Dùng hằng ngày

Posted: 20/03/2018 in Alice Walker, Truyện Ngắn, Đào Trung Đạo

Alice Walker
Đào Trung Đạo dịch từ nguyên tác “Everyday Use”

Alice Walker nhà văn nữ người Mỹ da đen, sinh năm 1944 tại Georgia, xuất thân trong gia đình nông dân, học ở Spelman College ở Atlanta (Georgia) rồi Sarash Lawrence ở New York. Dạy học tại Jackson State University ở Mississipi. Hoạt động tích cực trong những phong trào nhân quyền ngay từ hồi còn là sinh viên. Tập thơ đầu tay ” One” (1968) ghi lại kinh nghiệm đấu tranh và những chuyến đi Phi Châu.

Địa vị của Alice Walker trở thành vững chắc sau khi công bố công trình soạn thảo tuyển tập tác phẩm của nhà văn nữ da đen Zora Neale Hurston xuất bản nhan đề “I Love Myself When I Was Laughing” (1979) và giữ chân chủ biên tạp chí Ms.

Tuy vậy phần thành tựu rực rỡ nhất trong văn nghiệp của Alice Walker vẫn là tiểu thuyết. Từ Third Life of Grange Copeland (1970), In Love and Trouble (1973), Meridan (1976) đến cuốn nổi tiếng nhất The Color Purple được trao giải National Book Award và được đưa lên màn ảnh gây nhiều tranh luận cả trong giới điện ảnh lẫn bên ngoài. Chủ đề chính của Alice Walker vẫn là đời sống của người phụ nữ Mỹ da đen. Thảm họa kỳ thị chủng tộc ở Mỹ và trên toàn thế giới đối với người da đen cùng những phong trào nổi lên đòi nhân quyền cho người da đen kéo dài bao lâu đã giúp người phụ nữ da đen học tập kinh nghiệm lịch sử đấu tranh. 

Mặc dầu rất nhiều những thảm họa đã xảy ra cho người da đen nhưng người phụ nữ đen luôn luôn đã tỏ ra có khả năng vượt qua, phục hồi và thay đổi thích nghi với mọi bất hạnh, đồng thời phụ nữ đen cũng là cây cột trụ vững vàng của mọi phong trào nhân quyền.

Cuốn The Color Purple thi triển một kỹ thuật tiểu thuyết ngoạn mục (Alice Walker chịu ảnh hưởng của hai nhà văn nữ da đen Zora Neale Hurston và Jean Tooner) dưới hình thức những lá thư liên tục vận chuyển bằng một kế hoạch ngữ học nói lên cảm thức của người phụ nữ da đen về những vấn đề tôn giáo, tình dục, đơn nhất bản ngã, v.v… Năm 1983 Alice Walker cho xuất bản tập khảo luận In Search of Our Mother’s Garden nhằm trình bày những thành tựu to lớn của những người phụ nữ da đen điển hình như nhà văn nữ thần bí Rebecca Cox Jackson và Coretta Scott King (goá phụ của lãnh tụ nhân quyền Martin Luther King Jr.) và Alice Walker cũng đưa ra chân dung và những vấn đề của chính mình: làm sao có thể thỏa hiệp được sự xung đột giữa một bên là bổn phận của nhà văn nữ đối với văn học còn bên kia là những trách nhiệm của một người mẹ.

Để giải quyết những khó khăn căn bản đó Alice Walker luôn luôn học tập từ kinh nghiệm của mẹ nàng “Chúng ta không được phép nản lòng.” Alice Walker luôn luôn tỏ ra hãnh diện về bản chất lao động nông dân của nàng, tin tưởng rằng: “Mặc cho nỗi đớn đau và những sự buồn khổ, cái ân sủng trong vòng tay chúng ta ôm lấy đời sống luôn luôn là thước đo của những gì đã qua đi trước đây”. 

Truyện ngắn Dùng Hằng Ngày dưới đây mô tả ý tưởng chính yếu đó.

oOo

Tôi sẽ đợi nó trong cái sân tôi và con Maggie chiều hôm qua đã quét thật sạch sẽ. Một cái sân như thế này là nơi ta thoải mái hơn là người ta vẫn nghĩ. Nó không hẳn là một cái sân. Nó giống như một cái phòng khách nới rộng. Khi ta quét thật sạch cái nền đất sét nện cứng này như một cái sàn nhà rồi, và cát mịn màng bốn bề chung quanh sân được vun phủ những cái rãnh nhỏ li li không đều đặn rồi, thì bất kỳ ai cũng có thể tới ngồi xuống và ngó lên những cây sồi chờ đợi những đợt gió hiu hiu chẳng bao giờ thổi vào trong nhà.

Con Maggie sẽ thành ra nóng nảy cho tới khi chị nó đi khỏi. Nó sẽ đứng trân trân ở góc nhà, thiếu tự nhiên và ngượng ngùng vì những vết sẹo bỏng xuôi dọc hai cánh tay và chân nó. Nó sẽ ngó chị nó vừa thèm thuồng vừa ngưỡng phục. Nó nghĩ rằng chị nó lúc nào cũng nắm chắc đời sống trong lòng một bàn tay và người đời chẳng bao giờ từ chối chị nó bất cứ một cái gì cả.

Chắc hẳn là quý vị đã từng xem những tuồng tivi diễn cảnh một người con đã “thành tựu” bỗng đụng độ một cách thật bất ngờ với chính cha mẹ nó, người con này từ hậu trường lảo đảo bước ra. (Câu này ám chỉ chương trình truyền hình được rất nhiều người xem “This is Your Life” trong đó những nhân vật nổi tiếng được mời tới phòng thu hình và bị ngạc nhiên sửng sốt vì ở đấy đã đông đủ bạn bè, thân thuộc, những người cộng tác của họ đứng đón tiếp). Một sự ngạc nhiên thích thú, dĩ nhiên là như vậy rồi. Nhưng họ sẽ phải làm gì nếu như cha mẹ và người con lại vào tuồng chỉ để nguyền rủa sỉ vã nhau nhỉ. Cứ như trên tivi thì người mẹ và người con ôm nhau và mỉm cười vào mặt nhau. Đôi khi người mẹ và người cha khóc lóc, người con ôm cứng cha mẹ trong vòng tay và ngã người ngang mặt bàn nói lên rằng nếu như chẳng có sự giúp đỡ của cha mẹ thì cô (hắn) ta đã chẳng làm nên trò trống gì cả.

Tôi đã từng xem những chương trình đó.

Đôi khi tôi mơ giấc mơ trong đó Dee và tôi đột nhiên được cùng đem vào một chương trình truyền hình thuộc loại này. Tôi mơ thấy tôi được dẫn đi từ khi bước ra khỏi cái limousine kín bưng ghế nệm êm ái đi vào một căn phòng sáng choang đầy người. Ở đó tôi gặp một người đàn ông tươi cười, tóc bạc, sang trọng, trông giống Johnny Carson, ông ta bắt tay tôi và nói với tôi rằng sao tôi lại có thể có được một cô gái tuyệt vời đến như vậy. Sau đó chúng tôi được đưa lên sân quay và Dee vừa ôm choàng lấy tôi vừa ngấn lệ trên mi. Nó gắn lên áo tôi một bông hoa lan lớn mặc dù có lần nó đã nói với tôi rằng nó cho hoa lan là thứ hoa xấu xí xác sơ.

Trong đời sống thực tôi là một người đàn bà mập mạp, to xương, tay chuối mắn xù xì như tay đàn ông thợ thuyền. Vào mùa đông khi đi ngủ tôi mặc áo ngủ bằng dạ, còn ban ngày mặc quần yếm. Tôi có thể giết thịt, làm lông sạch sẽ một con heo dễ dàng như đàn ông vậy. Vì tôi mập cho nên thời tiết có ở không độ tôi vẫn không thấy lạnh. Cả ngày tôi làm việc ngoài trời, đập vỡ băng lấy nước tắm giặt. Tôi có thể ăn gan heo thui lửa vài phút sau khi được móc ra còn bốc khói từ bụng heo. Vào một mùa đông tôi đã bửa vỡ sọ một con bò đực bằng một cái búa tạ khện thẳng vào sọ nó, khoảng giữa hai con mắt, và tôi xẻ thịt treo lên cho nguội trước khi đêm xuống.

Nhưng dĩ nhiên là tất cả những điều nói trên không được chiếu trên tivi. Tôi là một người theo kiểu con gái tôi muốn là: gầy bớt đi nửa tạ, da dẻ tôi trông giống như bánh tráng làm bằng lúa mạch sống. Tóc tôi lóng lánh trong ánh đèn sáng rực. Johnny Carson phải vất vả lắm mới theo kịp được mồm miệng tôi. Nhưng đó là một lầm lẫn thôi. Tôi biết vậy ngay cả trước khi tôi tỉnh giấc. Nào có ai đã từng được biết một ông Johnny mồm miệng liếng thoắng? Ngay cả ai mà tưởng tượng nỗi tôi nhìn thẳng vào mắt một người đàn ông da trắng lạ mặt? Hình như đối với tôi thì tôi đã nói chuyện với đàn ông da trắng luôn luôn ở cái thế chân trước chân sau sẵn sàng tẩu và mắt thì láo liên tìm đường tránh né. Dù sao thì Dee vẫn khoái chí. Nó sẽ luôn luôn nhìn thẳng vào mắt bất kỳ ai. Bản chất nó không có sự ngần ngại.

“Trông con nhỏ ra sao hả mẹ?” Maggie nói. Con bé ló mình ra vừa đủ cho tôi thấy cái thân hình mảnh mai của nó trong váy màu hồng và cái áo choàng ngoài màu đỏ. Nó lên tiếng muốn cho tôi biết nó đứng đó, thân hình hầu như lấp sau cửa.

“Đi ra ngoài sân đi”, tôi nói.

Đã bao giờ quý vị thấy một con vật khập khiễng, chẳng hạn một con chó bị chẹt xe không chết bởi một kẻ vô ý nhưng giàu tiền bạc đủ để mua một cái xe riêng, con chó này lại tránh xa kẻ chẹt nó là một người vô tình đến mức nó chẳng nên đối xử tốt với hắn như vậy chưa? Đó đúng là một cái kiểu đi đứng của con Maggie của tôi đấy. Xưa nay nó vẫn vậy, khi bước đi đầu cúi chạm ngực, mắt gầm xuống mặt đất, chân bước kiểu chim gi, ngay cả cái hồi lửa cháy thiêu xụp căn nhà trước đây cũng vậy.

Con Dee nhẹ hơn con Maggie, tóc nó mềm hơn và mặt đầy đặn hơn. Giờ đây, Dee đã là một người đàn bà rồi dù rằng đôi lúc tôi quên khuấy là nó đã có chồng. Căn nhà trước đây bị thiêu rụi đã bao lâu rồi nhỉ? Mươi, mười hai năm? Đôi khi tôi vẫn còn nghe tiếng lửa cháy và cảm thấy hai cánh tay Maggie níu chặt lấy tôi, tóc nó sực mùi khói, quần áo từng mảnh nhỏ bay rớt lả tả. Hình như mắt nó mở trợn trừng rực lên ánh những ngọn lửa phản chiếu. Và con Dee, tôi nhìn thấy nó đứng tránh xa đám cháy dưới tàng cây mủ ngọt mà nó thường chọc lấy mủ. Trên gương mặt nó mắt chăm chú theo dõi bức vách cuối cùng xám xịt đổ ập vào phía trong cái ống khói lò sưởi bằng gạch đỏ chói. Sao mà mày không nhảy múa quanh đống tro tàn hở Dee? Tôi đã định muốn hỏi nó như vậy. Dee rất thù ghét căn nhà này. Tôi cũng thường nghĩ rằng nó thù ghét Maggie.

Nhưng đó là lúc trước khi tôi và nhà thờ làm cuộc lạc quyên tiền để gửi nó đi học ở Augusta (một thành phố lớn ở bang Georgia nơi có đại học Paine). Nó thường đọc Thánh kinh bắt chúng tôi ngồi nghe; những lời lẽ ép buộc, những câu dối trá, những thói tục của thiên hạ, tất cả những cuộc đời đổ lên đầu chúng tôi đang ngồi chịu trận và mù tịt dưới giọng đọc của nó. Nó đã tắm rửa chúng tôi trong giòng sông Làm-Tin, nó đã thiêu đốt chúng tôi bằng bao nhiêu là kiến thức mà chúng tôi không cần thiết, phải biết tới. Bằng cái kiểu đọc nghiêm trọng của nó Dee đã buộc chúng tôi ngồi sát về phía nó rồi ngay đó lại xua đuổi chúng tôi đi giống như chúng tôi là những kẻ đần độn, và hình như chúng tôi cũng gần hiểu như vậy.

Dee ưa có những đồ tốt. Chẳng hạn như khi dự lễ tốt nghiệp trung học, nó muốn có một cái áo lụa mờ để mặc, một đôi giày đen màu hợp với bộ đồ xanh lá cây nó đã tự tay may sửa từ một bộ đồ ai đó đã cho tôi. Nó rất cương quyết trừng mắt ngó xuống bất kỳ một tai họa nào xảy đến. Mi mắt nó sẽ chẳng nháy mỗi lần như thế trong cả mấy phút đồng hồ. Tôi thường cố kìm mình để không nắm lấy nó mà lay mạnh. Khi nó mười sáu tuổi thì nó đã có cái kiểu cách riêng của nó rồi và nó rất hiểu kiểu cách là cái gì rồi.

Bản thân tôi chẳng hề được học hành. Mới xong lớp hai thì trường đóng cửa. Xin đừng hỏi tại sao: vào năm 1927 dân da màu đặt ra ít câu hỏi lắm chứ không như bây giờ. Đôi khi Maggie đọc Thánh Kinh cho tôi nghe. Nó đọc lầm bầm ý ớ xuôi theo hàng chữ nhưng nó xem không thấy rõ. Nó biết rằng nó không thông minh, sáng láng. Cũng như sự xinh đẹp và tiền bạc, sự nhậm lẹ cũng qua mặt nó cái vèo. Nó sẽ lấy anh chàng John Thomas (kẻ có hàm răng cải mả và bộ mặt chầm vập) và sau đó tôi sẽ được tự do thả cửa ngồi ở đây và tôi đoán chừng lúc đó tôi sẽ ngồi hát Thánh Ca cho mình mình nghe. Dù rằng chẳng bao giờ tôi là người hát hay. Cũng chẳng bao giờ cầm nhịp được. Làm công việc của đàn ông thì tôi lại khá hơn. Tôi thường thích vắt sữa bò cho mãi tới năm 1949 mới thôi vì tôi bị bò húc vào mạng sườn. Giống bò hiền lành chậm chạp và không làm phiền người ta trừ phi quý vị cố vắt sữa chúng sai cách.

Tôi sẽ quyết chẳng thèm quan tâm đến căn nhà. Nhà này cũng giống cái trước đây đã bị cháy có ba phòng, chỉ khác là mái lợp tôn, bây giờ người ta chẳng còn lợp nhà bằng ngói gỗ nữa. Nhà không có cửa sổ đúng thực là cửa sổ, nhưng chỉ là mấy lổ khoét hai bên trông giống như cửa ở dưới tàu thủy, chẳng tròn cũng không ra vuông, cánh chớp mở ở phía ngoài được chống lên bằng miếng da thú không thuộc. Căn nhà này cũng như căn trước đây dựng giữa một bãi cỏ gia súc. Chắc chắn là khi Dee nhìn thấy căn nhà này là nó muốn giật sập xuống ngay. Có lần nó viết thư cho tôi bảo rằng dù cho chúng tôi có “chọn lựa” ở đâu chăng nữa thì nó cũng sẽ xoay sở để đến thăm chúng tôi. Nhưng nó sẽ chẳng bao giờ đưa bạn bè nó về nhà cả. Maggie và tôi đã nghĩ về điều đó và Maggie đã hỏi tôi, “Này mẹ, vào hồi nào thì Dee chẳng còn có ai là bạn bè nữa?”.

Trước đây nó có vài đứa bạn. Mấy thằng nhãi đồ cướp giựt mặc áo đỏ ra khỏi trường học là la cà khắp chốn. Mấy con nhãi cà giựt chẳng bao giờ mở miệng cười. Chúng có cảm tình với Dee và tôn sùng lời ăn tiếng nói hay ho của nó, dáng người dễ thương của nó, tính khôi hài sôi bỏng bùng ra giống như bong bóng xà bông trong thùng nước giặt đồ. Nó đọc Thánh Kinh cho bạn nó nghe.

Thời gian Dee ve vãn Jimmy T. Nó không còn chú ý gì đến chúng tôi nữa mà dồn hết sức mạnh bới lông tìm vết hắn ta. Hắn đã bay đi cưới một cô gái đô thị rẻ rúng xuất thân từ một gia đình ngu dốt ưa hào nhoáng bề ngoài. Nó khó mà có thì giờ để lấy lại được tư thế lắm.

Khi nó đến tôi sẽ gặp nhưng kìa chúng nó đây rồi !

Maggie vừa định bày biện cho căn nhà bảnh một chút, theo cái kiểu quýnh quáng của nó thì tôi giữ nó lại. “Lại đây”, tôi nói. Và nó thôi không làm gì nữa và cố sức dùng ngón chân ngoáy sâu một lổ trên cát.

Mặt trời chói chang quá nên thật khó nhìn rõ hai đứa. Nhưng chỉ cần nhìn thoáng cái cẳng bước ra khỏi xe là tôi biết đó là Dee. Chân cẳng nó luôn luôn ngó bộ tươm tất như thể chính Chúa đã nặn ra theo một kiểu nào đó. Từ phía bên kia xe hơi bước vô một người đàn ông lùn chắc nịch. Đầu hắn tóc phủ dài và thòng tòn teng từ cằm trông giống cái đuôi con la xoắn tít. Tôi nghe thấy tiếng Maggie nuốt hơi “Uhnnh”, cái âm thanh phát ra gần như thế. Giống như khi đang đi trên đường thì nhìn thấy khúc đuôi con rắn đang quằn quại ngay phía trước bàn chân ta. “Uhnnh” .

Kế đến là Dee áo dài chấm đất trong lúc trời nóng như thiêu như đốt thế này. Cái áo màu sắc quá chói làm nhức mắt tôi. Trên áo nó nhiều màu vàng và cam quá đến nỗi phản chiếu cả ánh mặt trời được. Tôi cảm thấy hơi nóng phả khắp trên mặt tôi do những đợt hơi nóng từ áo nó hắt ra. Dee cũng đeo cả bông tai bằng vàng dài chấm vai nữa. Vòng xuyến loang xoang lẻng kẻng khi nó vươn tay vuốt dãn những vết gấp nhăn trên áo từ nách trở xuống. Cái áo nó mặc rộng rãi và chảy xuôi loà xoà và khi nó bước lại gần tôi thấy thích cái áo này.

Tôi lại nghe thấy tiếng Maggie “uhnnnh” nữa. Lần này là vì tóc của chị nó. Mái tóc dựng đứng trông giống như lông xoắn dày trên lưng trừu. Màu đen thui ở quanh hai bên thái dương kết bím dài như đuôi heo quận vào nhau giống như con thằn lằn lẩn đằng sau tai nó.

“Wa-su-zo-Tean-o!” Dee nói, tiếp tục đi vào như đang trượt theo đà chuyển của bộ óc. Anh cu lùn xủn chắc nịch tóc dài chấm rốn lúc nào cũng nhe răng cười toe toét cười và lẹ mồm lẹ miệng nói “Asalamalakim” (lời chào dân Phi Châu), chào mẹ chào em! Anh chàng bước tới ôm chào Maggie nhưng nó lùi lại đụng ngay vào cái tựa ghế tôi đang ngồi. Tôi thấy nó run rẩy và khi tôi ngước nhìn lên tôi thấy mồ hôi hột chảy lã chã từ cằm nó.

“Mẹ đừng đứng dậy” Dee nói. Vì tôi thấp lùn nên muốn đứng dậy cầm lấy tay chống đẩy người lên. Trước khi đứng lên được tôi phải cố gắng chuyển mình mất đến một hai giây. Dee quay mình để lộ gót chân trắng ngần sau quai dép và nó đi ra phía cái xe hơi. Dee đứng ngoài đó nhắm một mắt ghé sát ống nhắm của máy hình Polaroid. Nó cúi xuống thật nhanh và xếp hàng dài hết tấm hình này đến tấm hình khác chụp tôi đang ngồi phía trước nhà có Maggie đứng co núp phía sau. Nó không bao giờ chịu chụp một tấm hình nào mà nó không chắc ăn là phải có căn nhà trong hình. Khi có một con bò đi tới gặm cỏ quanh hàng rào sân, nó chụp lẹ cảnh này có con bò, tôi, Maggie và căn nhà. Xong rồi nó bỏ cái Polaroid trên ghế sau xe hơi và đi tới hôn trán tôi.

Cùng trong lúc đó cái anh chàng”Asalamakim” đang chơi trò cầm nảy thủ với Maggie. Tay của con Maggie ẻo lả trơn tuột như cá và có thể là lạnh ngắt dù đang đẫm mồ hôi, và con bé đang cố rụt tay lại. Trông có vẻ như hắn ta muốn bắt tay nó nhưng lại muốn bắt tay theo kiểu tân kỳ. Hoặc là hắn cũng chẳng biết người ta bắt tay nhau như thế nào nữa. Dù sao chăng nữa hắn ta cũng sẽ sớm chịu thua Maggie.

“Ờ này Dee”, tôi nói.

“Ậy không, thưa mẹ”. Nó nói, “Không phải là Dee nữa mà là Wangero Leewanika Kemanjo”
“Chuyện gì xảy ra với cái tên Dee?”. Tôi muốn biết.

“Cô ta chết rồi” Wangero nói. ” Con không còn thể mang tên ấy nữa, cái tên được đặt theo những kẻ áp bức con”.

“Con cũng biết rõ ràng như mẹ là con được đặt tên theo Dì Dicie mà”. Tôi nói. Dicie là em gái tôi. Dì đặt tên cho Dee. Sau khi sanh Dee chúng tôi kêu dì ấy là ” Dee lớn”.

“Nhưng mà tên dì ấy đặt theo ai?” Wangero hỏi.

“Mẹ đoán là tên của Bà” tôi nói.

“Thế tên Bà đặt theo ai?” Wangero hỏi.

“Theo tên Cụ” tôi nói. Tôi thấy Wangero tỏ ra mệt mỏi. “Tao chỉ lần ngược lên tông chi xa được đến thế”. Thực ra tôi còn có thể lần ra tông chi xa hơn nữa sau cả thời nội chiến.

“Ờ, mẹ tới đấy rồi mà” anh chàng Asalamakim nói.

“Uhnnnh ” tôi nghe Maggie nói.

“Tao chưa lần nào được tới đấy. Trước khi cái tên “Dicie” nổi hiện lên trong giòng họ mình, vậy thì tại sao tao lại cố phải lần ngược tông chi bọt rãnh đời xửa đời xưa như thế nhỉ?.

Anh chàng cứ đứng đấy nhởn răng ra, ngó xuống tôi giống như một người đang kiểm tra một cái xe hơi Model A (một loại xe hơi rất cổ do Henry Ford vẽ kiểu). Lâu lâu hắn và Wangero lại ra dấu với nhau bằng mắt ở phía trên đầu tôi.

“Tên đó con đọc nghe thế nào?” Tôi hỏi.

“Mẹ không phải gọi con bằng tên ấy nếu mẹ không thích” Wangero nói.

“Tại sao lại không phải? Nếu như muốn chúng tao gọi mày bằng tên ấy, chúng tao sẽ gọi vậy”

“Mẹ biết là lúc đầu nghe kỳ cục lắm” Wangero nói.

“Tao sẽ quen đi” tôi nói. “Mày nói lại chậm rõ hơn đi”

Lúc sau chúng tôi bỏ qua chuyện cái tên. Anh cu gọi là Asalamakim có một cái tên còn dài gấp đôi và khó đọc gấp ba. Sau khi tôi lập lại sai hai ba lượt thì hắn ta bảo tôi cứ kêu hắn là Hakim-thợ cạo. Tôi đã định hỏi có phải hắn là thợ cạo không nhưng thực sự tôi không nghĩ hắn là thợ cạo cho nên tôi không hỏi nữa.

“Hẳn là anh phải thuộc về nhóm người chuyên môn vỗ bò cho béo ở phía dưới kia” tôi nói. Những người này khi gặp mình cũng nói Asalamakim, nhưng họ không bắt tay mình. Họ luôn luôn bận rộn: cho gia súc ăn, sửa sang hàng rào, dựng lên chỗ cho bò giải lao (salt-lick shelters, vào mùa nóng nực bò được dẫn đến chỗ này để liếm muối để bảo vệ bò chống lại nhiệt độ quá cao), ném rơm từ trên xe xuống. Khi có vụ những người da trắng đầu độc chết một số gia súc thì những người này cả đêm ghìm súng đứng thức canh. Tôi đã đi bộ cả dặm rưỡi đường để nhìn cảnh này.

Hakim-thợ cạo nói: “Con chấp nhận một vài giáo lý của họ nhưng làm ruộng và nuôi súc vật không phải là nghề con thích” (Cả hai đứa không nói cho tôi biết và tôi cũng chẳng hỏi, là có phải đúng ra là con Wangero (Dee) thực đã theo nó và cưới nó làm chồng không?).

Chúng tôi vừa cùng nhau ngồi ăn thì hắn ta nói hắn không ăn canh cải xoắn và hắn cho rằng thịt heo dơ. Dầu vậy Wangero ăn ào ào từ lòng heo tới bánh bắp, rau cỏ và mọi thứ khác. Nó cứ lải nhải mãi về những củ khoai lang có lằn xanh. Mọi thứ đều làm nó thích thú. Ngay cả việc chúng tôi vẫn còn dùng những tấm ghế do bố nó trước đây đóng làm ghế ngồi ăn vì chúng tôi không có tiền mua ghế cũng làm nó khoái.

“Ồ, mẹ ơi!” Nó kêu lên rồi nó hướng về Hakim-thợ cạo. “Trước đây em nào có rõ được là những tấm ghế này sao mà dễ thương đến thế. Anh có thể cảm nhận được những chỗ ghế mòn trũng xuống khi anh ngồi vào, nó vừa nói vừa luồn tay dưới mông sờ dọc theo tấm ghế. Sau đó nó thở dài và với tay nắm lấy cái bình đựng bơ của bà ngoại. “Thôi được!” Nó nói “Con muốn hỏi Mẹ xem con có thể lấy một vài món đồ trong nhà không”. Nó nhảy khỏi bàn ăn và đi về phía góc nhà chỗ để cái chum đánh sữa hiện giờ sữa ở trong đã vón cục. Nó nhìn đi nhìn lại cái chum.

“Con cần cái nắp chum” nó nói “Có phải ngày trước bác Buddy lấy gỗ thứ cây mình vẫn dùng để đẽo cái nắp này phải không?”

“Ừ”, tôi nói.

“Hẳn rồi” nó nói một cách sung sướng. “Và con cũng muốn lấy cái que đánh sữa nữa”.

“Cũng do bác Buddy gọt phải không?” Hakim-thợ cạo hỏi. Dee (Wangero) ngước lên nhìn tôi.

“Ông chồng trước của Dì Dee gọt đấy chứ” Maggie nói, giọng nó nhỏ đến nỗi chẳng thể nghe ra.

“Tên ông ta là Henry nhưng người ta thường kêu ông ấy là Stash”.

“Óc con Maggie giống như óc voi”, Wangero vừa nói vừa cười.

“Tôi có thể dùng cái nấp chum làm cái đĩa đặt giữa cái bàn ở góc nhà” nó vừa nói vừa lấy một cái đĩa đậy nhẹ lên miệng cái chum. “Còn cái que đánh sữa tôi sẽ nghĩ cách dùng nó như một vật có tính cách nghệ thuật”.

Khi nó gói xong cái que đánh sữa rồi, chuôi que vẫn thòi ra. Tôi cầm cái que đánh sữa trong lòng hai bàn tay một lúc. Chỉ cần cầm trong lòng bàn tay mà không cần nhìn kỹ ta cũng biết được đâu là chỗ đặt tay để đánh cái que lên xuống trong chum để làm bơ vì chỗ đó đã mòn lõm xuống. Sự thực thì có nhiều vết lõm nhỏ, ta có thể nhìn ra chỗ đặt ngón tay cái và những ngón khác lõm xuống gỗ. Cái que này làm bằng thứ gỗ màu vàng lạt rất đẹp lấy từ một cái cây mọc trong sân căn nhà dì Dee lớn và Stash sống ở đó hồi xưa.

Ăn xong bữa chiều rồi Dee (Wangero) đi về phía cái rương đặt dưới chân giường ngủ của tôi và bắt đầu lục lạo đồ trong giường. Con Maggie lủi vào trong bếp loay hoay với cái cối giã trầu. Wangero từ phía trong đi ra tay cầm hai cái mền. Hai tấm mền này do bà ngoại Dee, Dee lớn và tôi căng trên cái khung mền đặt ở cổng trước đụp chắp. Một cái đụp chắp theo mẫu Vì Sao Cô Đơn. Cái kia theo mẫu Tản Bộ Quanh Núi. Trong cả hai cái mền đều có những mẫu áo cũ do bà ngoại Dee trước đây đã mặc sờn cũ trong cả năm chục năm và hơn nữa. Có cả những mảnh áo của ông nội Jarrell Paisley. Và một mảnh nhỏ xíu màu xanh đã phai màu cở cái hộp quẹt được lấy từ bộ quân phục cụ Ezra mặc trong thời Nội Chiến nữa.

“Mẹ ơi! Con có thể xin hai cái mền cũ này không? ” Wangero nói giọng ngọt như chim ca.

Tôi nghe thấy trong bếp có một vật gì rơi xuống đất, một phút sau đó là tiếng cánh cửa bếp đóng sập mạnh.

“Tại sao mày không lấy một hay hai cái mền khác?” Tôi hỏi.

“Những món cổ lổ đó vừa đây do tao và dì Dee Lớn chắp từ mấy cái áo lá bà ngoại mày vá vẩn trước khi ngoại chết mà”.

“Không. Con không thích những cái mền khác” Wangero nói, ” những cái mền đó đường viền may bằng máy may”.

“Nhờ vậy lại bền hơn” tôi nói.

Điều đó không quan trọng” Wangero nói “Hai cái mền này tất cả những miếng vải vụn đều cắt từ quần áo bà ngoại thường mặc. Bà đã vá bằng tay tất cả những mụn vải vụn vào. Cứ tưởng tượng mà xem! “.

Nó ôm khư khư hai cái mền trong vòng tay, vuốt ve chúng.

“Có một mụn vải, chẳng hạn những miếng màu xanh lợt là lấy từ quần áo cũ của cụ bà ngoại đã được thừa hưởng đấy”. Tôi vừa nói vừa bước lên sờ những chiếc mền. Dee (Wangero) lùi lại vừa đủ để tôi không đụng tay được vào chúng. Những cái mền này đã thuộc về nó rồi.

“Cứ tưởng tượng mà xem!” Nó vừa thở vừa ôm chặc chúng vào ngực.

Thực ra Mẹ đã hứa sẽ cho con Maggie những cái mền này khi nào nó và thằng John Thomas lấy nhau” tôi nói.

Nó thở hắt ra như bị ong châm.

“Con Maggie không thể nào biết giá trị những cái mền này được!” Nó nói. “Có thể nó sẽ ngu muội đến độ đem chúng ra dùng hàng ngày nữa là khác”.

Mẹ đoán nó có thể lắm chứ” tôi nói, ” Chưa biết rằng Mẹ đã giữ gìn chúng khá lâu không để ai dùng cả. Mẹ hy vọng con Maggie sẽ dùng chúng!”.

Tôi không muốn nhắc lại chuyện tôi đã tặng cho con Dee (Wangero) một trong hai cái mền này khi nó rời nhà để vào đại học như thế nào. Khi đó Dee đã bảo tôi là những cái mền này cổ rồi, không còn hợp thời trang nữa.

“Nhưng những cái mền này là vô giá!”

Bây giờ thì nó đang nói vậy một cách giận dữ vì nó đang điên tiết lên.

“Con Maggie rồi sẽ đem trải chúng trên giường và chỉ trong vòng năm năm là chúng thành giẻ rách. Sớm hơn nữa là khác.”

“Nó luôn luôn vẫn có thể làm vài cái nữa” tôi nói. “Con Maggie biết cách đụp mền mà”

(Wangero) nhìn tôi hận thù. “Bà sẽ chẳng thể nào hiểu được cả. Điều quan trọng là những cái mền này, chính những cái mền này cơ!”.

“Ờ, mà con sẽ dùng chúng vào việc gì cơ chứ?” Tôi nói, hơi bí.

“Treo chúng lên.” Nó nói như thể rằng việc duy nhất ta dùng mền là treo chúng lên.

Lúc này Maggie đang đứng ở cửa. Tôi hầu như có thể nghe thấy tiếng động phát ra từ chân nó cái nọ xéo lên cái kia.

“Chị ấy có thể lấy hai cái mền được Mẹ ạ” nó nói, giọng nói giống một kẻ thường chẳng bao giờ giành thắng được một cái gì cả đời hoặc là chẳng bao giờ có được một cái gì dành riêng cho mình cả.

“Con vẫn có thể nhớ đến Bà dù chẳng có những cái mền”.

Tôi lừ mắt nhìn nó. Môi dưới con bé lúc này phìu ra vì ngậm cụm thuốc lá và vì ăn thuốc nên mặt nó đỏ đần ra trông như đứa đang đỏ mặt xấu hổ.

Chính bà ngoại Dee và Dee lớn là hai người đã dạy nó tự đụp vá được mền. Nó đang đứng kia, hai bàn tay chai cứng dấu sau nếp váy. Nó nhìn chị nó với một cái gì đó giống như sự sợ hãi nhưng nó không giận chị nó. Đó là phần số của nó. Đó là cái cách nó biết được ý Chúa.

Khi nào mà tôi nhìn nó như thế này thì có một cái gì đó mơ hồ đập mạnh lên đỉnh đầu tôi và rồi chạy tuột xuống tận gót chân. Y như lúc tôi đang ở trong nhà thờ và ý Chúa đụng chạm tôi và tôi cảm thấy hạnh phúc là la lên. Tôi đã làm một việc mà trước đây chẳng bao giờ làm cả: tôi ôm choàng Maggie về phía tôi rồi lôi nó theo vào buồng trong, giựt những cái mền từ trong tay Miss Wangero và ném chúng vào lòng Maggie. Maggie lúc đó đang ngồi trên giường ngủ của tôi mồm há rộng.

“Mày hãy lấy một hay hai cái khác” tôi bảo Dee.

Nhưng Dee quay đi không nói một lời nào và ra phòng ngoài gặp Hakim-thợ cạo.

“Mẹ thật chẳng hiểu gì cả” nó nói vừa lúc tôi và Maggie đi ra khỏi nhà tiến về phía cái xe hơi.

“Mày bảo tao không hiểu cái gì cơ chứ?” Tôi muốn biết rõ.

“Tài sản của Mẹ”.

Nó nói vậy và rồi quay sang Maggie hôn em và nói:

“Mày cũng nên cố gắng tụi mày làm được một cái gì đó, Maggie ạ. Đó mới thực sự là một ngày mới mẻ đối với chúng ta. Nhưng mà cứ xét cái cách mày và Mẹ đang sống thì có thể chẳng bao giờ mày được cái ngày đó cả.”

Nó mang kính mát vào che khuất hết phần mặt từ đầu mũi và cằm nó trở lên.

Con Maggie cười mỉm, có thể nó cười cái kính mát. Nhưng đó đúng thực là một nụ cười, không sợ hãi. Sau khi chúng tôi thấy đám bụi mù do chiếc xe hơi gây nên đã tan hoang tôi bảo con Maggie đem cho tôi một nạm thuốc. Và rồi hai chúng tôi ngồi đó sung sướng nhai thuốc cho mãi tới lúc đến giờ phải vào trong nhà và đi ngủ.

Alice Walker
Đào Trung Đạo dịch
Nguồn: VĂN Số 50- tháng 8-1986; độc giả N. Nguyên gửi.

Đã đóng bình luận.