Thu Baltimore

Posted: 30/10/2017 in Nguyễn Xuân Quang, Truyện Ngắn

Nguyễn Xuân Quang

Đặng đi dự hội nghị tu nghiệp ở Baltimore vào tuần lễ cuối cùng của tháng mười.

Từ khu đại hội về khách sạn, Đặng ghé lại quầy tiếp khách lấy chìa khoá phòng. Tiếp viên trao cho chàng một bao giấy nhỏ.

– Ông có phong thư.

Phong thư khá dầy. Đặng cau mày. Ai gởi cho mình? Chàng nắn phong thư. Có vật cứng như miếng bìa mỏng bên trong. Không có tem bưu điện. Tên chàng viết theo thứ tự Mỹ. Không có địa chỉ khách sạn hay số phòng. Ở trên cao góc trái có đề địa chỉ người gởi. Không có tên người gởi. Mặt sau có dán hình ma-trơi-trái-bí-ngô-jack-o-lantern. Trái bí ngô cười toe toét lòi răng sún dán ngay chỗ mở thư để ngăn ngừa người tò mò tọc mạch mở ra xem lén. Ngay dưới có hàng chữ Happy Halloween. Chàng rảo bước về phòng. Trong thang máy, chỉ một mình chàng, Đặng xé vội bao thư. Một tấm vé mời dự party hoá trang Halloween đêm nay tại một ngôi nhà thờ cổ Westminster thuộc Đại học Maryland, Baltimore. Về tới phòng Đặng vẫn còn thắc mắc. Có lúc thắc mắc tới độ khó chịu. Ai đã gởi mời chàng? Một người mến mộ? Một ma quái Halloween? Chàng chưa liên lạc với bất cứ ai từ khi đặt chân đến Baltimore. Chàng ném bao thư lên bàn. Cố coi như không có gì đáng để bận tâm. Đi hay không là do mình, chàng tự nhủ.

Đặng tắm rửa. Thay quần áo. Chàng tiếp tục sống theo chương trình đã vạch sẵn. Mấy ngày nay đi dự đại hội từ mờ sáng đến tối. Buổi trưa chàng chỉ có được hơn tiếng đồng hồ tự do. Chàng thường lấy “đường trời” (skywalk) từ khu hội nghị convention đi ra Nội Cảng ăn trưa. Inner Harbor, khu nổi tiếng đẹp nhất của Baltimore. Hôm nay lễ Halloween, chàng được nghỉ hội buổi chiều. Chàng muốn đi thăm một vài nơi khác. Trước khi rời phòng, Đặng nhét bao thư vào túi.

Đặng băng qua đường đi thăm Johns Hopkins. Khách sạn chàng đang ở, bao quanh bởi những toà giảng đường của Đại Học Johns Hopkins. Ông Johns này không giống như những ông John thường nhân khác. Tên ông có thêm chữ S tận cùng. Chính vì chữ S khác thường đó mà chàng muốn ghé thăm Đại Học Johns Hopkins.

Một khung trời Thu đại học. Những toà nhà cổ kính nằm trong khuôn viên mênh mông. Một rừng Thu sắc. Rừng cây Tô Trấn Hương (sweetgum), Dương Hồng (dogwood), Thù Du (sumac) lá thu rực lửa. Thu thắm. Thu hồng. Thu son. Rừng sồi, rừng giẻ gai, rừng phong rực rỡ một “màu quan san”. Thu hoàng ngọc, thu hổ phách, thu vàng.

Lên một đồi cao, Đặng cởi áo choàng trải xuống thảm lá vàng. Chàng nằm xuống với Thu. Trời thu xanh biếc. Gió thu ném từng đợt confetti-lá-thu-vàng từ trời. Hàng ngàn hàng vạn bướm lá thu phất phới. Trong lòng Đặng sống dậy những mùa thu xưa. Có Thu Hồng. Có Thu Cúc. Có Thu Nguyệt. Có Thu Hằng… Có Thu Quyến Rũ. Có Thu Hát Cho Người. Có Mùa Thu Lá Bay. Có Buồn Tàn Thu. Có Giọt Mưa Thu. Có Lệ Thu…

Đặng chợp mắt với Thu lúc nào không hay biết. Lúc mở mắt ra người đã phủ kín lá vàng. Một thoáng chợp mắt mà đã ngàn thu lá vàng. Đặng trở dậy, để nguyên những chiếc lá vàng còn dính lại trên người, chàng thả bộ trong khuôn viên đại học. Ở một thân cây lớn, họ chàng, người nào đã khắc sâu vào tận lớp mộc bên trong. Có đủ cả các dấu chữ Việt. Một tuổi trẻ Việt Nam nào đó cùng họ với chàng. Đặng thấy hãnh diện lây.

Đặng băng ngang qua vườn điêu khắc ghé vào Bảo Tàng Viện Mỹ Thuật Baltimore thăm khu vườn Giverny của Monet. Chiếc cầu Nhật Bản bắt ngang qua ao súng, ở đây, giờ này, phản ảnh rực rỡ ánh nắng. Trong khi đó bên ngoài ánh nắng thu đã xế tà.

Thành phố đang vui nhộn với ma quái Halloween, Halloween ngày xưa mang nghĩa là Hallow Eve, buổi tối trước ngày Lễ Các Thánh. Đêm cuối tháng mười. Rồi Halloween thay hình đổi dạng biến thành ngày lễ hoá trang. Một năm con người hoá trang, đeo mặt nạ để sống một ngày với tâm ước của mình. Sống một ngày với tâm bệnh của mình. Sống một ngày với những ước mơ chưa thành. Sống một ngày với những giấc mộng đã vỡ, đã tan. Vui đùa. Vui và đùa.

Chàng vẫy taxi xuống Nội Cảng. Chiếc taxi Halloween trang trí cảnh địa ngục. Tài xế đầu sừng, đuôi dài, nanh xanh, mỏ đỏ.

Đặng xuống bến đổi qua taxi nước (water taxi), đi thăm một vòng Vịnh Chesapeake. Mỗi khi thu về, hàng trăm ngàn du khách từ phương bắc, trở lại vùng vịnh Chesapeake. Những con ngỗng trời Canada đầu đen, cổ khoang, má trắng. Những tiếng kêu rổn rảng vang dội từng trời. Người Mỹ cho rằng ngỗng trời kêu như “bóp còi”. Họ bảo ngỗng trời Canada honking.

Đặng ghé bến Fell’s Point tìm một cái gì lót dạ. Fell’ s Point với xóm di dân Polish. Những nàng kiều nữ Ba Lan tự hào là mình “sạch bóng”. Sạch như lau chùi. Trong như ngọc, trắng như ngà. Những người đẹp Polish thơm tho hãnh diện mang trên ngực áo hàng chữ:”I am a polished girl”.

Đặng tìm đến tiệm Obrycki’s Crab House ăn món ghẹ hấp.

Đến vùng vịnh Chesapeake phải ăn ghẹ hấp bằng nước pha dấm tẩm gia vị “old bay”, Chesapeake gốc từ tiếng da đỏ Chesapeach có nghĩa là cua tôm. Vịnh Chesapeake, vịnh Cua Tôm, Baltimore thành phố ghẹ. Dân vịnh Chesapeake, dân Maryland hãnh diện với con ghẹ xanh của xứ sở mình.

Ăn xong không còn mục gì khác nữa, trước khi về khách sạn, Đặng quyết định đi qua địa chỉ người mua vé mời chàng. Đi hay không chàng vẫn chưa có ý định dứt khoát. Chắc phải là một địa chỉ kín cổng cao tường. Một địa chỉ “Em ngồi trong khung cửa”. Chắc phải thế.

Chàng nhảy lên taxi. Chiếc taxi Halloween trang hoàng thành một chiếc taxi cảnh sát. Xe màu đen trắng in hệt như xe cảnh sát ở quận Cam, Cali. Người tài xế da đen hoá trang thành một nhân viên cảnh sát công lộ. Cảnh phục lôi thôi, lốc thốc. Cả người ghim đầy những giấy phạt vạ vi phạm luật giao thông. Hắn đeo dùi cui nhựa, súng giả đồ chơi trẻ con.

– Happy Halloween.

– Happy Halloween.

– Đi đâu, thưa ông?

Đặng chìa cái địa chỉ ở góc bì thư. Người tài xế vọt lẹ. Hắn hát nho nhỏ trong miệng. Thích thú. Bí hiểm.

– Bác biết chỗ đó chứ?

– Ai mà không biết cái địa chỉ nổi tiếng đó. Tôi nhắm mắt cũng chạy được tới nơi.

Hắn bóp cái túi cười. Tiếng cười sằng sặc. Đểu giả. Hắn nhắm mắt lại. Chiếc xe chạy xàng xê, lạng qua lạng lại.

– Hê! Bác lái cẩn thận. Coi chừng bị cớm thật phạt cho bây giờ.

– Đùa chút, ông đừng để tâm, Halloween mà. Mỗi năm sống đùa giởn với ma quỷ một lần cho bớt đạo đức giả. Thiên hạ mang mặt người sống ma quỷ một đời. Có đứa không dám mang mặt nạ Halloween sống với quỷ một lần. Ma sợ ma. Quỷ sợ quỷ.

– Bác bảo cái địa chỉ đó nổi tiếng?

– Phải.

– Nổi tiếng về cái gì?

– Một vụ án mạng. Người tài xế bóp túi cười. Tiếng cười rùng rợn.

– Bác không nói đùa chứ?

– “Oh man!” Vụ án mạng đó ở đây ai mà không biết.

Hắn chép miệng, tắc lưỡi.

– Ông ở xa mới đến?

Đặng không trả lời, giả lơ. Chàng biết hắn đã nhận ra chàng là một du khách.

– Oh man, poor man!

Hắn nhe hàm răng trắng hếu. Hàm răng anh Bảy Chà Hynos. Không nghe thấy tiếng cười.

Hắn lái xe chạy vào một khu phố da đen ổ chuột. Những căn nhà gạch đỏ, xây thành từng dãy. Đổ nát, hoang tàn với năm tháng, không tu sửa. Hư sao để vậy. Trên tường chi chít những graffiti. Đặng có cảm tưởng hắn đưa chàng đến một nơi chốn đầy tội ác để rồi ra tay hành động. Không hiểu sao chàng đã tưởng tượng ra cái địa chỉ của người mua vé phải là một địa chỉ khuê các. Một địa chỉ đài trang.

– Ông “cóp” đi đúng đường không đó?

– Ố, ồ…oh man, tôi đi ngược đường. Cám ơn ông đã nhắc tôi. Đặng biết mình đang gặp một tên taxi lưu manh, chàng cố giữ bình tĩnh. Hắn lái lộn ngược trở lại.

– Làm cảnh sát công lộ mà không thuộc đường sao?

– Tôi chỉ làm cớm long nhong ngoài đường một năm một lần đêm Halloween thôi. Tôi khoái làm “cóp” từ thuở nhỏ. Đêm Halloween tôi thường hoá trang làm cảnh sát đi “Treat or Trick” xin kẹo .

– Và lớn lên lại làm tài xế taxi.

– Đời nhiều chuyện oái oăm ông nhỉ.

– Nếu còn xa thì thôi, cho tôi về khách sạn.

– Đến nơi rồi.

Hắn dừng lại căn nhà đầu một dãy phố gạch đỏ điêu tàn. Những người da đen ngồi trên tam cấp trước cửa nhà nhìn ra đường. Họ đang chờ đợi một biến cố để giết thì giờ buồn tênh. Trong những xó, đó đây, từng đám trung niên da đen túm năm tụm ba. Họ châu đầu đang toan tính, âm mưu một chuyện gì. Đứng dựa tường, những nàng con gái da đen, đầu tóc kết bím thành những con rít nhỏ. Môi son, môi tím. Họ hoá trang thành những cô gái đứng đường Halloween?

– Từ nẩy giờ nói chơi cho vui, ông đừng để ý tới. Bây giờ tôi mới nói sự thật. Thủ phạm vụ án mạng trong căn nhà đó họ chưa tìm ra. Chính tôi là thủ phạm. Ông giữ kín chuyện này nghe. Chính tôi là thủ phạm.

Hắn bóp túi cười. Tiếng cười quỷ quyệt ma mãnh. Dường như hắn biết từng chỗ trong túi cười. Bóp chỗ nào sẽ phát ra tiếng cười hợp với câu chuyện hắn đang nói lúc đó.

Căn nhà trang hoàng toàn màu đen và màu bí ngô. Trông như một cái tổ chim khổng lồ. Một con chim đen đậu trên miệng ống khói lò sưởi.

– Ông muốn tôi chờ ngoài này chứ?

– Khỏi cần, có thể tôi ở lại lâu trong đó.

– Á, à! Ông không ở lâu trong đó đâu. Khủng khiếp lắm. Một vụ án mạng. Đổ máu. Đẫm máu. Bê bết máu. Toè loe toét loét máu. Tùm lum tùm la máu. Nhầy nhụa máu… Á, à tôi đánh cuộc với ông…

Đặng sẳn giọng:

– Tôi không trả tiền chờ đợi cho ông đâu.

– Không sao. Oh man! Người sẽ biết ơn tôi.

Hắn hát một điệu hát đùa cợt, người lắc lư.

Ra khỏi xe Đặng đọc vội số xe. Chàng nhét số xe vào một xó nhớ trong đầu.

Đặng băng qua đường. Đúng là địa chỉ Vụ Án Mạng Đường Nhà Xác. Đúng là cái Tổ Quạ. The Murders In The Rue Morgue. The Raven. Địa chỉ căn nhà Edgar Allan Poe đã ở. Số 203 North Amity. Đây chính là ngôi nhà người dì Virginia Clemm mà Edgar Allan Poe lúc chưa nổi danh đã tá túc. Chính nơi này ông đã mê người em họ, con gái người dì. Sau đó ông đã cưới nàng làm vợ. Lúc cưới, nàng mới mười ba tuổi. Cũng chính nơi nầy ông viết bài thơ Con Quạ. The Raven.

Cửa trước khoá kín, Đặng đi vòng ra cửa bên. Cửa cũng khoá. Nhìn vào cửa sổ, lờ mờ chàng chỉ thấy tủ rượu. Đặng đã đọc về mấy chai rượu hiện còn giữ trong đó. Hằng năm vào ngày sinh nhật Edgar Allan Poe, từ năm 1949 tới giờ, một kẻ bí mật nào đó đã lén để trên mộ ông một bó hoa hồng và một chai rượu Cognac thượng hạng. Những chai rượu quý đó còn giữ nguyên si trong tủ kia.

Bó hồng và chai rượu của một độc giả, một khách ái mộ, một người mộ điệu văn tài Edgar Allan Poe. Mấy chục năm trời tình yêu mến đó vẫn không phai, không sót một năm. Một bó hồng, một chai Cognac, một tấm lòng ngưỡng mộ văn chương.

– Hù…hù…hù…

Đặng giật mình quay lại. Một con khỉ đột. Một con kingkong. Hắn giơ cao con dao cạo. Lưỡi dao đẫm máu. Máu nhểu từng giọt.

– Ông tìm con Đười Ươi? Hù…hù…hù…

– Tôi…tôi muốn vào thăm ngôi nhà của…

Đặng cố đứng vững trên hai chân.

– Tôi là con Ourang Outang ở đường nhà xác…

Bây giờ chàng mới nhận ra hắn nói giọng da đen.

– Cửa đóng…

– Giờ này đóng cửa rồi. Chỉ mở từ trưa đến ba giờ rưởi chiều thôi. Nếu đã mua vé dạ hội đêm nay mà chưa lấy ở đây, tối có thể lấy ở nhà thờ Westminster ….Hù…hù…hù…

– Cám ơn Ourang Outang.

Đặng quay người, bước nhanh. Chàng đi như chạy. Sau lưng tiếng gầm gừ và tiếng hú con đười ươi thủ phạm vụ Án Mạng Đường Nhà Xác. Chàng có cảm tưởng lưỡi dao cạo sắp chạm vào gáy mình. Rợn người. Nổi gai ốc. May mắn, người tài xế taxi vẫn còn đợi chàng. Đặng mở cửa xe vội nhảy vào.

– Thấy chưa, tôi nói có sai đâu. Ghê lắm, chết người như không!

Chàng làm tỉnh. Đặng bảo hắn lái về khách sạn.

Trong đám những nàng con gái da đen đứng đường có người đã bỏ đám đông đang đi về phía chàng. Người con gái vẫy gọi. Cô nàng mở nút áo choàng trưng bày hàng họ để chào mời.

Nắng một ngày Thu tàn sớm. Đường phố Halloween ma quái hơn. Kỳ nhân, Dị vật, Ma quỷ đã thấy xuất hiện đó đây.

Về tới khách sạn tên lái taxi tính luôn tiền chờ đợi. Đặng làm lơ. Chàng cúp tiền tip.

Người tiếp viên khách sạn cho chàng biết có người gọi điện thoại nhắc chàng đi dự party đêm nay. Người đó không để lại số điện thoại. Bây giờ Đặng hiểu ra. Một kẻ nào đó đã mua vé qua địa chỉ căn nhà Edgar Allan Poe. Người đó biết chàng thích đọc truyện kỳ bí. Không còn gì suy nghĩ nữa, chàng quyết định đi dự party hoá trang Halloween đêm nay.

Gần nửa đêm, Đặng xuống chờ trước khách sạn. Vốn đã mang theo chiếc áo field jacket nhà binh cũ, chỉ cần thêm vài thứ phụ tùng chàng đã hoá trang thành một quân nhân.

Chiếc xe quan tài Halloween của hãng du lịch đến đón trễ. Tài xế, một bộ xương người. Chàng bước vào quan tài tìm một chỗ ngồi. Hành khách toàn ma vương, quỷ sứ, đầu trâu mặt ngựa…Ngồi trong quan tài, giờ chàng là một tử sĩ. Chiếc quan tài như từ nhà mồ mới chui ra, đầy mạng nhện, cát bụi bùn đất.

Đường phố giờ thấy nhan nhản ma quái. Chiếc quan tài dừng lại trước một ngôi nhà thờ cổ. Nhà thờ Westminster tọa lạc tại góc đường Fayette và đường Greene, xây trên một nghĩa trang.

Đêm Thu tha ma mờ ảo sa mù. Trên những nấm mồ, bia mộ nghiêng ngả rêu phong, lập loè ánh ma trơi bí ngô. Lưới nhện trắng như bông giăng mắc từ nhà mồ này qua nhà mồ kia. Những con nhện tinh “goá phụ” (black widows) đôi mắt đỏ máu chết người. Những cánh dơi ma cà rồng lao chao trong đêm tối. Những con mắt cú vọ lân tinh rình rập…Tiếng hú oan hồn. Tiếng nhạc yêu ma.

Sát hàng rào, ngay lối vào nổi bật một ngôi mộ trắng. Ngôi mộ ba mặt bia. Một mặt khắc tên Edgar Allan Poe. Hai mặt kia khắc tên người vợ và bà mẹ vợ ông. Trên tường có tấm bảng tưởng nhớ Edgar Allan Poe của một hiệp hội thi văn hữu Pháp. Đây là ngôi mộ mới đời sau này. Ngôi mộ nguyên thủy của Edgar Allan Poe nằm ở sân sau nhà thờ. Ngôi mả đó vẫn còn tấm bia với con quạ đậu dưới nóc mộ bia. Con quạ bây giờ đã gảy mỏ.

Đây đó những ngôi mả to như những ngôi nhà có cổng sắt hoen rỉ. Nơi đây an nghỉ những anh hùng hào kiệt, những công hầu khanh tướng, những danh gia vọng tộc vang bóng một thời của Baltimore. Người ta cố giữ nguyên những nét hoang tàn của năm tháng. Những ngôi mả trông giống như những nấm mồ vô chủ. Bia đá đã mòn, đã sứt mẻ.

Đột nhiên nóc một ngôi nhà mồ mở bung ra. Cõi chết mở ra. Cửa âm ty mở ngỏ. Âm phủ chào đón.

Những tham dự viên lũ lượt chui xuống đất. Nấp mồ đậy lại. Lòng nhà mồ chật ních. Những ma. Những quỷ. Những quái. Những yêu. Những tinh. Những thú vật người. Những mục súc người. Những sâu bọ người. Những chó má người. Những rắn rết người…những Frankenstein, những Doo dah. Những đú đa đú đởn. Những thần những thánh. Những tiên. Những thần thoại. Những cổ tích….

Chỗ này ma mảnh đang hài tội con người. Chỗ kia ác quỷ đang xét xử tội ác con người. Chỗ khác quái vật đang nguyền rủa cái vô luân, vô đạo đức của con người. Chỗ nọ yêu tinh lên án sự hèn nhát vô bờ vô bến của con người.

Ngôi nhà thờ xây trên một nghĩa trang đã có từ trước. Xây trên những trụ móng bê tông cà kheo. Nhà thờ “ngồi xổm” trên mặt nghĩa trang. Những trụ móng tránh né những ngôi mả cũ chìa ra thành từng ngăn hình rẻ quạt tương tự như hầm nhà mồ catacomb. Một tiếng sấm gầm. Tiếng mưa gào. Tiếng gió hú. Tiếng chim vỗ cánh. Một con quạ đen phóng lên một thềm mộ cao. Quạ. Quạ. Quạ. Hắn kêu quạ quạ cho tới khi đám ma quái lặng im.

Hắn bắt đầu nói về thân thế và sự nghiệp văn chương Edgar Allan Poe. Hắn kết thúc bằng cái chết bí mật của ông. Edgar Allan Poe chết vào một ngày đầu tháng mười. Hưởng dương bốn mươi tuổi. Người ta tìm thấy ông mê man ở một nơi đầu phiếu. Edgar Allan Poe hôn mê vì ngộ độc rượu? Hay vì bị đầu độc bởi một người kiểm phiếu? Ông qua đời sau bốn ngày hôn mê.

Tiếng nhạc cõi chết lạnh người vang lên. Cánh cửa nhà mồ Edgar Allan Poe bật tung ra. Xác chết ngồi dậy. Chiếc trán gồ. Tóc hơi xoăn loà xoà hai bên. Xác chết vỗ đầu, tỉnh ra khỏi hôn mê. Ông lấy giọng rồi đọc thơ:

Once upon a midnight dreary, while I pondered, weak and weary,
Over many a quaint and curious volume of forgotten lore-
While I nodded, nearly napping, suddenly there came a tapping,
As of some one gently rapping, rapping at my chamber door.
“Tis some visitor”, I muttered, “tapping at my chamber door”
Only this and nothing more
…………………………
Nameless here for evermore .
………….
This is it and nothing more
………….
Nevermore.

Xác chết diễn ngâm bài thơ The Raven tuyệt vời. Nghe lịm người. Xác chết đóng vai tác giả chui vào lại mộ tối an nghỉ. Cánh cửa ngàn thu khép lại.

Nhạc ma quái macabre trỗi dậy. Dạ vũ bắt đầu. Ma quỷ người ngợm quái thú quay cuồng nhảy múa. Kêu. Gào. Hú. Hét. Rú. Vui đùa cười giỡn. Đặng nhảy với tất cả ma quỷ quái thú thần tiên.

Một tiếng hát thì thầm bên tai chàng.

“Đừng bỏ em một mình! Đừng bỏ em một mình…
Đường về nghĩa trang mênh mông
Đừng bỏ em- Đừng bỏ em một mình! Đừng bỏ em một mình!
Đường về nghĩa trang lênh đênh…”

Đặng đang ôm trong tay một xác ướp. Chàng đang nhảy với một mummy. Một xác ướp Ai Cập hát tiếng Việt. Chàng ôm xác ướp sát thêm vào người tỏ ý chia xẻ với nàng.

– Happy Halloween.

– Happy Halloween.

– Mummy hát hay lắm.

– Lâu rồi không hát. Đêm nay Halloween, bỗng dưng có hứng thích hát lại bản nhạc đó.

Chấm dứt bản nhạc nhảy, chàng dìu xác ướp ra một góc nhà mồ vắng người. Xác ướp quấn vải liệm chỉ còn chừa hai con mắt, cái miệng. Hai con mắt long lanh. Cặp môi phớt tím. Răng trắng đều. Người thon đẹp. Vải liệm quấn bó sát người nâng bộ ngực no tròn dựng đứng, cong lên. Bộ ngực sừng cong.

– Mummy dùng gì? Bloody Mary hay Sangria?

– Lúc này tôi chưa muốn uống mấy thứ đó.

– Đêm nay họ chỉ có bán toàn một thứ nước uống màu máu.

– Nếu có, cho tôi một cốc nước Punch Hawaii cũng được. Không có nước punch, Đặng mua một cốc nước cà chua cho xác ướp. Đôi mắt và cặp môi còn lại trên thân người quấn chặc vải liệm không giúp Đặng nhận diện ra tung tích xác ướp là ai. Cặp mắt tinh quái. Cặp môi khêu gợi. Hai người nhảy say sưa quấn quýt. Đặng nhiều lúc muốn thôi nhảy ngồi nói chuyện, nhưng xác ướp háo hức như chỉ sống lại có đêm nay thôi. Chàng phải chiều nàng nhảy liên hồi.

– Chúng mình tìm chỗ nào nói chuyện đi.

– Tôi muốn đi dạo.

Đặng tìm người hướng dẫn viên báo cho hắn biết chàng về sớm, khỏi cần hắn chở về khách sạn nữa. Xác ướp lái xe đưa chàng thăm một vòng Baltimore ban đêm rồi dừng ở khu Nội Cảng. Hai người dìu nhau đi quanh bờ nước. Nàng vẫn không thổ lộ một lời.

– Mumy hát cho tôi nghe hết bài hát hồi nãy đi.

– Tôi không thuộc hết.

– Nhớ câu nào hát câu đó.

Xác ướp dựa sát vào người Đặng, nàng cất tiếng hát:

” Đừng bỏ em một mình. Đừng bỏ em một mình, trời lạnh quá, trời lạnh quá, sao đành bỏ em một mình…Chiều lộng gió, chiều lộng gió…”

Đặng nắm chặc bàn tay xác ướp khen tặng. Chàng cởi chiếc áo field jacket khoác lên người xác ướp. Đêm thu bên sóng nước cũng lạnh và lộng gió như lời bài hát. Lá vàng đêm rụng nhiều. Hai người thả bộ đi hết khu Nội Cảng.

– Ngày xưa ông là quân nhân?

– Phải.

– Bây giờ người lính vẫn còn sống trong ông?

– Phải. Mãi mãi. Bao giờ tôi cũng vẫn là một kẻ phấn đấu. Một kẻ chiến đấu. Một kẻ đấu tranh cho quyền sống của con người.

– Ông đưa áo cho tôi mặc, coi chừng bị cảm lạnh đó.

– Chúng mình vào một cái quán nào tìm cái gì ăn. Đi chơi đêm như thế này tôi lại nhớ đến những cái hẻm bán thức ăn khuya của Saigon ngày trước.

– Xác ướp này mà đến những hẻm ấy thì thiên hạ Việt Nam sẽ hoảng hồn hết vía.

– Hình như ở đây có tiệm ăn Việt Nam Cochin, Cô Chín gì đó.

– Sợ tiệm đó giờ này đóng cửa rồi. Để tôi lái xuống Little Italy xem có tiệm ăn nào còn mở cửa không.
Little Italy. Những dãy nhà cổ, có hầm, bậc tam cấp cao, trông như một khu phố Venice cũ nào đó. Nhiều tiệm ăn còn mở cửa.

– Mummy đề nghị tiệm ăn nào không?

– Không, tuỳ ông.

– Vậy cứ vào tiệm nào đông khách. Một là đông vui, hai là ít khi bị thất vọng về món ăn. Hai người vào một quán ăn đầy ma quái Ý đang vui đùa đàn hát. Một ngư nữ đưa hai người đến một cái bàn trống.

– Buon giorno.

– Ciao, Sirena. Che bella! Che carina!

– Grazie Mille, signore. Cám ơn ông rất nhiều. Mummy và ông lính có muốn dùng những món ăn chơi đặc biệt hôm nay không?

– Có món gì vậy?

– Mùa này có sò tươi rất ngon. Sò mọng nước và ngọt.

– Bây giờ là tháng mấy?

Đặng hỏi thành tiếng nhưng thật sự ra tự hỏi mình. Chàng vờ ngữa cổ tìm câu trả lời. Chàng làm ra vẻ mình là một kẻ đãng trí thông thái.

– Tháng mười. October. Ngư nữ nói đúng đấy. Sò những tháng tận cùng bẳng chữ R rất ngon. Cô cho chúng tôi một vài phút.

– Ông bà cứ thong thả chọn món ăn, chút nữa tôi trở lại.

Ngư nữ đưa thực đơn rồi bỏ đi.

– Mummy dùng sò nửa vỏ, oysters on the half shell?

– Chịu, tôi không thích ăn sò sống. Ông thích, cứ gọi.

– Mummy muốn món ba màu cờ Ý không?

-?

– Sốt cà chua đỏ, pasta xanh lá cây, phô ma trắng.

– Nhờ ông gọi hộ.

– Mummy tuổi gì nào?

Xác ướp nghi ngại, Đặng giải thích:

– Tôi muốn hỏi tuổi tử vi tây phương. Chỉ cần ngày tháng. Tử vi tây phương không cần tuổi, không đoán ra được tuổi. Tôi chỉ cần biết là tuổi Ngư Nữ, Bão Bình, Nhân Mã…

Mummy cười mĩm.

– Thật sự ông cần biết tử vi để gọi món ăn sao?

– Mỗi tuổi có một khẩu vị.

– Để coi, tôi tuổi Hổ Cáp.

– Hổ Cáp là con bò cạp, sinh trong khoảng 22-10 đến 24-11. Vậy thì “Happy birth day”.

Đang mùa sinh nhật, hai mắt xác ướp lung linh.

– Cám ơn ông.

– Hổ cáp có nọc độc chết người. Bò Cạp kỹ ăn, ăn kiểu cách, ăn đúng nghệ thuật bếp núc. Không thích thà nhịn còn hơn. Thức ăn không những hợp vị mà mỗi món ăn phải là một bài thơ, một bức hoạ…Miếng cà rốt thái chỉ, một nét cọ màu. Cọng mùi đong đưa lau lách…

Ngư nữ trở lại. Đặng gọi cho xác ướp món Frutti di mare sốt cà chua đỏ Marinara và gọi cho mình món cá hanh sọc sốt trắng alfresco kèm thêm một chai rượu Ý Chianti nhỏ. Chàng muốn nếm thử cá hanh sọc, striped bass (rockfish), loại cá được chọn làm biểu tượng cho các loài động vật Maryland.

– Nghe ông nói hết cả giận.

– Giận tôi? Hồi nào?

– Hồi nãy ông khen ngư nữ đẹp phải không?

– Phải. Che bella! Che carina! Quá đẹp, quá xinh. Đúng là Hổ Cáp.

– Hổ Cáp thì sao?

– Chết người. Giết người nhưng không hiểm. Không nhỏ mọn.

Ma quỷ Ý vui nhộn. Tiếng vĩ cầm réo rắt. Tiếng hát opera bồng bềnh sóng nước thành Venice. Khi chơi vơi soprano. Khi vời vợi tenor. Khi trầm trầm baritone. Khi trầm thấp basso.

Người bồi trong lớp vỏ con cua Sebastian trong phim hoạt hoạ ngư nữ Mermaid của Disney mang thức ăn ra. Vừa để thức ăn xuống bàn, hắn vừa hát một bài ca Ý với nhiều âm tận cùng bằng âm ô. Cái miệng hát có lúc cũng tròn vo như chữ O.

– Buon appetito.

– Grazie, Granchio, cám ơn con cua.

– Mời Mummy.

– Mời ông.

Đặng nâng ly. Hai người cụng ly.

– Xin chia xẻ cùng nhau những bất hạnh đời người.

– Xin chia xẻ.

Mummy nhón một sợi mì cắn thử.

– Pasta của Mummy ăn được không?

– Mì họ làm rất ngon, rất tới. Không còn sượng bột, không quá chín sũng.

Nghệ thuật nấu pasta như vầy là đến tuyệt đỉnh rồi. Một tô mì Trung Hoa cũng vậy, mọi yếu tố quyết định ở cọng mì. Hồi trước tôi ghiền ăn mì ở một xe mì đậu dưới một gốc cây bên Tân Định. Tôi hỏi chú Ba bán mì làm sao ông ta có thể làm và trụn những sợi mì tuyệt đến như thế. Ông ta bảo mỗi lần làm mì, ông phải thắp hương cầu xin phù hộ. Cầu nguyện cả thánh thần tiên Phật lẫn ma vương quỷ sứ cô hồn các đảng.

– Người Ý bảo pasta ngon phải hợp với răng. Al dènte.

– Ông có biết ông Cua đó hồi nãy hát bài gì không?

– Không.

– Tôi không hiểu tiếng Ý nhưng tôi biết ông ta hát bài ” Kiss the Girl” mà con cua Sebastian đã hát trong phim Mermaid.

– Uổng quá! Nếu biết, tôi đã làm theo lời ông ta hát rồi.

Xác ướp lườm yêu.

– Lúc nãy còn giận nên không thèm nhắc.

– Mất một dịp bằng vàng.

Nàng ăn rón rén như một con mèo. Nàng sợ thức ăn rơi xuống vải liệm quấn quanh người. Những giãi mì Ý dẹp fettuccine lòng thòng thử thách.

– Mummy cởi băng quấn ra, ăn cho thoải mái.

Nàng cười tinh quái.

– Ông xúi dại tôi. Gió lọt vào là mummy tan thành cát bụi.

– Như thế có nghĩa là Mummy vẫn còn yêu đời.

– Ít ra là đêm nay

– Tại sao chọn làm xác ướp đêm nay?

– Cả đời, tôi vẫn chỉ là một xác ướp. Người đời không thấy đó thôi.

– Thế hồn đi đâu?

– Đi bên cạnh cuộc đời.

– Đáng lẽ Mummy phải dùng những món ăn Kim Tự Tháp hợp miệng hơn.

– Đêm nay ăn gì cũng ngon.

– Món ăn Ai Cập có những món mang tên những phần thân thể phái đẹp rất hấp dẫn như món Fisolis “Người đẹp trong mùng”, Bamia “Những ngón tay ngà”, Kadin budu “Đùi tiên nữ”…Mấy món này có thể ăn bằng tay.

– Có món nào tên Người Đẹp Trong Vải Liệm không?

– Tôi nghĩ là có. Chắc tôi sắp được nếm món đó.

– Xí…Tiếng xí kéo dài thườn thược.

Nàng cúi xuống đĩa thức ăn che dấu cảm giác mình.

– Đôi khi cũng cần phải “xí” mới xí được phần “đẹp”!

– Xí xọn.

Nàng cười. Nụ cười tươi nhất kể từ lúc Đặng gặp nàng.

Chàng đề nghị:

– Ăn xong chúng mình bỏ món tráng miệng, về chỗ tôi dùng trà. Phòng tôi đang ở là một cái Suite Victoria. Phòng khách có lò sưởi, chúng mình đốt lửa đêm nay.

– Ông ở một mình mà thuê cả một cái Suite?

– Người đi dự đại hội đông quá. Trên sáu ngàn người đến từ khắp nơi trên thế giới. Khách sạn ở đây không đủ phòng, ban tổ chức phải lấy cả những suite cho những người ở một mình như tôi.

Đặng nhìn vào mắt xác ướp.

– Dường như đã có một sự an bài, sắp đặt…

– An bài…tôi vẫn sống với an bài.

Ma quỷ Ý có đứa đã quá say. Có kẻ đã hiện ra nguyên hình người. Có tiếng chửi nhau. Có tiếng chai cốc vỡ. Những tiếng than gọi mẹ “Mama ô mamia” sặc mùi phô ma Parmesan.

Hai người rút lui êm. Gió đêm lạnh giá. Lá thu vàng chạy đuổi nhau trên mặt đường. Yêu quái đã rút vào những hang ổ êm ấm.

Về đến khách sạn, Đặng đốt lò sưởi pha trà trong khi xác ướp đi trang điểm lại. Đợi nàng trở ra chàng mới châm nước vào bình trà.

– Ông mang cả khay chén theo nữa sao?

– Biết trời miền Đông mùa này chuyển lạnh nên đem theo trà uống cho ấm người.

Đặng châm trà mời xác ướp.

– Mummy dùng thử rồi đoán xem là trà gì nào.

Môi nàng giờ tô son đỏ như màu lá thắm mùa thu. Nàng rón rén nhấp trà. Nàng lắc đầu.

– Không được. Phải lau môi son đi. Son làm uổng công pha trà của ông.

Xác ướp rút khăn trong ví ra lau sạch hết môi son. Nàng nhấp trà.

– Trà mạn sen phải không ông.

– Đúng đấy.

– Ngon tuyệt.

Hai người ngồi uống hết tuần trà. Lửa gỗ thông trong lò sưởi reo vui nổ lách tách. Không khí ấm, thơm ngát mùi tinh dầu thông. Xác ướp ngã vào lòng chàng. Đặng cúi xuống hôn thật nồng nàn. Nàng hụt hơi gục xuống ngực chàng, thở.

– Ôm chặt em đi.

Đặng ôm Xác Ướp chặt thêm. Hai mắt nàng tình tứ.

– Mummy còn nhớ trò chơi rồng rắn không nhỉ?

– Nhớ.

Đặng để tay lên đầu Xác Ướp.

– Xin khúc đầu.

Chàng chờ nàng ưng thuận sẽ mở lớp vải băng quấn. Xác Ướp chợt hiểu. Hốt hoảng. Nàng ngồi thẳng dậy, hất tay Đặng ra. Hai tay bưng giữ đầu, nàng lắc đầu phản đối.

– Không được đâu.

– Phải trả lời theo bài hát chứ. Nào bắt đầu lại. Rồng rắn có nhà không?

– Không, đi vắng rồi.

– Rồng rắn có nhà không?

– Không, đi vắng chưa về.

– Rồng rắn có nhà không?

– Không, đi vắng sắp về.

Đặng hỏi dồn:

– Rồng rắn có nhà không?

– Có.

– Xin khúc đầu.

Xác Ướp giữ chặc băng quấn đầu, lắc đầu quầy quậy.

– Những xương cùng xẩu.

– Xin khúc giữa.

Hai tay nàng vẫn giữ băng quấn đầu. Bộ ngực sừng cong bỏ ngỏ.

– Những máu cùng me.

– Xin khúc đuôi.

– Tha hồ mà đuổi.

Xác Ướp trốn chạy vào phòng ngủ. Nàng toan đóng cửa lại nhưng không kịp. Đặng đã nắm được khúc đuôi.

Xác Ướp viết mấy chữ để lại trên mặt bàn. Đặng còn ngủ. Nàng lách mình ra ngoài, khoá trái cửa. Trời bên ngoài sương thu dầy đặc. Xác Ướp giờ chỉ còn vải liệm quấn kín từ đầu xuống cổ. Từ cổ trở xuống chân, vải liệm bó thân đã không còn.

Trên lối nàng đi về ngập lá thu vàng.

Nguyễn Xuân Quang
Trích VĂN, Giai Phẩm Xuân Nhâm Thân, Số 114-115, tháng 12-1991 và tháng 1-1992
Nguồn: Truyện do độc giả N. Nguyên gửi

Đã đóng bình luận.