Danh nhân Quảng Nam – Nhà cách mạng kiêm triết gia Trần Cao Vân

Posted: 15/05/2017 in Biên Khảo / Phê Bình, Nguyễn Tam Phù Sa
Thẻ:

Nguyễn Tam Phù Sa


Nhà cách mạng Trần Cao Vân (1866-1916)

Trong số “Danh nhân đất Quảng”thời chống Pháp, có một tiên liệt nổi bật về số lần vào tù – 2 lần bị tuyên án tử hình, 3 lần bị tù từ 1 đến 3 năm, một lần lãnh cái chết bất tử. Chuỗi lao lý kết nối suốt quá trình đấu tranh chống Pháp không chỉ với cụ Trần Cao Vân mà còn có cụ bà Võ Thị Quyền – cánh tay phải đắc lực, người vợ trung kiên, mẫu mực xứ Ðại Lộc.

Vợ chồng đồng lòng lo đi giúp nước

Cụ Trần Cao Vân sinh năm Bính Dần (1866) tại làng Tư Phú, Gò Nổi (xã Ðiện Quang, Ðiện Bàn, Quảng Nam). Năm 8 tuổi mồ côi mẹ. Thân phụ là nhà nho yêu nước, chuộng chữ nghĩa. Trần Cao Vân vốn rất thông minh, học tập xuất sắc, nhân cách rất mực, có tài đối đáp linh hoạt, uyên bác. Khoa thi Nhâm Ngọ (1882), cụ ra Huế dự thi nhưng bệnh đột xuất nên đành bỏ dở. Khoa Mậu Tý (1888), trúng tuyển trường nhất, nhì, nhưng hỏng trường ba. Trần Cao Vân lui về Cổ Lâm tự (Ðại Lộc) chuyên tâm khảo cứu Kinh dịch – Tiên thiên và Hậu thiên bát quái của vua Phục Hy và Chu Văn Vương (Trung Quốc) để biên soạn Trung thiên đạo bắt nguồn từ Trung thiên dịch. Con đường khoa bảng của cụ lận đận, thế nhưng qua thơ văn, câu đối còn để lại cho thấy cụ là bậc triết gia, khảo học uyên thâm, văn chương lỗi lạc.

Ngót 31 năm (1885-1916), Trần Cao Vân thiết tha đi theo tiếng gọi núi sông và lương tri thì ngần ấy năm bị cuốn vào vòng lao lý. Năm Nhâm Ngọ (1882), Hà thành thất thủ, tổng đốc Hoàng Diệu tuẫn tiết, một năm sau vua Tự Ðức băng hà, triều chính khuynh đảo, thế nước sục sôi phong trào chống Pháp. Ở Quảng Nam, Bình Ðịnh, Phú Yên phong trào Văn Thân, Cần Vương và nghĩa quân rần rần nổi dậy “Bình Tây, diệt tả”. Năm Ất Dậu (1885), kinh thành Huế thất thủ, Tôn Thất Thuyết phò vua Hàm Nghi bôn tẩu ra Quảng Trị.

Trước những biến cố dồn dập, cụ Trần Cao Vân không thể yên tâm theo đuổi khoa bảng trong cảnh đất nước lọan lạc, rối ren, dân tình ta thán. Cụ xin cha thoát ly vào chùa Cổ Lâm (làng An Ðịnh, Ðại Lộc) khóac áo thầy tu để tiện mưu đồ cứu nước. Tại đây, cụ gặp Thừa Tô – người đồng chí cũng là anh vợ sau này. Năm Tân Mão (1891), Trần Cao Vân kết hôn với bà Võ Thị Quyền (còn gọi là cô Ba Bàng) – người đồng cam cộng khổ, vào sinh ra tử với chồng. Cũng trong năm này, Cổ Lâm tự bị bố ráp gắt gao, Trần Cao Vân lui về làng Ðại Giang (Đại Lộc) mở trường dạy học. Tay cầm bút lông viết chữ nho cho môn đồ mà lòng dạ đau đáu về cảnh nước nhà điêu linh. Việc “quy ẩn” của cụ không qua được tai mắt bọn mật thám Pháp và bọn phò tá thực dân, cuối cùng vợ chồng đồng lòng dấn thân giúp nước, khăn gói vào đất võ Bình Ðịnh. Cụ lại mở trường dạy học, mượn phương thuật số để độ nhật qua ngày, đồng thời chỉnh biên, truyền bá triết thuyết Trung thiên dịch – Trung thiên đạo đến mọi tầng lớp nhân dân, tạo nên một làn gió mới rộng khắp từ Bình Ðịnh đến Phú Yên. Ðây cũng là cơ hội để thu nạp nghĩa sĩ yêu nước, trong đó có cụ Võ Trứ. Năm Mậu Tuất (1898), Võ Trứ lãnh đạo nhóm thầy chùa phối hợp với lực lượng quần chúng nổi lên đánh phá đồn Pháp. Phong trào bị dập tắt vì nghĩa binh chưa được chuẩn bị, huấn luyện, vũ khí lại qúa thô sơ chỉ có giáo mác, gậy gộc, tầm vông… và cao hơn cả vẫn là lòng yêu nước, căm thù giặc. Bọn bảo hộ gọi phong trào là “giặc Rựa” hay “giặc Thầy chùa”. Võ Trứ lánh vào Phú Yên, nơi cài đặt sẵn dân binh, sau đó cụ Trần Cao Vân cũng theo vào, tiếp tục hoạt động chống Pháp ở khu rừng thuộc phủ Tây An, Ðồng Xuân. Mùa hè năm đó, Võ Trứ một lần nữa giương cao ngọn cờ “Bình Tây diệt tả”, lại bị quân Pháp đè bẹp, trong lúc cụ Trần Cao Vân bị sốt rét nặng. Nhờ sự giúp đỡ của đồng bào dân tộc và các môn đệ, cụ Trần Cao Vân, cụ bà và hai con được đưa về động Bà Thiêng chữa bệnh, một vùng hẻo lánh, xa làng mạc, dân cư. Khi cụ Trần Cao Vân vừa hồi phục lại đến lượt cụ bà phải giành giật giữa cái sống và chết của căn bệnh hiểm nghèo ấy. Mấy ngày sau, cụ Võ Trứ đến thăm, mang theo ý nguyện – tự ra đầu thú để cứu vớt đồng bào, nghĩa sĩ đang bị thực dân Pháp truy lùng, thảm sát. Hai nhà chí sĩ đành gạt nước mắt tiễn biệt nhau vì không còn chọn lựa nào khả thi hơn.

Chuỗi kết nối vòng lao lý

Khởi nghĩa Mậu Tý ở Phú Yên thất bại, cụ Võ Trứ bị tử hình, nhiều nghĩa sĩ, thầy chùa ở Bình Ðịnh, Phú Yên bị giam cầm, cụ Trần Cao Vân cũng bị hạ ngục, bị tra khảo dã man suốt 11 tháng; cuối cùng không có chứng cứ, vì cụ Võ Trứ đã khẳng khái nhận tất cả về mình buộc bọn chúng phải thả cụ. Năm Canh Tý (1900), do ảnh hưởng của Trung thiên đạo – Trung thiên dịch, quan bố chính Bùi Xuân Huyến đang trấn nhậm Phú Yên một lần nữa ra lệnh tống giam Trần Cao Vân về tội mê hoặc, dùng “yêu thơ, yêu ngôn” xúi dân làm phiến loạn, tuyên án tử hình. Bản án tư bẩm về Triều đình Huế phê chuẩn. Riêng cụ bà và Nguyễn Nhuận (người vào sinh ra tử với ông bà Trần Cao Vân) bị bắt giam ở ngục Bình Ðịnh. Luc bấy giờ, trong Triều có nhiều quan đại thần, quan văn-võ nể phục nhân cách của cụ Trần Cao Vân nên xin giảm án còn 3 năm, cụ bà và Nguyễn Nhuận là 2 năm.

Năm Mậu Thân (1908), ở Quảng Nam xảy ra vụ kháng thuế dữ dội ở Ðại Lộc, hàng nghìn người kéo đến công sứ Quảng Nam, Hội An đòi xin xâu, giảm thuế. Ngọn lửa đấu tranh bùng lên tòan tỉnh, biến thành cao trào lan rộng đến Quảng Ngãi, Bình Ðịnh, Phú Yên, Thừa Thiên-Huế, Quảng Trị, Quảng Bình, Nghệ An… Kết quả là ngoài cụ Trần Cao Vân còn có các chí sĩ yêu nước Hùynh Thúc Kháng, Trần Quý Cáp, Phan Thúc Duyện, Nguyễn Thành (Tiểu La), Châu Thơ Ðồng (Châu Thượng Văn), Lê Bá Trinh, Trương Bá Huy và nhiều nhân sĩ khác bị Pháp tống giam vào nhà lao Hội An. Ðau đớn, uất hận nhất là án tử hình dành cho cụ Trần Quý Cáp và Châu Thơ Ðồng. Năm Kỷ Dậu (1909), cụ Trần Cao Vân bị đày ra Côn đảo với án khổ sai chung thân.

Tháng chạp năm Quý Sửu (tháng 01.1914), cụ Trần Cao Vân và Trương Bá Huy được ân xá. Ðòan tụ gia đình mới 1 năm thì thân phụ của Trần Cao Vân qua đời, thêm một nỗi đau xé lòng. Cuối năm 1915, Thái Phiên mời Trần Cao Vân, Phan Thành Tài, Ðỗ Tự (Quảng Nam), Lê Ngung, Nguyễn Mậu, Lê Triết (Quảng Ngãi), Nguyễn Chính (Quảng Bình)… tham gia Việt Nam Quang Phục hội. Trần Cao Vân và Thái Phiên được ủy thác việc tiếp xúc với vua Duy Tân. Trần Cao Vân đã thảo một bức thư gởi vua Duy Tân, khơi gợi nỗi nhục mất nước, hài tội chính quyền bảo hộ và bọn chuyên quyền khuynh đảo hoàng tộc khiến vua Thành Thái bị thực dân Pháp bắt đi đày, mộ vua Tự Ðức bị đào xới, vua Dục Ðức, Hiệp Hòa bị truất ngôi và bị bức tử để kích thích lòng yêu nước của nhà vua. Ðọc xong thư, vua Duy Tân tức tốc cho vời Trần Cao Vân và hẹn giờ, địa điểm gặp. Cuộc hội kiến diễn ra ở Hậu hồ (có sách ghi là hồ Tĩnh Tâm), được sự đồng tình, nhiệt liệt tán thưởng của nhà vua đối với kế sách cách mạng 1916. Trần Cao Vân và Thái Phiên còn được đại tá Pháp Harmandes, chỉ huy đồn Mang Cá làm nội ứng.

Do nóng lòng khởi nghĩa, vua Duy Tân ấn định đêm 03.5.1916 sẽ tổng nổi dậy. Lập tức, một đại hội toàn kỳ của Quang Phục Hội diễn ra ở kinh đô Phú Xuân (Huế) để kiểm tra lực lượng, công bố kế hoạch khởi nghĩa. Thế nhưng tên tay sai thông phán Trần Quang Trứ (thường gọi là Phán Trứ) mật báo với tòa Khâm sứ Pháp, cuộc khởi nghĩa thất bại. Vua Duy Tân bị cầm giữ ở đồn Mang Cá, Trần Cao Vân, Thái Phiên, Tôn Thất Ðề, Nguyễn Quang Siêu bị tống giam ở nhà lao Huế, đại tá Harmandes bị thảm sát. Ở Quảng Nam, cụ Phan Thành Tài bị tử hình. Cụ Lê Ðình Dương, Lê Cơ, Trương Bá Huy, Ðỗ Tự, Trần Chung… bị đày ra Côn Đảo, Thái Nguyên. Còn ở Quảng Ngãi, vì sự thất bại của binh sĩ Ðỗ An, Ðỗ Huệ khiến hơn 200 nghĩa sĩ bị kết án khổ sai, cụ Tú Ngung, Cử Thụy tự sát. Riêng cụ Tú Ngung sau khi tự sát còn bị quân Pháp xử hành hình, bêu đầu ở Cam Lộ.

Mùa hè năm Bính Thìn (1917), vua Duy Tân bị đày sang đảo Réunion ở châu Phi, cụ Trần Cao Vân, Thái Phiên, Tôn Thất Ðề, Nguyễn Quang Siêu bị xử chém ở An Hòa, gần Huế (ngày 16.4. năm Bính Thìn).

Trần Cao Vân nhận cái chết bất tử ở tuổi 51, một tấm gương yêu nước thương nòi, kiên trung cho mọi thế hệ con cháu mai sau. Trước giờ ra pháp trường, Trần Cao Vân còn sang sảng đọc bài thơ thất ngôn bát cú ở nhà lao Huế. Chúng tôi xin trích bản dịch bài thơ Chết chém thay nén hương thơm thương tiếc, kính phục bậc anh hào đất Quảng.

Ðứa nào muốn chết! Chết như chơi
Chết vị non sông, chết vị trời
Chết thảo bao nài xương thịt nát
Chết ngay nào nệ cổ đầu rơi
Chết trung tiếng để ngoài muôn dặm
Chết nghĩa danh lưu đến vạn đời
Chết được như vầy là hả lắm
Ta không sợ chết hỡi ai ơi!

Nguyễn Tam Phù Sa

Tài liệu tham khảo:

Văn đàn bửu giám, Nam Ký, Trần Trung Viên, Dương Bá Trạc, Tản Ðà- NXB Mặc Lâm, 1934.
Việt Nam sử lược, Trần Trọng Kim- NXB Thanh Hóa, 2006.
Các triều đại Việt Nam, Quỳnh Cư, Ðỗ Ðức Hùng- NXB Thanh Niên, 2005.
Danh nhân Quảng Nam, Huỳnh Lý và nhóm biên soạn- NXB Ðà Nẵng, 1987.
Việt sử Ðàng Trong, Phan Khoang, Khai Trí 1970.

Nguồn: Tác giả gửi

Đã đóng bình luận.