Mộng đời sắc sắc không không

Posted: 29/01/2018 in Phan Ni Tấn, Truyện Ngắn

Phan Ni Tấn

Người ta nói càng về chiều người già càng ít nằm mộng. Tôi, tuy chưa có gì gọi là “chiều” nhưng lâu nay tôi cũng ít khi thấy mình nằm mộng. Cho đến tối hôm qua, đi sâu vào giấc điệp tôi thấy mình đang lui cui viết xuống những dòng này:

Tôi là một cô nhi xuất thân từ viện mồ côi Ganakata ở Tây Kinh (Miyako), Nhật Bổn vào thế kỷ thứ 14. Thiện mẫu viện chủ có lòng bác ái lượm tôi trước cổng tu viện, trên ngực ghim một tờ giấy nhầu nát đề vỏn vẹn một hàng chữ lòe nhòe dài sọc: Toshiro Harakiri Harachi Zukyo Nihobiicho, tên tôi.

Khi vào đời, tôi là một đứa trẻ thô thiển ngơ ngác bị đời đá lăn đá lốc tả tơi như trái banh rách. Sầu đời, tôi lên núi Fiji đạp tuyết tầm sư học đạo. Đạo đây là tâm đạo, kiếm đạo, hiệp sĩ đạo. Sư phụ tôi là một bậc quái nhân dị khách, một Samurai từng trừ gian diệt bạo. Lần đầu tiên gặp ông, tôi giựt mình. Ông hoàn toàn không phải là một thứ tiên ông đạo cốt, tay cầm phất trần như các bậc thần tiên, mà toàn thân ông, từ đầu chí chân, râu tóc bạc phơ, lông lá đầy mình như con bạch hầu tinh ông nuôi.

Sư phụ người Tạng lai Mông pha Ấn trộn Hàn gốc Nhật. Thuở nhỏ sống trên rặng núi Népal, ông từng là đệ tử đời thứ tám của kỳ lão Phật đạo thánh nhân chi bảo Tu Bồ Đề tái thế. Trong lịch sử Phật giáo khởi từ năm 530 trước Công nguyên, Phật Thế Tôn giác ngộ lúc 36 tuổi và truyền bá đạo pháp trong 49 năm, Tu Bồ Đề là một trong thập đại đệ tử của Đức Thích Ca Mâu Ni, và là bậc giác ngộ của Ngộ Không Tôn hành giả ngàn năm trước.

Sau nhiều năm hành hiệp vào thời kỳ phong kiến ở Ấn Độ và Nhật Bổn, sư phụ hốt nhiên đốn ngộ, xa lánh trần thế, sống cô độc, bí ẩn trên đỉnh núi Fiji quanh năm tuyết phủ. Trên đường lên núi tu đạo, cơ duyên đưa ông cứu thoát con vượn trắng bị trúng tên của những tay thợ săn bá đạo. Ông mang nó lên núi chữa trị nuôi dạy nó như một đứa con hàng ngày vào rừng hái trái cây, hứng sương núi đắp đổi sống qua ngày. Từ ngày thâu nhận tôi là đệ tử độc nhất, sư phụ chỉ bút đàm với tôi về hạnh từ bi và đạo lực thâm hậu của con người, trừ những lần dạy võ, luyện kiếm, hô bài thiệu.

Sau nhiều năm lao tâm khổ luyện, từ một đứa trẻ vụng về, ốm yếu tôi trở thành một thanh niên Samurai phương phi, vạm vỡ thứ thiệt. Tôi có thể chạy như bay trên đầu ngọn cỏ, đó là pháp môn thảo thượng phi, phóng phi tiêu sáu cạnh rách cánh ruồi đang bay, chém đứt râu ong đang hút mật, kiếm tôi sắc bén và nhanh như chớp chẻ sợi tóc ra làm tư, chẻ sợi lông ra làm tám, cung tên của tôi có thể bắn xuyên cả một đàn chim nhạn đang bay theo hình chữ V, tiếng sư tử hống của tôi đánh thức mọi lầm mê ngái ngủ, giới hữu tình phải cúi đầu lắng nghe sự huyền diệu của tiếng rống làm tiếng thu tơi tả rụng và tuyết vô tri cũng phải giựt mình tan ra chùi xuống, người Anh gọi là avalanche.

Một buổi sáng mùa đông, tôi lạy tạ sư phụ, mang tinh thần võ sĩ đạo xuống núi vân du hành hiệp. Một Samurai luôn luôn mang bên mình một thanh trường kiếm gọi là Katana và một đoản kiếm Tanto tạo thành một bộ kiếm Daisho.

Vào thời kỳ phong kiến, lịch sử Nhật Bổn được coi là lịch sử của chiến binh Samurai. Họ phục vụ các lãnh chúa (Daimyo) hay thủ lĩnh (Toryo) với lòng trung thành tuyệt đối cho tới chết. Riêng tôi, một Samurai độc lập không phục vụ cho bất cứ thế lực Shogun hay Daimyo nào. Chính vì đơn thương độc mã như vậy nên tôi thường là một mục tiêu hòng thu nạp dưới trướng các lãnh chúa hay các băng đảng đang ra sức tranh giành quyền lực, kiểm soát đất đai, kể cả quân sự, chính trị, kinh tế và xã hội.

Như đã nói, tôi là một Samurai độc lập, hấp thụ những quy tắc đạo đức, truyền thống võ sĩ đạo từ sư phụ: tính gan dạ, lòng dũng cảm không hề lùi bước trước một bạo lực nào và sẵn sàng đẩy họ đến chỗ diệt vong dưới đường gươm chớp nhoáng Kanata, một kỹ năng chuyên nghiệp của tôi. Chính vì vậy các lãnh chúa Oda, Tokugawa, Masachika hay những băng đảng khét tiếng Yamaguchi, Yakusa …, tất cả đều coi tôi là một Ninja sát thủ, một Ronin bất trị, nhưng thâm tâm tôi vẫn quả quyết tự coi mình là một loại lãng nhân sống tự do hành hiệp trượng nghĩa, thấy chuyện bất bình rút gươm tương trợ.

Tôi trở thành một Samurai không đối thủ cho đến khi chạm trán Zatoichi, một Samurai kiệt xuất đã trở thành huyền thoại trong lịch sử chiến loạn của Nhật Bổn, đồng thời là một nhân vật giả tưởng, không có thực trong kỹ nghệ phim ảnh của người Nhật.

Có điều trong giấc mơ kỳ lạ của tôi xẩy ra đêm hôm qua, Zatoichi lại là một hiệp sĩ mù có thực, hiện thân bằng xương bằng thịt, không những hồn hậu chỉ dạy cho tôi về nghệ thuật nghe gió kiếm bằng tai mà cả về văn hóa cũng như cách nhận thức tính háo thắng, nỗi phù trầm hư ảo nhất thiết giai không của cuộc làm người võ sĩ đạo.

Sau ba ngày ba đêm chiến đấu liên hồi kỳ trận dưới chân núi Fiji hoang dã, cuối cùng, bằng một đường gươm sắc bén nhanh hơn tia chớp, Zatoichi đã chặt đứt đầu con mãng xà ở trên cây anh đào bị động lao xuống mổ vào nhân trung tôi.

Tôi còn nhớ rất rõ trước khi tắt thở mắt tôi vẫn mở trừng trừng, tay vẫn cầm chắc thanh gươm cắm mũi xuống đât. Những tưởng mình hiên ngang như cây tùng bách đội trời chết đứng trong im lặng, ai ngờ thực tế thân hèn vốn sợ đau, sợ chết tôi ra sức vùng vẫy, xúi cái miệng vô duyên của tôi không ngừng ú a ú ớ đến độ vợ tôi đang coi phim Đại Hàn ngoài phòng khách chạy ù vô lay tôi giựt mình thức dậy.

Trong vô thức phản ứng tự nhiên là tôi vội đưa tay sờ vào nhân trung tìm vết rắn cắn, chân thì run rẩy co lên. Mắt trái tôi sợ hãi tìm con mãng xà, trong khi mắt phải lại láo liêng tìm Zatoichi, hiệp sĩ mù nghe gió kiếm, một đối thủ vô cùng lợi hại của đời võ sĩ đạo trong cơn mộng mị của tôi.

Khi tỉnh mộng mới thấy chuyện đời đúng là sắc sắc không không như trong kinh Bát Nhã mà ngài Quán Tự Tại đã từng hành thâm. Đời của thế kỷ 21dù không như là mơ nhưng mà thiệt tình không hiểu sao giấc mộng phù du ở thế kỷ 14 kia cứ làm mình ngẩn ngơ suốt cả buổi trời. Đến khi hoàn toàn thoát ra khỏi cõi phù vân, tôi mới hiểu ra giây khắc đẹp nhất trong đời thực, đó là buổi cơm chiều thơm mùi nấu nướng mà người vợ hiền đang sửa soạn ngoài kia.

Phan Ni Tấn
Nguồn: Tác giả gửi

Đã đóng bình luận.