.

Ông Đinh Hùng:

– Còn quý hơn vàng, hơn kim cương nữa… sảm thuốc đấy ông ạ.

Thì ra sau khi hút thuốc rồi, tàn thuốc được nhà thơ “cất” vào lon để nếu không viện trợ cho ai, thì nhà thơ mang đổi lấy thuốc mới, bớt được nhiều tiền.

Ông nói:

– Đỡ hao xu lắm đấy.

Anh Tâm hỏi:

– Bộ họ thu lại, cũng bán được à.

– Được chứ, những người không có điều kiện hút thuốc nguyên chất, họ mua về “thầu”, tức là nuốt, hay pha chế để chích.

Thường sau mỗi lần thu thanh như chương trình “Những Trang Sử Việt” do ông Đinh Hùng thực hiện trên đài phát thanh Quân đội, mà gặp hôm anh Tâm cũng có chương trình thu Kịch Vô Tuyến Truyền Thanh hay tuần báo Văn Nghệ Truyền Thanh do Thiên Hà phụ trách xong, hai người hay rủ nhau ra Câu Lạc Bộ Báo Chí, trước trụ sở Quốc Hội, góc đường Tự Do, Lê Lợi uống bia. Anh Nguyễn Đình Toàn cũng hay có mặt tại đó. Một lần, uống được một lúc, ông Hùng cởi bỏ áo vest, khoác lên lưng ghế, anh Toàn cười bảo:

– Mày cởi áo ra, coi chừng gió quạt trần nó thổi bay mày đi bây giờ.

Ông Hùng:

– Tao gầy, nhưng đâu đến nỗi nào. Bữa nay nóng quá, toát cả mồ hôi ra rồi.

Anh Toàn:

– Mày mà cũng có mồ hôi cơ à. Tao tưởng trong người mày chỉ toàn dầu lạc – dầu đậu phọng – để đốt đèn hút thôi chứ.

Nghe anh Toàn nói thế, ông Đinh Hùng cười hề hề. Họ thân nhau, luôn xưng hô mày tao, nên những lời đùa rỡn, không vì thế làm mích lòng nhau.

Năm 1967, bệnh ung thư gan của ông Hùng trở nặng, không qua khỏi. Đám tang của ông được rất nhiều người trong giới văn nghệ sĩ và người hâm mộ tham dự. Linh cữu được các người thân quen chuyển: hàng đầu do thi sĩ Vũ Hoàng Chương và đạo diễn Thiếu Lang khiêng, hàng thứ hai do Nguyễn Đình Toàn và Hoàng Trúc Tâm, hàng thứ ba do hai đạo diễn Hoàng Anh Tuấn và Minh Đăng Khánh phụ trách, hàng thứ tư do nhạc sĩ Thục Vũ và thi sĩ Đông Hồ.

Khi linh cữu được chuyển lên xe tang và chuyển bánh, mấy người bạn con ông Hùng và những người hâm mộ ông chia nhau khiêng hoa tang, số hoa còn lại, được chất đầy xe tang và xe của thân hữu đưa tiễn. Ngoài những người khiêng hoa đi bộ trước xe, hai bên xe tang còn hai hàng thiếu nữ mặc toàn đồ trắng đi kèm hai bên. Và, mặc dù trời mưa, những người mang hoa và các thiếu nữ áo trắng vẫn không chịu lên xe theo lời mời của tang chủ. Nhà thơ Đinh Hùng được an táng tại nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi. Ông mất năm 53 tuổi.

Trong làng Phi Yến Thu Lâm sống bằng nghề viết lách, phải kể đến cao thủ Mặc Tử Nguyễn văn Thành. Anh Thành cộng tác với nhiều báo, nhưng nơi “kiếm cơm” chính của ảnh là báo Sài Gòn Mới của bà Bút Trà. Tuy là đệ tử Phi Yến Thu Lâm, nhưng Mặc Tử khác với các cao thủ khác là không bao giờ ép hay mời ai hút thử bao giờ. Mặc Tử thường nói phải có duyên với ả phù dung mới hút được, chứ miễn cưỡng, hút vào ói mửa ra hết, phí thuốc đi… Một điều “khó tin mà có thật” là Mặc Tử đi hút lại hay rủ Hoàng Trúc Tâm đi cùng, dù anh Tâm không nghiện hút. Rủ anh Tâm đi chỉ cốt có người có xe chở đi, nhất là có người chịu nghe Mặc Tử tâm sự. Đến bàn hút, Mặc Tử phê, Tâm ngồi bên nghe Mặc Tử nói. Cũng nhờ vậy, anh Tâm biết thế nào là dọc tẩu tốt, cái nào dở. Theo Mặc Tử, dọc tẩu tốt, ngon, là dọc “bão đăng hoài thai” -tức diện để thuốc hút phải úp khít vào ngọn đèn, còn thân dọc tẩu phải có những đoạn hơi phình lên như “có chửa” mới là dọc tẩu tốt. Cũng nhờ Mặc Tử, mà anh Tâm còn biết được một điều “bí mật” là phần nhiều các đệ tử Phi Yến Thu Lâm rất ghét nước, do vậy các ngài ít khi tắm, vì sợ nước làm cho “bay” mất thuốc. Còn nếu như bất đắc dĩ phải tắm, thì đa số chỉ lau người bằng khăn ướt hay tắm… búng… . “tắm búng” nghĩa là khi người các ngài có mồ hôi, các ngài bèn dùng tay gãi, rồi búng ghét đi cho… sạch. Khi nghe Mặc Tử nói cho biết “lối tắm” này, anh Tâm đã hét lên… sợ, thì Mặc Tử cười, bảo với anh Tâm: đừng hở cho ai biết nghe mày… “bí mật quốc gia đấy”.

Hoàng Trúc Tâm và Mặc Tử là bạn học với nhau trong mấy năm đầu di cư từ miền Bắc vào Nam. Mặc Tử còn kể lại chuyện thời gian đầu anh ở quân trường Quang Trung, vì bị “cảnh sát mộ – tức là bị bắt lính” bất tử nên đã khốn khổ vì bị cơn ghiền hành, vì ngoài mấy “bi” xái để thầu, đâu có thuốc đâu. Sau, có anh bạn bên Trung Tâm ba nhập ngũ gửi gấm, nên Mặc Tử đã được ông trung sĩ thư ký tiểu đoàn tân binh thương tình giúp đỡ, bằng cách cho làm thư ký đại đội tân binh. Được làm thư ký đại đội, không phải tập nhiều, và có thể ở “nhà”, ở doanh trại, những khi cơn ghiền đến có thể chống trọi bằng mấy xị rượu cho qua cơn. Và lâu lâu, ông trung sĩ lại dẫn Mặc Tử ra ngoài Trung Chánh kiếm mua giấy, màu, về làm bích báo cho đại đội. Nhân dịp đó, Mặc Tử đã tìm ra một cao thủ địa phương có bàn đèn tại nhà, thuận cho Mặc Tử hút. Vét hết tiền lương quân dịch đưa cho chủ nhà để trả tiền thuốc, thế là Mặc Tử thoát được “cơn nguy biến”. Mặc Tử còn gặp may nữa, là trước khi tất cả các tân binh quân dịch được đi phép hàng tuần, trong đại đội của anh, có một anh bạn ở Chợ Lớn được đi phép đặc biệt, vì có tang ông bác ruột, thế là Mặc Tử bèn nhờ anh bạn này tìm cách kiếm cho mình bộ đồ nghề để tự hút, mà không còn phải phiền đến người khác. Lúc đầu anh bạn này từ chối, vì anh đã từng chứng kiến ông bố ruột anh khổ sở vì thuốc xái, nhà đã nghèo, kiếm không đủ ăn thế mà có đồng nào ổng lại nướng hết cho Phi Yến Thu Lâm, thú chẳng thấy đâu, trong khi vợ con đói lên đói xuống. Nếu như không nhờ được giới thiệu làm trung gian cung cấp rau trái cho quân đội Mỹ, thì gia đình đã không thể ngóc lên nổi. Khi thấy bị từ chối, Mặc Tử bèn “biểu diễn” một màn “khổ nhục kế” là đang ngồi nói chuyện, cao thủ nhà ta tự dưng ngã vật ra, mắt trợn trừng, chân tay co giật, làm như “sắp đi” đến nơi, chừng được mớm mấy bi sảm mới dần tỉnh lại, thều thào:

– Không thóc khổ thế đấy, tưởng vài bi để dành đợi bạn đi phép giúp có đồ nghề, nên không dám xài hết… không ngờ… .

Cao thủ Mặc Tử chỉ than thân trách phận vậy thôi, không ngờ anh bạn Chợ Lớn chợt nhớ đến ông già mình cũng từng bị như vậy, nên đành nhận lời giúp, sau khi không quên lên lớp: “không biết hút sách ngon lành gì mà mấy người bập vào để đến nỗi khổ thế không biết. Tao có chết cũng không bao giờ ngậm vào cái dọc tẩu”. Và thật không ngờ, khi hết phép đặc biệt trở về, anh bạn Chợ Lớn đã dúi cho Mặc Tử cái dọc tẩu tuy cũ, nhưng Mặc Tử nhà ta bảo còn tốt chán. Về sau mới biết anh bạn Chợ Lớn đã lượm được cái dọc tẩu của ông già ảnh bỏ đi, vì đã khá giả, ổng đã mua sắm được bộ đồ ”ra hồn”. Anh bạn Chợ Lớn đã gỡ cái mặt để nhồi thuốc ra, phần diện dấu vào hộp đồ ăn, còn cái dọc cột chặt theo bắp chân. Anh bạn không những không lấy tiền mà còn trả lại số tiền Mặc Tử gửi mua. Nhưng có đồ nghề rồi, lại khổ nữa, vì không tạo ra được “sân chơơi”, vì lính tráng ngủ chung trong dẫy nhà cả chục giường, không thể ngang nhiên nằm hút trong phòng được, lại còn phải dấu an ninh, cuối cùng Mặc Tử tìm cách “thăng thiên”, tức là leo lên trần nhà, đặt một tấm ván lên đó, nằm hút. Cũng có lần bị an ninh lùng vì mùi thuốc phiện thơm lừng bay xa, nhưng rồi an ninh cũng bó tay, vì không ai ngờ cao thủ nhà ta lại tạo “trường bắn” trên trần nhà như vậy.

Anh Huân tôi kể, một lần theo Mặc Tử đến nhà một “đồng nghiệp” xin bài cho báo xuân, khi anh ấy còn ngoài “dân sự” ông này cũng là một tay Phi Yến Thu Lâm có hạng, ông ta có hẳn một căn gác lửng bằng gỗ dùng “để phê”, lần đó anh Huân tôi đã được chứng kiến một cảnh tưởng chỉ có trong tưởng tượng, đó là khi anh Mặc Tử và ông bạn phê được một lát, thì từ đâu đó, một con thạch sùng, hay còn gọi là con mối, bò ra khi ngửi thấy mùi thuốc. Con thạch sùng này có màu trắng ngà, nhìn rất sạch, rất đẹp, nó cũng đã bị ghiện. Không những nó bò ra “hút” mà còn tỏ ra thân thiện với chủ nhà, vì có lúc, anh Huân tôi thấy nó leo lên đùi chủ nhà nằm mà không một chút sợ hãi. Mặc Tử bảo đó là bạn hút lâu năm của ông bạn anh… . Mặc Tử sau thời gian huấn luyện ba tháng ở quân trường, cộng thêm mấy năm được giữ lại làm việc tại phòng Tâm Lý Chiến Quang Trung, anh đã bị đổi ra sư đoàn 5 bộ binh, vì lý lịch nghiện hút. Mặc Tử bị đổi ra đơn vị mới đúng vào thời điểm chiến trường An Lộc gay go nhất. Anh đã tử trận ngay lần đầu nhẩy trực thăng vận.

Anh Huân tôi kể tiếp: từ chuyện con thạch sùng ghiền thuốc phiện, anh nhớ lại một vị đàn anh trong làng báo trong một lần nhậu đã kể, khi chưa di cư ông đàn anh đã làm báo viết văn… và hẳn nhiều người còn nhớ khoảng thời gian 1930, 1932 ở Hà Nội – khu vực Hàng Đào, Hàng Bạc đã xảy ra mấy vụ trộm, mà không tìm ra thủ phạm. Điều lạ là nhiều nhà bị trộm vét khi chủ nhà có mặt ở nhà, hoặc bị trộm vét mà cửa vẫn đóng, then vẫn cài. Đặc biệt, hình như kẻ trộm biết lựa đồ để lấy. Toàn những thứ gọn nhẹ, đắt tiền như đồng hồ, kính, vòng chuỗi. Cảnh sát, miền Bắc gọi là Phú Lít, từ chữ Police mà ra, cho người canh rình nhiều ngày, nhiều nhóm bất hảo được gọi điều tra, nhưng họ đều chứng minh được họ không phải là thủ phạm những vụ trộm ấy. Mãi đến một lần khu Hàng Đào, Hàng Bạc bị mất điện do trận mưa to gió lớn tạo ra, nhân viên điện lực sau khi sửa chữa, đã tìm thấy xác một con khỉ khá lớn, bị điện giật chết, do giây điện đứt, điện truyền vào một lan can bằng sắt một căn nhà lầu, trên mình con khỉ còn quấn vòng xuyến, chắc mới trộm được. Lúc đó, mọi người mới biết thủ phạm các vụ trộm bí mật. Cũng từ xác chết của con khỉ, cảnh sát đã tìm ra thủ phạm chính là một anh chệt già, ghiền thuốc phiện. Ông tàu này đã huấn luyện cho chú khỉ đi chôm đồ về nuôi ông ta. Nhờ thân hình nhỏ, chú khỉ đã len lỏi qua chấn song cửa sổ dễ dàng, mà không bị phát hiện. Nếu không có trận mưa bão, và nếu chú khỉ không chết, chắc cảnh sát không thể tìm ra thủ phạm của các vụ trộm đã xảy ra.

Kể cho tôi nghe về chuyện chú khỉ chôm đồ năm xưưa xong, anh Huân nói với tôi:

– Không biết những điều đàn anh kể chuyện năm xưa, có bị các ngài “bẹc” không, vì những năm đó chưa có mặt tao trên cõi đời này.

Tôi cười:

– Chắc không sai đâu. Đối với các ông ấy thiếu gì chuyện ly kỳ hơn, bẹc chuyện khỉ ăn trộm làm gì. Em nghĩ mấy tờ báo thời ấy, nếu có chuyện khỉ ăn trộm thế nào chẳng có báo loan tin. Tìm trong thư viện cũ ở Hà Nội để check lại không khó, chỉ sợ thư viện trung ương bị tụi ngu trộm bán ve chai lấy tiền thì không kể.

Sau ông Đinh Hùng, và cao thủ Mặc Tử tôi xin kể lại những điều tôi được biết về anh Hoàng Anh Tuấn. Du học bên Pháp về, năm 1958, nhưng tuy là dân Tây học, dân đi Tây nhưng anh lại hết sức xuề xòa. Quần áo thích mặc nhất là quần lính treillis, dù phía trên mặc áo đẹp hay áo thường không cần biết.

Hoàng Anh Tuấn thường nói:

– Mặc như thế là sang lắm rồi. Hồi còn ở Tây, gặp đúng lúc Vẹm và Tây đánh nhau, không nhận được “chi viện” của gia đình, mùa đông tao mặc cái quần dạ, khi cởi ra giặt, cái quần không đổ xuống mà đứng thẳng đơ, đủ hiểu ra sao rồi. Đấy là chưa kể vì ít tiền căn phòng mướn ở trọ trên tầng cao vút, cao gần thấy cổng nhà trời, mùa đông lạnh cứng người, bao nhiêu quần áo lấy mặc hết lớp nọ đến lớp kia cũng không thấm gì, tao phải mua một bóng đèn 500 watts thủ trong chăn mới chợp mắt được. Tuy bớt lạnh, nhưng lại sợ bóng đèn bể, mất giống, thì tan nát đời trai.

Đầu tóc cũng thế, không hề quan trọng với anh Tuấn. Hễ tóc dài, anh sẵn sàng gọi người hớt tóc dạo đi qua nhà vào hớt… . Mặc dù “cậu” ở Tây nhiều năm, nhưng khi ngồi viết bài ở nhà hay ở tòa báo, luôn luôn co chân trái lên ghế, như dân chạy nước lụt, và môi miệng luôn méo mó, luôn uốn éo như đứa trẻ đang tập viết. Thời gian chưa lên trông coi đài phát thanh trên Đà Lạt, gia đình Hoàng Anh Tuấn ở trong trong cư xá Chu Mạnh Trinh, Phú Nhuận, anh đã nhận lời lo phần kịch bản cho chương trình Kịch Vô Tuyến trên đài phát thanh Quân Đội. Anh Tuấn bảo với anh Tâm, trưởng ban kịch: chỉ chơi kịch mới. Và mỗi tuần anh đã có một vở kịch như đã nói. Hoàng Anh Tuấn cũng chính là người đặt tên cho chương trình kịch vô tuyến ấy là Ban Kịch Nói Đêm Hồ Gươm. Anh bảo, đừng dùng tiếng thoại kịch, nó nhàm rồi, xài đã cũ mòn rồi. Ngoài thính giả, tên và ban kịch Đêm Hồ Gươm đã được trung tá Quản Đốc Đài, cũng là nhà văn Kỳ Văn Nguyên rất thích. Tôi lúc đó đã ở lính, ở tiểu đoàn 50 chiến tranh chính trị, phía sau Cục tâm lý chiến, mỗi lần ban kịch Đêm Hồ Gươm có giờ thâu, tôi hay sang xem, nhân thể làm quen với anh em văn nghệ sĩ của đài Quân Đội. Tôi đã quen biết anh Hoàng Anh Tuấn trong dịp này.

Một lần cùng anh Tâm đến đón anh Tuấn vì có giờ thâu, đến nơi thấy anh Tuấn còn đang ngồi viết phần cuối của vở kịch chưa xong, nhìn anh Tuấn viết, Tâm đã nói:

– Ngồi nhìn ông viết, mệt bỏ mẹ đi, nắn nót từng chữ… Mà cũng có đẹp hơn chút nào đâu… .

Tuấn cười:

– Ai bảo mày nhìn. Nhắm mắt lại, nếu mệt tụi bay ra kia nằm, khi nào xong, tao gọi.

Cũng như Nguyễn Thụy Long, anh Tuấn viết cũng rất nhanh. Một vở kịch vô tuyến phát thanh trong một tiếng, Hoàng Anh Tuấn chỉ viết trong một đêm. Vừa viết, vừa phân vai xem ai đóng vai kịch đó thích hợp. Ngoài ra, anh còn lựa nhạc nền và nhạc hay tiếng động chuyển cảnh lấy mà không cần đến người phụ trách kỹ thuật.

Hoàng Anh Tuấn nhiều khi đến đưa bài cho báo Thứ Tư tuần san, thấy anh Tâm bận, anh Lâm Vị Thủy người phụ trách phần thơ của độc giả, có giờ dạy, chưa đến tòa báo được, thế là anh tự động lục thư và bài của độc giả gửi đến, trả lời thư hay sửa bài của độc giả dùm. Có lần anh Tuấn đã “làm dùm” một bài thơ cho một người. Anh bảo:

– Tay này đã nhiều lần gửi thơ cho báo, nhưng không lần nào có thể chọn đăng được. Lần này cũng vậy, nhưng tao thấy ý của bài thơ lần này rất được, nên tao khuyến khích tài năng mới, kẻo tội nghiệp.

Một lúc sau anh Tuấn đưa anh Tâm bài thơ, cười:

– Này mày đọc xem có được không, nếu được, thì cho sắp chữ.

Khi thấy anh Tâm tin tưởng, định đưa thẳng bài cho nhà chữ, mà không đọc, Tuấn đã la lên:

– Đọc đi mày. Xem sao.

Nể lời, anh Tâm đọc bài thơ anh Tuấn mới làm và bài chính của độc giả gửi. Thì ra anh Tuấn đã khuyến khích tài năng mới bằng cách làm “mới” hoàn toàn bài thơ, mà chỉ giữ lại phần tên của bài thơ và tên tác giả.

Đợi anh Tâm đọc xong, anh Tuấn cười:

– Thế nào báo tụi bay kỳ này cũng bán thêm cả chục số. Cu cậu sẽ sướng mê. Thấy có bài được đăng, sẽ mua tặng bạn bè, nhất là để lấy le với người yêu… hì… hì… cũng giống như mình thở còn tình yêu thời học trò ấy mà.

Ngoài say mê điện ảnh, Hoàng Anh Tuấn còn làm thơ, viết kịch, viết tiểu thuyết hàng ngày trên một số nhật báo, tuần báo. Anh còn là một cây tiếu lâm. Anh kể chuyện vui, mà mặt tỉnh bơ. Đặc biệt, chuyện tiếu lâm hoàn toàn do anh “sáng tác”, do anh bịa ra. Một hôm tại tòa soạn Báo Mới, sau khi viết xong phần truyện của ngày hôm ấy, Tuấn ra ngồi ở khu của mấy cô thư ký trị sự, đã kể chuyện:

– Chiều hôm qua đang ngồi uống bia với mấy người bạn ở Kim Sơn, tao chứng kiến một tai nạn, suýt chết người. May mà tay cảnh sát và mấy người đi đường nhanh tay cứu kịp. Không thôi cả cha chạy xe xích lô và khách chết tốt rồi.

Cô thư ký trẻ nhất nhanh miệng:

– Chuyện ra sao, chú Tuấn.

Tuấn thản nhiên:

– Có một cô đi xích lô… Cô ấy mặc áo dài “kiểu cổ áo bà Nhu – loại áo dài cổ rộng, do bà Ngô Đình Nhu hay mặc”, không biết cha đạp xe nghĩ gì, mà chiếc xích lô cứ lao vùn vụt, trong khi đèn đỏ phía xích lô đã bật từ lâu. Và phần đường chạy ngang đang đèn xanh, một chiếc xe Jeep của quân đội đang lao tới. Người cảnh sát vừa thổi còi, cùng mấy người buôn bán và đi dạo gần đấy chạy ra nắm thân xích lô, kéo lại kịp.

Khi chiếc xích lô ngừng lại rồi, người cảnh sát hỏi bằng giọng gay gắt:

– Chạy xe kiểu gì thế hả. Đèn giao thông đã bật đỏ rồi mà còn chạy… sao không thắng lại.

Người phu xe sợ hãi:

– Tôi … tôi có thắng… mà không hiểu sao cái xe vẫn trôi đi.

Người cảnh sát lại hét lên:

– Cái gì… anh thắng xe rồi đấy hả. Nhìn lại coi… . cái thắng xe mãi tít phía dưới kia kìa, cha nội.

Mới nghe thấy thế, mấy cô thư ký đã hét lên:

– Chú… chú… cái chú quỷ này.

Hoàng Anh Tuấn cười:

– Cái gì… sao gọi tao là quỷ, ai bảo mấy đứa nghe… . Lần sau bịt tai lại.

Một lần khác, anh Tuấn kể:

– Hai bà bạn lâu ngày không gặp nhau. Một hôm một bà đến thăm bà kia tại nhà riêng. Vừa lúc ấy, con trai bà chủ nhà về tới. Không đợi con bạn chào hỏi, bà khách đã nói như reo lên: “kìa, cháu… cháu lái phi công đấy hả”.

Con bà bạn lễ phép trả lời:

– Dạ thưa bác cháu lái phi cơ. Còn vợ cháu mới lái phi công ạ.

Bẵng một thời gian dài, sau ngày mất nước, tôi không có dịp gặp anh Hoàng Anh Tuấn, mãi đến năm 2005, từ Nam Cali lên Bắc Cali chơi, tôi theo anh Nguyễn Văn Quý cameraman thuộc nhóm Việt Ảnh của cố đạo diễn Bùi Sơn Dzuân đến thăm anh tại nhà dưỡng lão Mission De La Casa, anh bị bệnh nặng và không còn nói được, dù còn tỉnh, còn nhớ hỏi thăm những người quen cũ bằng cử động của hai bàn tay. Nhìn con người tài hoa, bây giờ nằm đấy, vẻ mệt nhọc hằn rõ trên gương mặt, tôi không dấu được dòng nước mắt ngậm ngùi.

Trong số những văn thi sĩ người gốc miền Bắc sau di cư vào miền Nam, không thể không nhắc đến nhà thơ Lê Minh Ngọc, tác giả tập thơ được giải thưởng văn học Trăng Thề. Tuy sống giữa Sài Gòn của những năm 1960 – 1970, nhưng nhà thơ họ Lê sống như những nhân vật xưa, đúng hơn những nhân vật trong tiểu thuyết kiếm hiệp: Chiêu Hiền Đãi Sĩ.

Hai ông bà Lê Minh Ngọc có tiệm cà phê và bánh mì điểm tâm mang tên Hòa Mã. Công việc kinh doanh do bà Ngọc đảm nhiệm. Ông Ngọc xuất hiện ở quán, ngồi đọc báo tại một bàn riêng như một người khách. Ông ngồi đấy như một cách “trang trí” cho quán hàng. Quán Hòa Mã rất đông khách, vì chỉ riêng cà phê không thôi, người uống một lần rồi luôn nhớ trở lại. Hàng ngày, sau ba giờ chiều quán đóng cửa. Từ năm sáu giờ trở đi là “giang san” riêng của ông Ngọc. Những chiếc bàn ghế của quán cà phê buổi sáng, được kéo sát lại theo chiều dọc của quán, đồ nhậu được bày sẵn, khi có khách “chiêu hiền đãi sĩ” của ông Ngọc đến, bia mới được khui ra, chỉ có một loại bia chai lớn, có hình trái dứa nhỏ xíu bên cạnh hình trang trí bên ngoài vỏ chai bia. Dù bia đã được ướp lạnh, bao giờ trong ly của “khách” cũng có đá cục. Chủ nhân Ngọc thường nói với bạn bè:

– Những người biết uống bia và biết thưởng thức cái ngon của bia, phải uống loại bia chai lớn có hình trái dứa, và bia phải thật lạnh.

Mà muốn luôn có nhiều bia có hình trái dứa, đâu có dễ dàng gì, chủ nhân phải đặt tại một đại lý quen thân, chủ đại lý phải cho nhân viên lựa từng chai có hình đặc biệt, để riêng cho bạn. Phải cầu kỳ, tốn công như vậy, vì trong một thùng bia thường chỉ có một, hai chai có hình trái dứa là nhiều, có khi chẳng có chai nào, chỉ có chai “loại thường”. Nhà thơ họ Lê sẵn sàng “sẵng giọng” nếu có ai đó mang rượu, bia, hay đồ nhậu đếu góp, ổng bảo: bộ tụi bay khinh tao không đủ rượu mời bạn bè hay sao mà phải mang đến. Nhiều người đến với nhà thơ một hai lần, rồi “né” luôn, vì không muốn không được đóng góp.

Khách của “chiêu hiền đãi sĩ” làm đủ nghề, chứ không chỉ riêng giới thơ văn, báo chí. Một trong những người quen thân với thi sĩ Lê Minh Ngọc là “ông Nguyễn thị Đào” buôn bán vật liệu xây cất, cửa tiệm ở xế quán cà phê của nhà thơ. Mọi người gọi ông bằng tên đó, vì cửa tiệm bán vật liệu mang tên bà, mọi người gọi ông như vậy vì chợt nhớ đến nhân vật “Nguyễn Thị Đào” của bà Huyện Thanh Quan khi thay chồng xử án… “phó cho con Nguyễn thị Đào, nước trong leo lẻo cắm sào đợi ai”?

Người quen của nhà thơ Lê Minh Ngọc có thể mang bạn tới, và cũng được tiếp đón như nhau. Những người không phải giới thơ văn đến với ông Ngọc là do tò mò, vì nghe nói đến đó sẽ có dịp gặp mặt, chuyện trò cùng nhà thơ tiền bối Vũ Hoàng Chương, mặc dù nhà thơ họ Vũ không phải ngày nào cũng có mặt. Cũng có những cây viết, nhà thơ trẻ đến với hy vọng được các vị tiền bố để mắt đến mình. Còn có người đến đó để có dịp nhờ vả ông Trinh, một bạn thân của nhà thơ Lê Minh Ngọc, kiếm dùm chiếc xe hơi vừa với túi tiền. Nhờ ông Trinh giúp chắc chắn sẽ có được chiếc xe cũ còn tốt, vì ông Trinh là nhà buôn bán xe hơi tài tử, rất rành về máy móc, chỉ cần nghe tiếng máy xe nổ, ông Trinh có thể nói không sai xe bị trục trặc ra sao, trục trặc ở đâu. Không mấy người biết rõ về ông Trinh. Nhưng ông là người hào phóng, rất có uy tín. Nhiều lần ông đưa bạn bè đến những nhà hàng lớn, tôi đã chứng kiến cảnh sau chầu nhậu, ông Trinh bảo bồi nhà hàng mang hóa đơn đến để ông ký nhận, trả tiền sau. Không một người chạy bàn nào thắc mắc, trái lại họ còn vui vẻ nói lời cảm ớn.

Nhắc đến những cây viết tiền bối mà không nhắc đến ông Tiền Phong Từ Khánh Phụng là một thiếu sót. Ông Tiền Phong là người Minh Hương, tức “tàu lai” nhưng rất uyên thâm tiếng Việt. Ông Tiền Phong thông thạo tiếng Việt còn hơn nhiều người Việt chánh gốc. Ông dạy về diễn xuất tại trường quốc gia âm nhạc Sàigòn nhiều năm. Ngoài ra ông còn dịch truyện tàu đăng từng kỳ trên rất nhiều báo ở Sàigon trước 1975. Có thể nói không sai ông Tiền Phong là “cha đẻ” ra truyện kiếm hiệp dịch, nhất là những truyện của Kim Dung. Lần đầu tiên tôi thấy trên nhật báo Đồng Nai của ông Huỳnh Thành Vị, truyện dài mang tên Cô Gái Đồ Long, nhưng không biết đó là truyện hấp dẫn Đồ Long Ỷ Thiên Kiếm cùa Kim Dung, vì logo trên đầu truyện đăng hàng ngày trên Đồng Nai lại có hình một cô gái chít khăn mỏ quạ, như các bà, các cô gái miền Bắc xưa, nên giống như nhiều người nghĩ đó là tác giả viết truyện dã sử, viết về con gái của ông đồ tên Long nào đó, nên không để ý. Mãi sau tôi nhận thấy mỗi lần người tùy phái của tòa báo lấy báo hàng ngày của các báo bạn từ đại lý về, là mọi người dành nhau tờ Đồng Nai, dù đang bận. Tôi hỏi mới biết họ đọc “Cô Gái Đồ Long”. Thì ra vì lệnh của bộ thông tin, các báo đăng mấy truyện dài sáng tác cũng được, nhưng truyện kiếm hiệp chỉ được một truyện. Các vị chủ bút liền tìm cách qua mặt bộ thông tin bằng cách ngụy trang truyện dịch kiếm hiệp giống như Tiền Phong tiên sinh ngụy trang Đồ Long Đao Ỷ Thiên Kiếm của Kim Dung bằng tên Cô Gái Đồ Long. Sau khi biết rõ tông tích Cô Gái Đồ Long, tôi tìm đọc và “dính” luôn. Ông Tùy phái của tòa báo đã là nguồn cung cấp Ỷ Thiên Đồ Long Đao cho tôi từ đầu truyện.

Một lần đến nhà thăm ông Tiền Phong, nhân thể xin ông truyện mới cho báo, tôi đã thấy cách “viết” của ông. Nguyên một gian nhà giữa, ông để trống. Thay vào đó là hai dãy bàn ghế nhỏ, kiểu bàn ghế của tiệm cà phê lề đường, chỉ khác một điều trên mặt bàn là máy đánh chữ. Ông Tiền Phong đi giữa dãy bàn, dịch thẳng truyện từ nguyên bản tiếng Tàu cho mấy người đệ tử của ông ghi lại. Cứ xong một đoạn, ông lại đổi truyện khác cho người đánh máy kế tiếp. Sau khi dịch “miệng” cho đủ một kỳ báo, thì ngưng. Như vậy, sau mấy tiếng làm việc, Tiền Phong tiên sinh đã có bảy tám truyện cho bảy tám tờ báo một lúc. Ông Phong cho hay, mấy người đánh máy là học trò của ông, ông trả lương tháng, họ vừa giúp thày, vừa kiếm được tiền chi dụng trong đời sống sinh viên.

Sau nhà thơ Đinh Hùng, lần lượt các ông Vũ Hoàng Chương, Thục Vũ, Đông Hồ, “ra đi”. Nhạc sĩ Thục Vũ chết trong ngục tù cộng sản nơi miền Bắc, thi sĩ Vũ Hoàng Chương cũng mất khi từ nhà tù cộng sản về nhà được ít lâu. Rồi đến đạo diễn điện ảnh Minh Đăng Khánh. Nhưng Minh Đăng Khánh được “may mắn” hơn mọi người là trước khi mất, anh còn được gặp mẹ và mấy người em từ Hà Nội vào thăm. Bà cụ và các em Khánh năm 1954, bị kẹt không di cư vào Nam được. Khánh được gặp mẹ trước khi bị bắt trong đợt các văn nghệ sĩ miền Nam bị bọn cộng sản cầm tù sau khi miền Nam sụp đổ.

Đúng vào lúc bọn công an đọc lệnh bắt giam Minh Đăng Khánh có mặt bà cụ và Nguyễn Thụy Long. Long đã may mắn thoát ra cửa sau an toàn. Khi sắp giải Khánh đi, một tên công an hỏi:

– Người vừa ngồi đây đâu rồi – hắn là đồng bọn anh kia phải không – người mà bọn công an hỏi là Long.

Bà cụ mẹ Khánh nhanh trí trả lời;

– À, chú ấy là thợ sửa xe đầu đường, con tôi sửa xe chịu, nay chú ấy đến đòi tiền.

May bọn công an không làm khó, vì tụi nó biết bà cụ Khánh mới từ miền Bắc vào chơi và hiện ở nhà người em ruột Khánh đang là phó tổng biên tập báo Sài Gòn giải phóng. Khoảng trưa ngày hôm sau, Hoàng Trúc Tâm vô tình đến thăm anh Khánh, mà không biết Khánh đã bị bắt. Bà cụ Khánh vừa chỉ cửa sau vừa nói nhỏ:

– Thằng Khánh bị bắt chiều hôm qua. Anh đi ngay đi, đi lối sau, trà trộn vào dẫy hàng chợ mà đi, hết sức cẩn thận, bọn chúng còn ngồi rình ở cửa trước đấy.

Nói xong, bà cụ mở cửa trước, làm như hỏi han ai điều gì đó, nhưng thực ra là tìm cách cầm chân tên công an. Bao nhiêu năm sống kẹt lại ở miền Bắc, bà cụ Khánh quá hiểu rõ bọn chúng ra sao.

Phía cửa sau nhà Khánh có một cái chợ nhỏ, anh Tâm dắt xe đạp vờ lựa mua mấy thứ, khi đến cuối chợ rẽ nhanh vào xóm nhà gần bên, đi thoát. Sau một thời gian bị giam giữ, Minh Đăng Khánh được thả… Rồi Khánh bị tai biến mạch máu não, hôn mê ba bốn ngày liền, khi hồi tỉnh lại anh bị liệt một bên người, nhưng không nặng lắm. Thời gian này Miên Đức Thắng, ký giả Dạ Thảo, Nguyễn Thụy Long và Hoàng Trúc Tâm thường lui tới thăm viếng Khánh.

Trong số bạn bè văn nghệ, Long và Tâm thân với Khánh nhất, vậy mà Khánh không một lời thở than tâm sự gì với bạn. Nhưng một người em vợ Khánh một lần đã kể với anh Tâm rằng anh Khánh bị tai biến mạch máu não do quá buồn phiền vì người em út Khánh gây ra.

Theo lời người em vợ Khánh, năm 1954 chỉ một mình Khánh thoát được vào Nam, toàn bộ gia đình bị kẹt lại. Một người em Khánh rất quý mến anh đã lấy bút hiệu Minh Đăng Khánh của anh làm bút hiệu cho mình, vì anh ta cũng là một cây viết lách ở ngoài Bắc. Sau 1975 Khánh em vào Nam, làm phó rồi làm tổng biên tập tờ Sài Gòn Giải phóng, vì công việc, Khánh em đã viết những bài đả kích người và chế độ Sài Gòn cũ. Những người bạn của Minh Đăng Khánh anh, do vì không rõ sự việc, nghĩ là Minh Đăng Khánh bạn mình giờ đã chạy theo Việt cộng giống như một số tên viết lách theo cộng, bị mọi người khinh bỉ gọi là “cách mạng 30”.

Một hôm, một người quen báo cho anh Tâm biết Minh Đăng Khánh lại mới được đưa vào bệnh viện Nguyễn Văn Học, vì bị đứt gân máu lần nữa. Tâm vội chạy vào bệnh viện thăm, bệnh viện cho biết Khánh không qua khỏi, xác đã được đưa về nhà. Đứa con thứ hai của anh Khánh kể:

– Cháu thường đẩy xe cho bố cháu đi dạo, sáng hôm ấy đi ngang chợ Bà Chiểu bố cháu nói muốn ăn phở. Vào tiệm, phở được mang ra, hai bố con mới ăn được mấy miếng, chợt thấy bố cháu đánh rơi đũa muỗng, đầu ngoẹo qua một bên, thế là cháu vội đẩy xe đưa bố cháu vào bệnh viện cấp cứu,nhưng lần này không còn cứu được nữa.

Đám tang Minh Đăng Khánh ngoài các bạn trong giới viết văn làm báo như Thiếu Lang, Hoàng Hải Thủy, Sao Biển, Nguyễn Thụy Long, Hoàng Trúc Tâm, còn rất nhiều đạo diễn, diễn viên điện ảnh và các nghệ sĩ cải lương từng làm việc với Khánh. Khi thấy Nguyễn Thụy Long khóc bạn, một ông bạn trong giới cải lương đã nói với Long trong ngậm ngùi:

– Đừng khóc anh ơơi. Mình phải mừng cho Khánh mới đúng. Mừng anh ấy đã thoát được khỏi nhà tù khổng lồ này rồi.

Cũng như đám tang ông Đinh Hùng, có những cô mặc áo trắng đi bên xe tang, đám tang Minh Đăng Khánh những cô học trò lớp dạy vẽ do Minh Đăng Khánh hướng dẫn, mang trên tay họa phẩm, đã được thày khen ngợi, những họa phẩm ấy được đóng khung đàng hoàng. Đi đầu mấy cô cậu lớp hội họa là họa phẩm “chân dung” thày… khổ lớn. Nhưng không phải thày tự họa, mà đó là bức hình vẽ một anh hề, quần áo, mũ, màu là một anh Hề ngoại quốc mà mọi người có thể dễ dàng nhận thấy trên bất cứ poster quảng cáo của các gánh xiếc Anh Mỹ thường thấy hay trong phim, chứ không phải Hề trong các tuồng cải lương. Chỉ có một điều đặc biệt là anh Hề Minh Đăng Khánh trên tay lại cầm một bông SEN và mất một cái răng cửa. Bức hình mà Khánh nói là “tự họa”, được hoàn thành trước khi Khánh mất khoảng một tháng.

Hai anh Nguyễn Thụy Long và Hoàng Trúc Tâm bắt Khánh “giải thích” ý nghĩa bức “tự họa”, Khánh chỉ cười nói tôi đấy, rồi nhất định không nói gì hơn. Sau khi Khánh mất, hỏi vợ con Khánh cũng không ai biết gì về bức “tự họa”… Bà cụ của Khánh nói: Đến tôi hỏi về bức hoạ ấy, nó cũng chỉ cười. Có lẽ Khánh muốn mọi người hiểu về mình thế nào cũng được… Ông em Khánh đã khiến mọi người hiểu lầm về Khánh rất nhiều.

Nguyễn Toàn, Sydney
Nguồn: Tác giả gửi

Đã đóng bình luận.