Cây Dương lá rung

Posted: 04/04/2012 in Hà Việt Hùng, Truyện Ngắn

Hà Việt Hùng

Cách đây mấy năm, vào mùa thu, tôi theo nhóm nhiếp ảnh nghệ thuật đi săn ảnh ở thành phố Cedar, tiểu bang Utah. Nhóm gồm 11 người, do anh Hải làm trưởng nhóm. Anh Hải là người trực tiếp hướng dẫn chúng tôi về nhiếp ảnh. Anh là người say mê nhiếp ảnh đã mấy chục năm, và dĩ nhiên, kinh nghiệm về nhiếp ảnh của anh, chúng tôi rất khâm phục và học hoài không hết.

Đấy là lần đầu tiên tôi đến Cedar. Ngày hôm trước, chúng tôi lò mò dọc theo đường 143 để chụp lá vàng. Dọc hai bên đường, những hàng dương cao vút, thân cây trắng, với những chiếc lá vàng rung rinh trong gió. Lúc đó tôi mới hiểu vì sao người ta gọi aspen là “cây dương lá rung”. Chỉ cần một chút gió thoảng qua rất nhẹ, cũng đã khiến cho hàng triệu triệu chiếc lá dương rung rinh xao xác. Chúng tôi dừng xe ở một địa điểm nằm trên đường 143. Chung quanh toàn là lá vàng. Những chiếc lá nhỏ, hơi tròn, ửng vàng, đang rung động trong gió. Tôi có cảm nghĩ, phải chi người ta gọi là “cây dương lá run”, thì thi vị và hay biết mấy. Chữ “run” viết không “g”, nó mang ý nghĩa rất mỏng manh, dễ vỡ, bé nhỏ, xúc động, cần che chở…như run rẩy, run sợ, tay chân run cầm cập, giọng nói run run, run vì mừng, run như cầy sấy. Nhà thơ Hàn Mặc Tử có câu: Run như run tử thần thấy long nhan, run như run hơi thở chạm tơ vàng. Nhưng chữ “rung” ở đây viết có “g”, nó lại mang ý nghĩa thực tế khác, như rung rinh, rung động, rung chuyển, rung cây nhát khỉ.

Sáng sớm hôm sau, chúng tôi bỏ đường 143, đổi qua đường 14. Đường ngoằn ngoèo như một con rắn khổng lồ. Chúng tôi ngừng xe ở dọc đường, pha cà phê và nấu mì ăn sáng bằng cái lò ga nhỏ anh Hải đã cận thận mang theo. Ăn xong, mọi người nghe anh Hải “truyền lệnh”:

– Cảnh ở chỗ này rất đẹp. Tôi đã đến đây một lần rồi. Các bạn có thể quanh quẩn săn ảnh ở đây. Đừng đi đâu xa. Đúng 12 giờ trưa mình tập họp tại cái ao phía sau này. Các bạn nhớ nhé. Đúng 12 giờ. Chúng ta còn phải đi nơi khác.

Nói xong, anh Hải vác chân ba càng lên vai, đeo túi máy ảnh, rồi lầm lũi bước đi. Những người khác cũng lỉnh kỉnh xách đồ nghề, mạnh ai nấy len lỏi vào những khu rừng chung quanh.

Chỉ cách địa điểm ăn sáng chừng vài trăm thước, có một cái ao nhỏ trên lưng chừng đồi. Ao không rộng lắm nhưng nước trong vắt, thấy rõ đá sỏi và rong rêu dưới đáy. Khi tới, tôi thấy có người trong nhóm nhiếp ảnh đã tới trước. Có người đang dựng chân ba càng, có người đang gắn ống kính, có người đang loay hoay chụp. Cảnh tượng rất vui. Vì vội tìm ảnh, tôi không để ý đến tên của cái ao, không biết người ta đặt tên là gì. Thôi, hãy cứ gọi là “ao aspen” hay “ao cây dương lá rung” vậy. Trên lưng chừng đồi, rải rác vài căn nhà tương đối xây cất gần giống nhau, bên ngoài mầu trắng, mái nâu đen, lấp ló trong những hàng cây dương thân trắng, lá ngả vàng. Toàn cảnh soi bóng dưới mặt nước phẳng lặng, đẹp lung linh như trong truyện thần thoại hay cổ tích.

Tôi nhìn đồng hồ đeo tay. Kim chỉ 8 giờ 15. Vậy là toán nhiếp ảnh còn có rất nhiều thì giờ để săn ảnh. Tôi ngẩn ngơ trước cảnh trí thiên nhiên, hít căng đầy lồng ngực không khí trong lành của buổi sớm mai tinh khiết, rồi nhanh chóng dựng chân ba càng, bấm từ góc cạnh này đến góc cạnh khác. Mặt trời từ từ nhô lên. Mùa thu ở Utah đẹp rực rỡ.

Sau khi chụp đã nhiều, tôi để nguyên máy ảnh trên giàn, xếp chân ba càng, đeo lên vai, rồi lững thững đi men theo con đường nhỏ bên trái ngọn đồi dẫn về phiá căn nhà mầu trắng. Một bóng người thấp thoáng sau hàng cây, gần ngôi nhà. Đi thêm ít bước, tôi nhận ra đó là một người đàn bà. Tôi không thấy rõ mặt vì bà ta đang đội một cái hood may liền với áo.

– Chào ông. Ông đi chụp ảnh à?

Tôi giật mình. Tiếng nói xuất phát từ phía người đàn bà. Tại sao ở nơi “khỉ ho cò gáy” này lại có người nói tiếng Việt Nam sành sõi như vậy? Lúc đó, tôi cũng vừa đi tới.

– Dạ, chào bà. Bà là người Việt Nam à?

Người đàn bà đón tôi bằng một nụ cười hóm hỉnh:

– Không là người Việt Nam thì là người gì?

Tôi sững sờ. Lúc đó tôi mới để ý. Bà ta vào khoảng hơn 50 tuổi. Khuôn mặt trắng trẻo, thanh tú. Một tay bà ta đang cầm cào xúc đất, còn tay kia đang cầm một cụm cây nhỏ. Bà ta đang bận làm vườn.

– Xin lỗi. Tôi cứ tưởng bà là…

Người đàn bà mỉm cười:

– Ông tưởng tôi là người Tầu à?

– Dạ, không. Nhưng mà…

Người đàn bà cúi xuống, tiếp tục công việc của mình.

– Không phải ông là người đầu tiên nói tôi là người Tầu đâu. Ai gặp tôi lần đầu cũng đều nói như vậy.

Rồi bà ta tiếp tục:

– Thỉnh thoảng tôi thấy có những người đến đây chụp ảnh, nhất là về mùa thu. Ở đây mùa thu rất đẹp. Lá cây aspen đổi sang màu vàng. Tôi rất thích cảnh này.

– Thưa bà, bà ở đây lâu chưa?

Người đàn bà im lặng. Đôi mắt xa xăm nhìn về phía trước. Ở đó có những chiếc lá vàng đang chao đảo, rơi nhè nhẹ xuống mặt ao.

– Hơn hai mươi năm rồi. Trước kia, gia đình chúng tôi ở tiểu bang Ohio. Rồi bà lắc đầu nhẹ:

– Tôi chưa bao giờ về Việt Nam. Chắc ở đó có nhiều thay đổi lắm.

Tôi gật đầu:

– Gia đình tôi sang đây năm 1993, cũng chưa bao giờ về.

Người đàn bà nhìn tôi:

– Vậy là cũng lâu rồi.

Cởi đôi bao tay bằng cao su, bà cất tiếng:

– Ông nhà tôi đang nghỉ trong nhà. Rất tiếc tôi không mời ông vào nhà được. Ông ấy rất ghét tiếng ồn. Ông cảm phiền cho. À, ông có lạnh không? Ông đứng xích vào đây. Để tôi pha nước trà mời ông. Ông nhà tôi cũng thích uống nước trà.

– Vậy ông nhà cũng là người Việt à?

– Không, ông nhà tôi là người Mỹ.

Tôi cứ như người từ trên trời rơi xuống, hết ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác.

– Sao, ông ngạc nhiên à?

Giọng người đàn bà đều đều:

– Ông nhà tôi là cựu chiến binh ở Việt Nam. Chúng tôi gặp nhau trước khi ổng bị thương cuối năm 1972. À quên, tôi có thể được biết tên ông?

– Dạ, tôi tên Việt. Còn bà?

– Tên tôi là Mary Jones. Tên Việt Nam là Mai. Xa quê hương đã lâu, gặp đồng hương người Việt Nam, tôi mừng lắm.

Chúng tôi nói chuyện đến đó, có giọng đàn ông từ trong nhà vọng ra:

– Honey, hình như em đang nói chuyện với ai bằng tiếng Việt?

Bà Mary tươi cười:

– Hi, Jack. Anh không ngủ nữa sao? Ừ, em đang nói chuyện với một người Việt Nam. Ông ấy là nhiếp ảnh gia đấy.

Có tiếng người nói tiếng Việt như reo lên:

– Vậy à? Em mời ông ấy vào nhà. Đứng ngoài đó lạnh lắm. Đợi anh một chút.

Bà Mary quay qua tôi:

– Ông nhà tôi mời ông vào.

Tôi cảm thấy lúng túng, không hẳn vì đôi giầy lấm bụi đang mang ở chân, mà là vì Jack nói với vợ bằng tiếng Việt, một thứ tiếng Việt còn hơi nặng, nhưng khá trôi chảy. Thật sự, tôi đã không dấu được vẻ kinh ngạc chắc đang hiện trong mắt, và trên mặt mình. Có thể bà Mary nhận ra điều này. Tôi làm ra vẻ lơ đãng nhìn xuống “ao aspen”, ở đó các bạn nhiếp ảnh vẫn còn đang say mê chạy qua chạy lại.

Tiếng bà Mary:

– Không sao, ông cứ tự nhiên mang giầy vào nhà.

Nghe nói thế, tôi lấy can đảm bước vào. Cũng may phòng khách không trải thảm, được lót bằng loại gỗ sồi mầu nâu. Trong nhà được bày biện khá ngăn nắp, vài ba bức tranh sơn dầu sao chép của Van Gogh và Monet treo trên tường.

Bà Mary kể, ông bà chỉ có một cô con gái, hiện ở và làm việc tại California. Cô muốn đón bố mẹ về ở chung, nhưng ông bà còn đang do dự, ngại mất tự do cho mình và tự do cho con.

Lúc đó Jack đi ra. Ông đi với sự trợ giúp của một chiếc nạng gỗ bên phải, chậm rãi, từ tốn, nhưng không nặng nề. Tôi nhận ra ông bị mất một chân. Ông mặc một cái áo pull trắng dài tay, quần jean xanh. Ông thân mật bắt tay tôi, nói một hơi:

– Chào anh bạn. Tôi là Jack Jones. Anh đi chụp ảnh à? Anh thấy vùng này thế nào?

Tôi vui vẻ:

– Đẹp quá, nhất là vào mùa thu. Chúng tôi thích đi chụp lá vàng ở đây.

Jack gật đầu.

– Thỉnh thoảng chúng tôi thấy có người đến đây chụp ảnh lá vàng. Tôi cũng thích nhiếp ảnh lắm, nhưng không có dịp. Trong những tấm ảnh lịch sử, tôi thích nhất tấm “Em bé napalm”. Đó là tấm ảnh nổi tiếng thế giới của Nick Út. Tôi thích cả ảnh của nhiếp ảnh gia Nguyễn Ngọc Hạnh nữa.

Tôi đồng ý với Jack:

– Tấm ảnh đó của Nick Út phản ảnh chiến tranh Việt Nam. Một đứa bé gái vừa chạy trên đường làng, vừa kêu khóc. Đứa bé bị phỏng khắp người vì bom napalm.

Jack gật gù. Tôi thấy Jack suýt soát tuổi tôi, nghĩa là từ 60 tuổi trở lên. Nhưng trông ông còn khỏe mạnh, to lớn, mặc dù chỉ còn một chân. Một lát sau, ông kể tóm tắt cho tôi nghe ông đã sang Việt Nam từ năm 1968, ở những địa danh tôi chỉ nghe tên, chứ chưa bao giờ đặt chân đến, như Khe Sanh, Quảng Trị, A Sầu, A Lưới, Dakto…Cuối năm 1972, Jack gửi một chân tại chiến trường Khe Sanh, chỉ một năm sau khi ông bà làm đám cưới. Cũng từ đó, cuộc đời binh nghiệp của ông chấm dứt. Năm 1974, ông và vợ trở về Mỹ.

Ngồi nghe ông kể chuyện bằng tiếng Việt Nam, lòng tôi chùng xuống. Thế hệ của ông và tôi đã bị mất mát quá nhiều cho cuộc chiến tranh bảo vệ tự do. Khi ông hy sinh một chân cho đất nước Việt Nam, chúng tôi đã phải giã từ sách vở, chia tay gia đình, vào các quân trường, rồi ra trường, rồi về đơn vị. Có những người đã không bao giờ trở về. Sau tháng Tư 1975, những người không may mắn như chúng tôi lại còn bị đày đọa trong các trại tập trung. Có người 5-7 năm, có người 12-15 năm, hay lâu hơn nữa.

Tôi hớp một ngụm nước trà do bà Mary pha. Nước trà ngon quá, thật tuyệt với khí hậu Utah lúc này. Jack như đang mơ màng:

– Sau khi về Mỹ, tôi tiếp tục đi học lại. Tôi ghi tên học lịch sử chiến tranh Việt Nam. Ông biết không, thật ra Việt Nam Cộng Hòa đã bị bức tử. Nói rõ hơn là người Mỹ đã bỏ rơi Việt Nam. Từ năm 1972, viện trợ quân sự của Mỹ cho Việt Nam Cộng Hòa càng ngày càng suy giảm, cho đến năm 1973, sau hiệp định Paris thì quân đội Mỹ rút quân hoàn toàn. Trong khi đó, quân đội Bắc Việt vẫn nhận chi viện đều đều từ Trung Cộng và Nga Xô. Ai cũng biết đó là một sự không công bằng, nhưng những người Mỹ đã cảm thấy mỏi mệt. Khắp nơi trên nước Mỹ có rất nhiều người còn thiểm cận. Họ không hiểu ý nghĩa của chiến tranh Việt Nam. Họ không biết là người dân miền Nam đã phải hy sinh quá nhiều xương máu trong công cuộc chống Cộng để bảo vệ tự do. Nhiều nơi trên nước Mỹ có những phong trào phản chiến, chống đối chiến tranh và đòi con em của họ phải được trả về. À, ông còn nhớ con mẹ diễn viên Jane Fonda không? Đấy đấy. Một điển hình. Đời sống cá nhân của con mẹ này cũng chẳng tốt lành gì. Lại nữa, có những kẻ không biết Việt Nam là gì, và người Việt Nam là ai. Nhìn lên bản đồ, vẫn có một số người không biết nước Việt Nam nằm ở đâu. Đó là chuyện nực cười. Người Mỹ không bao giờ thích chủ nghĩa Cộng Sản. Họ ghét cái chủ nghĩa này kinh khủng, nhưng lại làm ngơ cho Cộng Sản hoành hành. Ông cứ nhìn vào một số hoạt động của người Mỹ, trước đây hay bây giờ, thì biết. Trong chiến tranh, các ông đã dựa vào viện trợ Mỹ nhiều quá. Đến nỗi họ nói gì cũng phải nghe, họ bắt gì cũng phải chịu.

Jack trầm ngâm, rồi nói tiếp:

– Để bảo vệ chính nghĩa tự do, các ông không thiếu lòng dũng cảm, nhưng lại dựa vào viện trợ nhiều quá, nhất là về quân sự. Các ông lệ thuộc vào người Mỹ ngay từ viên đạn, đôi giày, cái nón sắt, cho đến cái bi đông đựng nước. Đáng lẽ các anh phải tự sản xuất được những cái thứ chó chết đó. Quân đội Bắc Việt đội nón cối, nón tai bèo, hay nón lá thay cho nón sắt; chân mang dép râu, guốc gỗ tự chế thay cho giầy da; dùng tấm nylon thay cho poncho…Nhờ vậy, chúng mới đeo đuổi được cuộc phá phách lâu dài, không phải dựa vào ai, và nhất là không sợ ai quay lưng, phản bội.

Nghe Jack nói, tôi thấy cũng có phần hữu lý. Lúc bấy giờ kinh phí hoạt động của Quân lực Việt Nam Cộng Hoà đòi hỏi gần ba tỉ đô la một năm, nhưng nền kinh tế lạm phát không chu cấp nổi. Đến năm 1973 viện trợ Mỹ chỉ còn hơn một tỉ, vì thế đã xẩy ra tình trạng thiếu thốn vũ khí, đạn dược và xăng dầu. Khi đại đội của tôi còn ở Hỏa Lựu, Chương Thiện. Có lần đi hành quân, phát hiện một đơn vị Việt Cộng khoảng trung đội trong một căn chòi, cách vị trí chúng tôi độ 3-4 trăm mét. Hình như chúng đang họp. Gọi pháo Tiểu Đoàn, nhưng chỉ được một trái 81 ly. Đạn rơi sát bên, không trúng đích. Chúng hoảng hồn, tranh nhau chạy núp trong hầm hoặc nhẩy xuống sông gần đó. Nếu có thêm vài trái đạn nữa thì hay biết mấy.

– Tiếc là chúng tôi đã không tránh được những điều cần phải tránh, như tham nhũng, hối lộ, tham quyền cố vị, hống hách, hưởng thụ.

Jack gật đầu.

– Đúng vậy. Hồi tôi chưa sang Việt Nam, đọc sách báo nói đến những diễn biến ở đó, thấy ngao ngán quá. Các tướng tá, hội đồng quân nhân cách mạng tạo ra một thời kỳ thật đen tối, nào là đảo chánh, nào là chỉnh lý, nào là cải tổ… Thực ra, đó là những dịp để cho các tướng tá miền Nam nghi kỵ, mất đoàn kết, trừ khử nhau. Họ tự tâng bốc, khen thưởng, thăng cấp cho nhau. Có những người được thăng mấy cấp trong một năm. Những chuyện này hoàn toàn thất lợi cho miền Nam. Đó là những điều đã làm cho miền Nam các ông bị chia năm xẻ bẩy, suy yếu, mất lòng tin của dân chúng, và đó là một trong những nguyên nhân xa dẫn đến thất bại vào tháng Tư 1975. Bây giờ, chúng ta có nói tới chuyện này, chỉ buồn thêm mà thôi, vì tất cả đã quá muộn màng.

Nhấp tách nước trà, Jack tiếp tục:

– Nhưng, dù đã chiếm được miền Nam, chính quyền Cộng Sản ngày càng tỏ ra thối nát, bất lực. Trong chính quyền từ trên xuống dưới đều có những bọn mua quan bán chức, bằng cấp giả, tham nhũng, hối lộ, không sao tiêu diệt được. Gần bốn mươi năm rồi, chính quyền Cộng Sản không thể đổ lỗi cho “hậu quả chiến tranh”, cho “tàn dư Mỹ Ngụy” được nữa. Trong nước, không có luật pháp rõ ràng. Hay nói cách khác, luật pháp bị thay đổi xoành xoạch, nay thế này mai thế khác. Cán cân kinh tế rất chênh lệch, trong xã hội có những kẻ giầu có không ngờ, làm chủ tài sản trị giá hàng tỷ đô la, có trương mục kếch sù ở ngân hàng ngoại quốc; trong khi lại có những người quá nghèo, vất vả với miếng cơm manh áo từng ngày mà vẫn không đủ sống.

Jack nói thao thao bất tuyệt. Tôi chỉ biết ngồi nghe.

– Còn một chuyện nữa. Tôi nghĩ đáng lẽ chế độ trong nước đã chết từ lâu rồi, nếu như những “khúc ruột ngàn dặm” không gửi tiền về nước mỗi năm tới 7- 8 tỉ đô la. Đó là số tiền kiều hối khổng lồ. Nhiều người viện cớ gửi tiền và quà về cho thân nhân và gia đình. Nhờ vậy, chế độ phi nhân đó chẳng những đã không chết, mà ngược lại, nó trở nên mập mạp, hồng hào hẳn ra. Rồi cũng chính những người này lại muốn cho chế độ đó phải được cải thiện, tôn trọng nhân quyền, và trở thành một đất nước tốt đẹp. Tôi hoàn toàn không hiểu.

– Anh Jack ạ, đây là một vấn đề hết sức tế nhị. Người Việt chúng tôi phải bỏ nước ra đi chỉ vì cái chế độ tàn ác kia, nhưng chúng tôi lại là những người quảng đại, có lòng dung thứ, và lúc nào cũng thương yêu quê cha đất tổ. Chúng tôi thừa biết, hiện ở trong nước có những người rất giầu. Những người này đã không ngần ngại bỏ ra hàng triệu đô làm đám cưới cho con cái họ. Có người còn xây nhà, tậu xe hơi đắt tiền, nuôi thú dữ như cọp, chó, cá sấu, trăn, rắn…Họ đã tiêu từ hàng chục ngàn đến cả triệu đô là chuyện…thường. Báo chí ở Việt Nam đã làm một bài tính, giá tiền một chiếc xe “siêu” bằng lương một người bình thường làm trong 777 năm. Họ vung tay xài tiền như nước, có thể vì đồng tiền đối với họ quá dễ kiếm, hay họ gặp may mắn, buôn lậu, làm ăn phi pháp, mánh mung, lươn lẹo. Nhưng đó chỉ là chuyện chơi ngông, lố bịch, kể cả thiếu văn hóa, thiếu đạo đức của một thiểu số thích khoe của, muốn mình trội nổi hơn người khác. Còn tuyệt đại đa số vẫn là những người nghèo mạt rệp trong xã hội. Những đồng tiền chắt bóp từ nước ngoài gửi về, trước hết là vì những người nghèo này. Rất tiếc họ đã bị lợi dụng. Thực tế, không phải người Việt nào sống ở nước ngoài cũng đều khá giả. Có nhiều người nghèo, nhất là những người đã về hưu, cao tuổi, bệnh tật. Họ phải giảm bớt chi tiêu, ăn uống tằn tiện, mới có tiền gửi về cho thân nhân trong nước.

Jack cười nhạt:

– Lỗ hổng là ở chỗ đó. Cộng sản như những con đỉa đói. Chúng không từ bỏ bất cứ một sinh vật nào nếu sinh vật đó có máu. Chúng chỉ biết những gì có lợi cho chúng. Nếu không, chúng sẵn sàng đạp bỏ không thương tiếc. Lịch sử đã nhiều lần chứng minh như vậy.

oOo

Năm ngoái, cũng vào mùa thu, tôi lại có dịp đi săn ảnh lá vàng ở Utah. Tôi có đến “ao cây dương lá rung” với ý định thăm gia đình ông bà Jones. Đứng trước căn nhà vẫn giữ mầu sơn trắng, tôi bấm chuông. Người ra mở cửa đón tôi không phải là bà Mary, cũng không phải ông Jack. Căn nhà đã có chủ mới. Họ cho biết ông bà Jones đã theo con gái qua tiểu bang California.

Nhìn những chiếc lá vàng đang chao đảo trên mặt ao, tôi cảm thấy lòng mình có chút gì bâng khuâng. Nhân tiện đây, tôi xin chân thành chúc ông bà luôn dồi dào sức khỏe, hưởng những ngày thật an lành ở tiểu bang ấm áp này.

Hà Việt Hùng
Nguồn: Tác giả gửi truyện và ảnh minh họa

Đã đóng bình luận.