Khi thi sĩ làm Mẹ… và sáng tác bằng Tiếng-Nuôi-CON

Posted: 13/04/2016 in Bút Đàm / Phỏng Vấn, Lê Thị Huệ, Trangđài Glassey-Trầnguyễn

Lê Thị Huệ & Trangđài Glassey-Trầnguyễn

bia-mua_yeu_con
Hình: Olivier Glassey-Trầnguyễn

LTS: Nhân dịp Trangđài xuất bản tập thơ “MÙA YÊU CON Thứ Nhất” (2012), Nhà văn Lê Thị Huệ, Chủ biên Gió O (gio-o.com) đã có cuộc chuyện trò với thi sĩ về kinh nghiệm làm Mẹ và tác phẩm này, cũng như kinh nghiệm sáng tác bằng tiếng Việt, mà thi sĩ gọi là Tiếng-Nuôi-CON. Để có sách tặng người thân trong ngày Mother’s Day, xin liên lạc: vietamproj@gmail.com, 714 204 8340, trangdai.net.

Gió O: Tại sao là tác phẩm thứ nhất là một tập thơ về con yêu, Mùa Yêu Con?

TGT: Thưa Gió O, “MÙA YÊU CON Thứ Nhất” (2012) là tập thơ thứ năm của tôi. Tập thơ đầu tay, “nếu Mẹ thích – if you like, Mom” (2002) là tâm tình của một đứa con bằng máu mủ (đối với mẹ đẻ) lẫn một đứa con tinh thần (của Mẹ Việt Nam). Đây là một tập thơ song ngữ, với bản dịch 13 thứ tiếng. Tập thứ hai diễn đạt những cảm nghiệm tâm linh với cái tựa rất nghịch, “Cút Bắt (2002). Tập thứ ba ghi lại chuyến về thăm nhà đầu tiên sau bốn năm ở Mỹ, “những điều trông thấy – of things i’ve seen” (viết 1998, in 2004). Tập thứ tư nói về những đứt đoạn trong quan hệ cha con khi Ba tôi bị tù cải tạo và sau đó đi vượt biên, cũng như những ngày đầu tiên gia đình đoàn tụ tại Mỹ, “X–X1: Thuyền Nhân Khúc cho Ba – Songs for a Boat Father” (2004).

Tại sao lần này lại về chuyện con yêu? Thưa, lý do đơn giản là vì tôi vừa bước vào kinh nghiệm làm mẹ trong vài năm gần đây. Từ lúc hoài thai, thì đã có những cảm tác khởi đi những mạch nước mới về mặt tâm lý, tình cảm, thể lý đang chảy trong tôi. Tuy sinh con là chuyện ngàn đời của nhân loại, nhưng tôi vẫn coi đó là một đặc ân. Có nhiều phụ nữ không có cơ hội sinh con, vì hoàn cảnh hay vì yếu tố sức khỏe. Có nhiều phụ nữ hiếm muộn ước ao được khổ vì cấn thai, mà không được.

Có lẽ chủ đề của các tập thơ trước cũng lý giải phần nào chủ đề của tập thơ này. Tôi viết về những trăn trở lớn trong đời mình. Tập thơ này, tuy nói về kinh nghiệm làm Mẹ lần đầu của tôi, nhưng cũng đụng chạm đến những chủ đề trong bốn tập thơ trước. Tập thơ đầu nói về tình mẫu tử, về Mẹ tôi và những hình ảnh người Mẹ Việt Nam khác mà tôi đã gặp trong cuộc sống, thì có quan hệ Mẹ–Con với tập thơ này. Từ “nếu Mẹ thích” cho đến “MÙA YÊU CON Thứ Nhất” là một giai đoạn chuyển mình của tôi cả trong đời sống (từ một người con gái, trở thành một người mẹ), lẫn trong sáng tác.

Tập thơ thứ hai là thơ cảm nghiệm, nói về kinh nghiệm tâm linh. Trong tập thơ “MÙA YÊU CON Thứ Nhất,” tôi cũng có nói nhiều đến chiều kích tâm linh của kinh nghiệm làm mẹ. Tập thơ thứ ba nói về đời sống tại Việt Nam, nhất là về những bất công đối với người nghèo. Trong bài “Con là Quê Hương của Mẹ” mà nhạc sĩ Trần Quang Lộc đã phổ nhạc, tôi có nói đến đời sống ở miền Tây Nam Bộ, và cái nghèo của người dân miền này. Về tập thơ thuyền nhân, thì đó là phần di sản của Ba để lại, nên chắc chắn phải có mảng lịch sử này hiện diện trong dòng huyết mạch cộng thông mà tôi cho rằng vẫn tuôn chảy từ đời này sang đời khác.

bun_non_man_min_tan_gion-olivier_glassey_tranguyen
Bùn non mẫn mịn, tan giòn… (Hình: Olivier Glassey-Trầnguyễn)

Gió O: Mẹ hoặc là Con là ám ảnh chính trong tập thơ đầu tay này?

TGT: Ám ảnh chính vốn là Con, nhưng hình ảnh của Mẹ (cả Mẹ đẻ, lẫn Mẹ Việt Nam) cũng hiện diện qua huyết mạch cộng thông. Tôi là chiếc cầu – vừa là Mẹ, vừa là Con – trong tập thơ này. Nhưng ở nhiều cách, Mẹ và Con không tách rời nhau trong “MÙA YÊU CON Thứ Nhất.” Vì độc giả được gặp Con qua tâm tình của Mẹ nói với Con qua từng lời, từng chữ. Và chắc chắn độc giả cũng gặp Mẹ qua mỗi câu thơ vì bà mẹ trẻ này ám ảnh cả tập thơ với sự mê con quá độ của mình. Mẹ đeo sát Con, nên nói đến Con, thì thế nào cũng có dính líu đến Mẹ.

Tập thơ phản ánh tất cả sắc màu của một tâm hồn phụ nữ lần đầu làm mẹ, từ tân toan đến hân hoan, từ hóm hỉnh đến dịu dàng. Tuy tập thơ chuyển tải những buồn vui, lo lắng, vất vả, khó nhọc của trách nhiệm làm mẹ, nhưng tình cảm chủ đạo vẫn là niềm hân hoan bất tận. Có lẽ cái dở nhất của tôi là hay lo (tuy cổ nhân có nói, ‘Người khéo thường bận, người khôn hay lo,’ nhưng tôi lo nhiều thì chỉ thấy mình khờ thêm vì mệt). Lo thật nhiều. Lo liên tục. Lo không chịu nghỉ. Cho nên thời gian đầu mới có con, tôi bị căng thẳng và đuối sức, vì muốn làm thật nhiều cho con, cái gì cũng lo hết. Một phần vì chưa có kinh nghiệm, nhưng một phần lớn hơn là vì yêu con. Nhưng sau một thời gian thì bớt lo hơn, cảm thấy mình bắt đầu quen việc, biết này biết nọ, biết chỗ mua quần áo trẻ em, biết súc bình làm sao, biết con ăn ngủ thế nào. Lúc đó, thì bắt đầu nghịch, và trong thơ cũng phản ánh cái nghịch ngợm của một bà mẹ trẻ, vừa trêu chọc con, vừa tự trào mình.

Có lẽ tính hài hước là nét đặc biệt rất riêng của tập thơ này. Trước nay, tôi đã quen với hình ảnh một người mẹ Việt Nam hiền lành, dịu dàng, mẫu mực. Đó là hình ảnh truyền thống. Thật ra, chắc chắn cũng có nhiều bà mẹ có tính hài hước, nhưng có lẽ hình ảnh đó chỉ được giữ riêng trong mỗi gia đình. Còn tôi thì là một bà mẹ Việt Nam, nhưng ở hải ngoại, lại hay nghịch, nên trong thơ cũng có những nụ cười sôi nổi của riêng tôi. Có lẽ sự trong sáng và huyền dịu của bé con đã cho tôi cái hồn nhiên này, sống lại cái không gian vô tư và không ưu phiền, dễ dàng buông xã và không chấp, nhận chân đâu là điều quan trọng nhất trong cuộc sống. Để sống với cái “Không.” Cả Mẹ và Con cùng ám ảnh cái “Không” này, và cùng nên một trong nó. Trong suốt gần bốn mươi tuổi đời, tôi chưa bao giờ có một mối dây nào mật thiết hơn là mối dây với Con.

Gió O: Việt ngữ lăn lộn với Glassey–Trầnguyễn như thế nào để chúng có thể phát tiết thành thơ, khi mà ngôn ngữ sử dụng của cô với chồng con với công việc, với các sinh họat hằng ngày là tiếng Mỹ. Cô sống ở ngoại quốc, lập gia đình với người không phải là Việt Nam. Tại sao phải viết thơ bằng thứ ngôn ngữ mà cô không dùng hàng ngày?

TGT: Nếu sữa mẹ là di sản thể lý đầu tiên tôi trao cho con sau khi con ‘xuất cung,’ để con được lớn lên và mạnh khỏe cả đời, thì Tiếng Việt là di sản tinh thần đầu tiên và có thể là quý giá nhất mà tôi dành cho con. Từ nhỏ, tôi rất yêu văn chương, ngôn ngữ Việt, tuy thời hậu 1975 thì sách vở và chữ nghĩa bị chôn sống. May mà còn sót vài cuốn giảng văn từ thư quán mà Ông Bà Ngoại tôi kinh doanh trước 1975. Vừa sang Mỹ năm 1994, tôi đã đi dạy Việt ngữ ngay, trong khoảng 10 năm, đồng thời cũng huấn luyện các thầy cô Việt ngữ trong những khóa mùa hè. Ngôn ngữ và văn hóa Việt luôn là niềm đam mê và nỗi quyến rũ lớn nhất của tôi.

Tôi vẫn thường hóm hỉnh, bảo rằng mình luyến ái NHIỀU ngôn ngữ, mà trong đó, tiếng Việt đứng hàng đầu, và có một vị thế bất khả xâm phạm. Tiếng Việt vừa là tiếng Mẹ đẻ, nhưng cũng vừa là Tiếng-Nuôi-CON của tôi. Từ khi con còn trong bụng, tôi đã nói chuyện với con bằng tiếng Việt, cho đến hôm nay cũng vậy. Vì vậy, tập thơ này hình thành hoàn toàn trong Việt ngữ (trong khi tập “X–X1: Songs for A Boat Father – Thuyền Nhân Khúc cho Ba” lại khởi đi trong tiếng Anh, có lẽ vì đây là một trong những đề tài chính mà tôi nghiên cứu trong gần hai thập niên qua). Tôi vẫn luôn dùng tiếng Việt thật nhiều, nhất là khi sáng tác, vì đây vẫn là ngôn ngữ mà tôi yêu và cảm nhất, dù vẫn còn tiếp tục học mỗi ngày. Trong nghiên cứu, tôi vẫn tiến hành những Dự án đi sát với tâm thức và kinh nghiệm của người Việt, và vẫn dùng tiếng Việt trong những cuộc phỏng vấn lịch sử truyền khẩu tôi đã thực hiện trong hai thập niên qua tại nhiều nơi trên thế giới.

Ở nhà, tuy hai vợ chồng nói với nhau bằng tiếng Anh, nhưng tôi luôn nói với con bằng tiếng Việt (và chồng nói với con bằng tiếng Pháp, tiếng Mẹ đẻ của anh ấy). Khi đưa con đi khám thường kỳ, Bác sĩ nhi khoa có hỏi cháu nói tiếng gì. Tôi trả lời, “Cháu nói tiếng Việt với Mẹ, tiếng Pháp với Ba, và nghe lén (Ba Mẹ) bằng tiếng Anh.” Tuy chồng tôi là người Thụy Sĩ du học sang Mỹ (và gặp/yêu/cưới tôi tại California), nhưng anh ấy vẫn bảo, “Kiếp trước, anh cùng quê (Gò Công) với em.” Nếu tin vào duyên tiền kiếp, thì tôi vẫn lấy chồng Việt, và có thể như vậy thật, vì anh ấy đón nhận văn hóa Việt Nam một cách rất tự nhiên và chan hòa, nhất là trong lần về thăm quê đầu tiên năm 2008.

Trong hoàn cảnh riêng, vì công việc, vợ chồng tôi phải xa nhau trong hai năm trời. Muốn có con ngay sau khi thành hôn, nhưng đành phải đợi. Khi có mang lần đầu, thì mới sáu tuần, đã phải mổ ruột dư. Trong 1,000 phụ nữ mang thai, thì chỉ có một người phải mổ ruột dư. May mắn là cả hai mẹ con đều an toàn. Lúc đó, chúng tôi lại dọn nhà liên tục, nên sức khỏe tôi yếu, cuối cùng, bác sĩ bắt buộc phải mổ đưa bé ra sớm 5 tuần. Tôi đầu tư hết mức trong việc tìm hiểu về thai trình từ những ngày trước khi mang thai, nên hiểu rằng, mỗi ngày trong bụng mẹ đều cần thiết và quý giá cho con. Không được sinh tự nhiên, lại phải đưa con ra sớm, nên tôi tuy chấp nhận hoàn cảnh, nhưng vẫn luôn luôn muốn bù đắp cho những thiệt thòi của con. Có lẽ tập thơ là một cách để tôi trao tất cả cho con: sức sáng tạo, tình yêu, hoài bão. Tôi nói về hoàn cảnh cá nhân, để độc giả có thể hiểu rõ hơn những nỗi niềm giãi bày trong tập thơ, và nếu có độc giả nào cùng cảnh ngộ với tôi, thì mong là kinh nghiệm và tập thơ này mang đến cho quý vị một sự chia sẻ chân thành và hữu ích.

“MÙA YÊU CON Thứ Nhất” nói đến một giai đoạn sống mới cho tôi, trong niềm vui và trách nhiệm làm mẹ, cũng như những khám phá mới về chính cơ thể mình. Cơ thể người phụ nữ khi mang thai và khi cho con bú đã nở rộng và mở rộng, đi vào những bình diện và chiều kích sâu xa khôn cùng. Về thể lý, khoa sinh học nói rằng bộ ngực của người phụ nữ chưa phát triển hết, cho đến khi sinh con và cho con bú (có lẽ đây cũng là lý do “Gái một con trông mòn con mắt”). Tôi đùa với chồng, bảo có cô nào độc thân chưa con mà ‘khoe ngực’ với anh, thì cứ phán ngay, “Immature!” để ám chỉ cả thái độ và thể lý chưa đủ trưởng thành ấy. Nếu cần, thì giải thích thêm: “Ngực vợ tôi đã chín mùi rồi! Non nớt của cô thì xá gì!” Đây là một câu nói đùa riêng tư giữa vợ chồng tôi, mong độc giả không lấy làm khó chịu.

Trong lúc tập làm mẹ, tôi gặp nhiều khó khăn về sức khỏe, thiếu sữa cho con bú trong hai tuần đầu, và con không chịu bú vú mẹ cho đến hai tháng sau khi sanh. Tôi tập cho con bú đến khòm cả lưng, tuy không bao giờ bỏ cuộc, ngay cả khi lactation specialist đã bảo vô phương! Nhưng dù với bao khó khăn, nhưng đây là giai đoạn đầu làm mẹ của tôi, với những cảm xúc mạnh và riêng biệt mà tôi muốn ghi lại cho con và cho mình. Đây là một cách để vừa giữ một nhật ký không đầy đủ cho con (vì hai vợ chồng tôi rất muốn viết chung nhật ký cho con), vừa tiếp tục công việc sáng tác mà tôi theo đuổi trong gần 30 năm qua (từ khi còn ở Việt Nam). Vả lại, thơ vẫn luôn là một người bạn đồng hành trong suốt cuộc đời, nên dù Nàng Thơ vẫn luôn ẩn hiện huyền bí, tôi vẫn luôn kiên trì theo đuổi nàng, biết đâu có lúc, nàng sẽ tỏ mình vẹn hảo.

binh_bat_day-olivier_glassey_tranguyen
Bình bát dây (Hình: Olivier Glassey-Trầnguyễn)

Gió O: Cô tìm thấy ở gio–o.com những tao ngộ gì trong thế giới sáng tác hải ngoại?

TGT: Tôi rất quý phong cách độc lập, rõ ràng, và đa dạng của Gió O. Thứ nhất, phong cách độc lập của trang này và của Chủ Biên hỗ trợ cho sự chọn lựa độc lập của độc giả. Tôi muốn mượn nguyên lý trao đổi sinh khí trong đông y để nói về điều này – khi độc giả đối diện với phong cách độc lập của Gió O, họ cũng sẽ đến gần hơn với phong cách độc lập của họ, nhất là nếu độc giả đó cũng là một người làm công việc sáng tạo. Sự độc lập này kích thích sự độc lập ở người bước vào nhà ảo Gió O.

Có nhiều bài viết rất mạnh và thẳng, chẳng hạn chuỗi bài “Gõ Cửa Hư Không” của Chủ Biên, không dễ nuốt cho tất cả độc giả, nhưng như tất cả những món ăn kén người khác, những sáng tác này đòi hỏi người đọc phải dám đi vào Gió O với một tâm thức mở, và dám để cho Gió cuốn mình đi, đến đâu thì đến. Đó là một sự cộng hưởng táo bạo, đầy phiêu lưu, và đòi hỏi can đảm. Nếu không cố tình chống cự, người đọc sẽ dễ dàng bị ‘cảm Gió’ và sẽ quay lại thường xuyên để được cuốn đi và cuốn đi nữa, đến những phương trời mới, cho dù trên đường đi, có đạp trúng gai, hay va vào vách núi.

Lại cũng có những bài thơ, bài viết, chủ đề ảnh rất lạ mà đối với tôi, là những ‘công án’ trong Thiền đường sáng tạo, không để cho người đọc tự dễ dãi với mình trong việc đọc và nghĩ. Vì là Thiền đường, nên Gió O làm được một việc, là để cho người sáng tác lẫn người thưởng lãm được tự do, tự toại, và mặc tình đi theo vòng xoắn ốc của kẻ nhập Thiền. Mỗi người sẽ có một kinh nghiệm riêng khi vào Gió O, tùy mình chọn Thiền hành hay Thiền tọa, tùy mình muốn chạm vào vũ trụ mênh mông, hay lắng nghe một lời đá gọi.

Những sáng tác chọn lọc của nhiều cây bút và tay ảnh làm cho Gió O phong phú và lạ lẫm. Chủ Biên có thể ví như người thích sưu tầm, nhưng không tự giới hạn mình, mà xông pha đi khắp nơi, ngược về nẻo cũ, lui tới chốn mới, để gửi đến độc giả những ngọn gió thơ mộng làm họ phiêu bồng, lẫn những trận cuồng phong, phô bày những gì thực tế và phũ phàng nhất của kiếp người và cảnh đời. Khi người viết nổi giận đủ thì mới có thể viết hết và viết thật những gì mình không chấp nhận và đả phá. Đây không phải là điều dễ dàng, vì khi viết, là người cầm bút đã tự đưa mình vào ‘thế hiểm,’ bộc bạch tỏ lộ cõi lòng. Trên đời, không phải ai cũng dám nói thật (những điều mình nghĩ). Điều này lại càng khó hơn trong cõi viết.

Lê Thị Huệ & Trangđài Glassey-Trầnguyễn
Nguồn: Trangđài Glassey-Trầnguyễn gửi bài phỏng vấn

Đã đóng bình luận.