Huy Uyên
Tháng tư, uống ly rượu độc
Bỏ lại tim tháng tư ngoài mặt trận
vĩnh-biệt người, sắt, máu, gươm, đao
hầm hố xác chôn và súng đạn
thân bốn mươi năm lê mãi tới giờ.
Người lính xưa chống nạng trên đê
“ngày trở về” nghêu ngao tiếng hát
điêu đứng ruộng đồng lúa cháy làng quê
mặn đắng chảy xuôi dòng con nước.
Tháng tư quá nửa đời đã chết
ai về, ai ở lại chiến-trường
hoài niệm cháy trong tim được mất
nợ trả cho người
chưa hết máu xương.
Tháng tư ra đứng ngã-ba-đường
chong mắt tìm ai đây chiến-hữu
đày đọa đời chi – đồng-đội áo cơm
trôi nổi khuất chìm mùa rớt bão.
Thôn xưa em ra mừng đầu ngõ
thả tóc bay trắng kín góc trời
mắt u-hoài xưa người máu đổ
để khi về đau-đớn gởi cùng ai.
Còn chăng em, 2016 ngậm ngùi
tên tuổi hết rồi nghĩa-trang, bia mộ
suốt cả đời chưa một ngày vui
lửa thiêu đốt
sáng tháng tư ngày đó.
Cháy bỏng khát-khao bến bờ hạnh-phúc
tôi mù lòa tăm tối chột thui
từng đêm say uống ly rượu độc
chôn giấc mơ lầm lũi buổi quay về.
Gởi tháng tư qua New Castles
Gởi chút nắng Sài-Gòn qua Pennsyl.
Bao năm không về quê cũ
Tháng tư em còn có đau buồn?
Và trong em có ắp đầy nỗi nhớ.
Đã xa hôn-môi người buổi trước
Cũng biệt từ ngàn vạn niềm vui
Những ước mơ xưa nào giữ được
Sài-Gòn vắng em vắng cả nụ cười.
Hỏi em tim người chìm nổi chết trôi
Chợ Bến-Thành cờ đỏ bay ngập phố
Bước ngẩn ngơ trên đường Tự-Do
Nơi Bonard mắt đẫm dòng lệ đổ.
Lên Chợ Lớn ngậm sầu trời mây nước
Hồn người xưa gởi lại phố Bình-Tây
Lặng im chờ em đầu “Chú Hỏa”
Từ tháng tư em đi nào có quay về.
Khuya Gò-Vấp xe ngược lối QuangTrung
Ngày tiễn anh quân-trường nắng đốt
Thời tóc xanh bỏ lại đất Hóc Môn
Súng đạn chôn đời người thua cuộc.
Gởi tình Thủ-Thiêm qua New Castles
Mùa đông chắc lạnh lắm sương mù
Tội cho người theo chồng xa xứ
Chia tay thôi em mắt đỏ trời thu.
Hỏi em giờ: em có còn buồn?
Tôi ngày tháng từ tháng tư ở lại
Chôn trong tim ngàn vạn vết thương
Ở lại Sài-Gòn đợi chờ mãi mãi.
Gởi em chút xuân ngoài cửa sổ
Vườn nhà ai nở đỏ hoa hồng
Ở Pennsyl. em còn có nhớ
Đã qua rồi hơn bốn mươi năm.
Tháng tư ở Sài-Gòn
Tháng tư bốn mươi năm tàn trận
súng đạn xưa ngày bỏ lại Hàng Xanh
bên sân bay lớp lớp người chạy trốn
bước chân đi lạc lối quân-hành.
Gục ngã ba-lô thôi vĩnh-biệt anh
chiến-trường một thời ngang dọc
Hạ Lào, miền Trung, nắng gió cao-nguyên
miền Nam đau thương, miền Bắc thui chột.
Quê-hương ngậm ngùi chìm ngập
quân xuôi Nam nước mắt trào dâng
súng đạn thù mồ chôn lũ giặc
tàn y xưa dở cuộc chiến-trường (xưa).
Bàng bạc Sài-Gòn cháy đỏ tháng tư
tim nát tan rừng người bỏ chạy
chợ Bến Thành,
đường Tự-Do xác lính dù
ngã-tư-bảy-hiền xe tăng pháo nổ.
Tháng tư mùa hạ thây ngập máu
hờn căm ở lại với quê nhà
ngựa-trâu phơi thân theo chế-độ
tháng ngày phận bạc kiếp vong-nô.
Vợ con, mẹ khổ cả một đời
tháng tư ra trận cha nằm chết
một bầy người đói rách chơi vơi
từ buổi non sông thua cuộc.
(Em hạnh-phúc tháng năm xứ Mỹ
đau xót mồ hôi nặng nợ áo cơm
hơn bốn mươi năm tàn hơi ngã quỵ
tủi-hờn ôi thương xót vạn câu nguyền ).
Còn lại mây, lá héo trên cành
đã vàng chết từ tháng tư 2016
nỗi đau xưa ai vội đem chôn
đêm tăm tối máu trào căm uất.
Thôi người qua một lần được mất
Sài-gòn nghĩa-trang còn có đợi chờ?
(tháng 4-2016)
Huy Uyên
Nguồn: Tác giả gửi



















