Hồ Đình Nghiêm
Mỗi năm, đôi ba lần, anh Đinh Cường vẫn thường gửi qua bưu điện cho tôi nhiều tặng phẩm. Tranh, ảnh, sách, báo, tạp chí đa phần phát hành ở trong nước. Anh mất đi, tôi như Cuba bị Mỹ cấm vận, thôi hưởng được nguồn tiếp tế. Nghèo đói và nhớ mong. Cách trở hơn cả biển rộng sông dài.
Trong những bưu phẩm “par avion” gửi hạng nhất có cuốn nặng ký: “Bùi Giáng. Đười Ươi Chân Kinh” do Nhã Nam xuất bản. Đã hơn ba năm chưa thời xong món ăn tinh thần nọ, hôm nay Montréal trở chứng, tháng Tư rồi mà “sầu bữa nọ em đi, tuyết trời Tây có nguôi lãng những gì”. Tuyết nhỏ thôi, lưa thưa và vu vơ, chưa chạm đất đã tan biến vào chốn vô cùng. Và nhìn ngó cái ướt át kia cũng nghe sầu dâng nhỏ giọt. Nguyễn Bính nói “gió mưa là bệnh của trời”. Vậy tuyết? E trời đổ đau, trọng bệnh cỡ ung thư? Nhắc tới bệnh tình, tưởng tới sầu đau tôi buồn tay lôi xuống từ kệ sách oằn thân cuốn Chân Kinh nọ. Chữ đề tặng còn đây, chưa phôi pha mà người gửi cho thì… “ngoảnh mặt tha hồ mây trắng bay”!
Thơ Bùi Giáng với tôi, như một cánh rừng bạt ngàn những ý tứ lạ, xao động đẩy đưa ảnh hình thường là dễ thương:
“Em đi đứng cũng như nằm
ngồi đây trò chuyện trăng rằm chút thôi”.
Hai câu ngắn mà chứa tới 5 động từ: Đi, đứng, nằm, ngồi, trò chuyện. Và em là chủ từ “chỉ một chút thôi”. Không dài lời bởi trăng rằm, tự thân là một hào quang. EM, từ vô lượng kiếp, trước sau vẫn là đề tài mà thi nhân chẳng mỏi mệt để tâm, làm đối tượng. Và chúng ta hiểu do đâu có chữ Nàng Thơ. Nếu sai thì thi ca cất giữ vẻ mong manh rung động lụa là gói đầy nữ tính? Đọc một bài thơ tranh đấu hào hùng ngỗn ngang gươm đao súng đạn, liệu có nên nhắc tới “nàng thơ”? Nàng e lệ không xung kích trước trận tiền. Nàng ở địa phận khác, hậu phương êm đềm chẳng hạn. “Giặc đến nhà đàn bà phải đánh”, vận sự ấy hẳn hạ hồi phân giải. Bất khả kháng hay bất khả thi (ca)? Mọi thứ chỉ là khái niệm. Không nên ôm đồm quá, chẳng nên được voi đòi hai bà Trưng!
Trăng cũng vậy, từ khi nguyệt là trăng, vẻ đẹp dễ hư hao khuất lấp mơ hồ kia e chỉ dùng ví von định vị riêng tới nhan sắc của một nữ nhân.
“nửa vời trăng rộng mông lung
đường hoa nghi hoặc tháp tùng ni cô”.
Đi theo ni cô thì lòng dẹp yên ba đào thôi bị trăng rù quến? Trăng và nữ nhi thường là cặp bài trùng, là người bạn đồng minh không hề tháo chạy? Đặng Dung mài gươm từ tóc xanh cho tới đầu bạc dưới bao mùa trăng thì trăng ấy có khi là hình ảnh đối cực nhằm soi rõ tấc lòng vằng vặc của kẻ sinh bất phùng thời vậy! Chỉ riêng trăng chứng giám cho tâm can này. “Nợ nước chưa xong đầu đã bạc, gươm mài vầng nguyệt đã bao ngày!”
Thi nhân ít khi mang trăng ra để so sánh xướng tụng về một người nữ thập phần cao cả: MẸ. Thiếu sót chăng? Hay trăng rằm xem chừng chưa đủ nội lực để soi rọi tới tình mẫu tử ngời sáng? “Mẹ là người duy nhất bảo bọc bạn 9 tháng trong bụng, 3 năm ôm ấp trong vòng tay và ảnh hình bạn mãi mãi nằm sâu trong trái tim của bà”. Vô đối. (Anh Đinh Cường có làm bốn năm bài thơ tròn trịa ca ngợi Mẹ đầy xúc động, đằm thắm của tấm lòng người con phương xa, trước và sau khi Mẹ mất).
Bùi Giáng có đôi bài nhắc tới mẹ nhưng lộ rõ chất bông đùa cố hữu bởi mẹ ấy chính là mẫu thân Phùng Khánh, là Marilyn Monroe, là Brigitte Bardot… Nhưng dẫu là mẹ nào lời thơ vẫn nghe vuông tròn chút lòng thành đầy nhân ái.
Mẹ về ngủ giấc bình yên
con đi suốt xứ còn điên như thường
nay mai con chết giữa đường
mẹ xin kế tục bồi thường cho con
…
Mẹ càng bất tuyệt nhớ nhung
ngày đêm mẹ khóc vô cùng vì con
chiêm bao mẹ bảo trời tròn
đường mưa xuống nấm mộ con lạnh lùng
con về mộng mị nấu nung
trùng sinh bất chợt vô cùng lại ca
bây giờ con mới chép ra
một dòng thơ cũ chan hoà bấy lâu
…
đường vui con bước hao mòn
trăng thân mẫu rộng bóng tròn xuống vai
…
Mẹ về đứng giữa đầu sân
cuối cùng mẹ bước vô ngần mẹ đi
…
Con về trong cõi người ta
nghe tin sét đánh mẹ đà đi tu.
Rất thành thật, Bùi Giáng thổ lộ điều chẳng lấy gì làm mới:
Mẹ cha thì nhớ thương mình
mình đi thương nhớ người tình xa xôi.
Người tình, chung quy vẫn là bài toán khó hiểu mà người làm thơ suốt đời buộc phải làm rõ vấn nạn nhọc nhằn kia. Là thứ phương trình có nhiều ẩn số và có cả ngàn lẻ một cách giải. Nếu không vậy, thi ca đâu còn chỗ đứng để mang vẻ đẹp huyền ảo đến cho cuộc đời. Một vẻ đẹp chưa bao giờ già nua, một bản giao hưởng, một bài trường ca tôn vinh EM chẳng mỏi mệt. Giận lẫy có, nói bóng nói gió có, làm đày làm láo có, và thậm xưng rối rắm:
Em ở bên trời
Trẫm ở đây
Trẫm sầu hôm sớm
tới hôm mai
làm thơ gửi tặng cho em vậy
Em đáp vài dòng
cho Trẫm hay
Em ở đâu rồi Trẫm nhớ em
Trẫm buồn chẳng biết viết gì thêm
(em có nhớ Trẫm chăng em nhỉ
Trẫm viết dòng nào
cũng rối ren).
Bùi Giáng luôn để lộ chất thi sĩ đáng yêu. Hơn hẳn một vị vua triều Nguyễn đóng đô ở Huế: “Kim Long có gái mỹ miều, Trẫm thương Trẫm nhớ Trẫm liều Trẫm đi”. Ôi mỹ nhân! Sao chơi khó Trẫm đến mức đó! Trẫm dại gái rất mực, sao mình rồng chẳng mang quyền uy mà sai thủ hạ mang kiệu lên Kim Long bắt nàng về cho ta. Nói vậy hoá ra là chơi trò bạo lực cửa quyền mất. Hừ, thơ phú ích gì cho buổi ấy!
Phải dịu dàng, phải tôn vinh, phải thở than, phải ngợi ca. Và nhún nhường: Thú thật là anh cũng có cái quyền trời phú riêng anh, có thể hô phong hoán vũ, có thể biến đổi khí hậu vui buồn bất chợt vẽ trắng tô đen, nhưng em ạ anh muốn ve em bằng cái sở trường của anh, ấy là tán em anh nên bỏ chút ít quỵ luỵ thất điên bát đảo vào lời đường mật đặng quyến dụ bướm ong.
Thưa em từ bữa lạc đàng
đầu hai thứ tóc gió ngành thổi tung
nhớ em miệng đỏ vô cùng
hai môi khép mở một vùng cỏ hoa
nhớ ngang ngửa dưới trăng ngà
lối sương tố vọng canh gà sơ nguyên
nhớ em anh rất có quyền
ngồi trên bãi rộng quàng xiên vẽ hình
bốn bên đổ quán xiêu đình
ba bề đờ đẫn một mình anh đi.
Đặc biệt trong sưu tập “Đười Ươi Chân Kinh” tôi nhặt ra hai bài thơ có vẻ như muốn minh hoạ một thảm trạng lộ hình toàn tập sau thời điểm 1975. Ám tối, đau thương, thất tán qua lời thơ mất đi hẳn tính lạc quan bông lơn thường nhật của thi sĩ. Người ở lại cố quận, kẻ giấn liều đi xa không hẳn sẽ viết ra được chất giọng khôi hài đen, đắng chát như Bùi tiên sinh.
Bài Một
Giã từ cõi mộng điêu linh
tôi về buôn bán với mình phôi pha
– Mình ơi! Tôi gọi là nhà
Nhà ơi! Tôi gọi mình là nhà tôi
Bây giờ xuôi ngược đôi nơi
thôi mình ở lại tôi rời chân đi
Thưa rằng: -Ở cái quái gì
Chàng đi thiếp cũng xin đi với chàng.
Bài Hai
Dậy nhìn bốn phía nhà hoang
Ve trời đất cũ lạc đàng không qua
Từ khi gió phượng hiên tà
Trút bông đỏ xuống hoàng sa lệ kiều
Chim chuyền đổ giọng hoang liêu
Gái nào thiên cổ đã liều dấn thân.
Trước sau, từ thuở tóc xanh cho tới giờ, tôi vẫn yêu thơ Bùi Giáng. Hoạ sĩ Đinh Cường biết vậy nên đã gửi tặng cho cuốn sách quý. Đọc lại Bùi Giáng, là chạm trán những kỷ niệm ngỗn ngang, trong yếu lòng chẳng cầm giữ để hoán đổi thơ ông thành ra:
“Tôi về trong cõi người ta
buồn dâng nơi nọ anh đà đi xa”.
Tôi chẳng đủ nội lực để tán hươu tán vượn về một cõi thơ vốn chất ngất những từ kỳ ảo tựa một trang bí kíp viết bằng cổ tự. Xin chép lại bài thơ sau đây của Bùi Giáng thế lời tạ từ. Bài thơ như một tuyên ngôn, như một triết lý mà tôi cần học hỏi:
Có lẽ
Người nằm ngủ thấy gì
Thấy rất nhiều nắng lạ
Những chùm bông rất xanh
Có lẽ bông là lá
Người nằm ngủ thấy gì
Chẳng thấy gì hết cả
Ngài thử nằm ngủ đi
Đừng hỏi gì hết cả.
Hồ Đình Nghiêm
Nguồn: Tác giả gửi tùy bút và tranh




















