Chỉ xin

Posted: 10/04/2012 in Phạm Khắc Trung, Tùy Bút / Tản Mạn / Ký Sự

Phạm Khắc Trung


Thi sĩ Tạ Ký (1928-1979)

Tôi chuyển từ khoa Kỹ Thuật sang khoa Kinh Tế Quản Trị trong điều kiện hết sức éo le: Viện Đại Học Cửu Long đã khai giảng được hơn một tháng, Ban đại diện sinh viên đã bầu bán xong, và các nhóm học tập đã chia ra đâu vào đấy.

Thấy nhóm học tập của anh Liêu Quốc Vinh còn trống, GS phụ khảo Vương Đằng đề nghị cho tôi nhập chung vào, thành thử nhóm có 4 người gồm: Vương Đình Phương, Nguyễn Văn Lộc, tôi, và Trưởng nhóm Liêu Quốc Vinh.

Sáng sớm tuần thứ hai đi học, Phương, Lộc và tôi đang ngồi uống cà phê vỉa hè ngoài cổng trường thì Vinh ghé lại. Mặt hằn học, Vinh thẩy xấp giấy ca rô viết tay vào lòng Phương, miệng cay cú thốt, “Bài thuyết trình tôi đã soạn xong đây, trưa nay tới phiên mấy ông lên thuyết trình!”

Chẳng cần liếc xem bài thuyết trình tròn méo thế nào, Phương thẩy xấp giấy lên mép bàn trước mặt Vinh, ngang ngạnh trả lời rằng, “Ai nhận thì người đó soạn, ai soạn thì người đó thuyết trình!” Lộc ngồi làm thinh, tỉnh queo hút thuốc cười ruồi, trong khi mặt Vinh chuyển từ đỏ thành xám xịt, Vinh nhặt xấp giấy thẩy vào lòng Phương lần nữa, cất giọng lạnh lùng, “Thế đủ rồi! Sau bữa nay giải tán nhóm!” Rồi Vinh quay quả bỏ vào trường. Mặt Phương vẫn lạnh như tiền, Phương quăng xấp giấy vô lòng Lộc bảo, “Thôi mày thuyết trình đi!” Lộc vẫn hề hà cười, tay cầm xấp giấy liệng vào lòng tôi, bán cái, “Để phần cho thằng lính mới!”

Lật qua xấp giấy thấy đề tài thuyết trình “Tình yêu qua thi ca” quả có hấp dẫn, tò mò tôi ngồi dở ra đọc. Bài thuyết trình Vinh soạn có vẻ vụng về nhưng tôi lặng thinh không lên tiếng, chỉ âm thầm kẹp vào giữa chồng bài học của mình. Phương và Lộc nhìn nhau cười, cả hai biết đã giải quyết xong một vấn nạn.

Vô lớp, tôi ghé ngang báo cho Vinh biết rằng tôi nhận thuyết trình trưa nay. Vinh hớn hở ra mặt bảo, “Thế thì tốt! Anh xem trước vài lần rồi lên đọc cho trơn tru. Ai thắc mắc đã có tôi ngồi dưới đỡ!”

Giờ nghỉ trưa tôi ngồi lại trong lớp soạn dàn bài thuyết trình khác, rồi kẹp vào giữa xấp giấy của Vinh mang lên bục thuyết trình. Vừa mới giáo đầu vài câu, Vinh đã biết tôi đổi bài thuyết trình anh soạn, Vinh ngồi không yên, cứ nhấp nha nhấp nhổm như gà mắc đẻ, anh dơ tay làm dấu kêu tôi lấy bài anh viết ra đọc. Tôi tảng lờ như không thấy, tỉnh bơ nói chuyện theo ý mình, được một vòng thì sinh viên reo hò tán thưởng, Phương và Lộc hào hứng vỗ tay điếc dẫy cuối phòng, Vinh bắt đầu yên tâm, anh ngồi yên nghe tôi diễn thuyết.

Đại khái, tôi chê Xuân Diệu yêu mà đắn đo quá đáng, cân nhắc tình yêu từng chút từng phân: “Yêu là chết ở trong lòng một ít / Vì mấy khi yêu mà được người yêu / Cho rất nhiều nhưng nhận chẳng bao nhiêu / Người ta phụ hoặc thờ ơ chẳng biết”. Yêu kiểu gì mà ông đem đặt lên bàn cân, cân đo đong đếm từng phần, phân vân cho nhiều, nhận ít, tính toán thừa thiếu, lỗ lời? Rồi chắc ông cũng biết rằng mình bủn xỉn trong tình yêu, ai lại nỡ so đo mặc cả như mua bán món hàng? Nên ông vội vã thanh minh: “Tôi chỉ có một tình yêu duy nhất / Cho em rồi kèm với một lá thư”. Khổ nỗi, càng thanh minh, ông càng lộ ra cái bản chất so đo cố hữu của mình, sợ thiệt thòi trong việc trao đổi tình yêu: “Em không nhận tình tôi như đã mất / Tình cho đi ai lấy lại bao giờ?”

Rồi tôi nêu lên một số định nghĩa về tình yêu của nhiều người khác, nào là “Yêu tức là cùng nhìn chung một hướng”, nào là “Yêu tức là không bao giờ hối hận”… Và tôi lý luận rằng Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu biết xả láng trong tình yêu, không đắn đo, không tính toán ít nhiều, bởi ngay đối tượng để yêu, ông cũng chẳng cần biết mặt mũi ngắn dài: “Ngồi buồn lấy giấy viết thư chơi / Viết bức thư này gửi đến ai? / Non nước xa khơi tình bỡ ngỡ / Ai tri âm đó nhận mà coi!” Rồi tôi lấy 4 câu thơ của Tạ Ký làm phần kết luận: “Chỉ xin một nửa miệng cười / Chỉ xin một phút bên người yêu thương / Chỉ xin một chút dư hương / Gọi làm duyên suốt nẻo đường viễn du”. Bài tôi thuyết trình thiếu chuẩn bị, không có gì đặc sắc, chỉ nhờ những câu thơ tôi dẫn chứng hấp dẫn người nghe.

Vừa thuyết trình xong, chị Diệu Tuệ mời tôi tham gia nhóm học tập mang tên “Tố Vương” do chị làm Trưởng nhóm. Tôi nhận lời ngay nên Liêu Quốc Vinh phản đối um xùm. Tôi nhắc chính anh đã tuyên bố “giải tán nhóm” sáng nay, anh chống chế rằng, “Tui chỉ muốn đuổi Phương và Lộc chứ đâu có đuổi anh!” Hoàng Kim Ngọc mon men lại xin bài thuyết trình để đăng báo trường, tôi đưa bài thuyết trình Vinh soạn đang cầm cho Ngọc, Ngọc hí hửng đứng coi qua loa rồi cười hì hì đưa lại cho Vinh. Ngọc theo dụ tôi, “Mày viết ra đi để tao khoe ông bác”. Tôi cười cười, “Bút sa gà chết! Tao chỉ có thể qua mặt tụi bay, chứ viết ra cho VHC làm thuốc sổ à?”

Ít ngày sau nhóm “Tố Vương” phát động tổ chức sinh hoạt ngoài trời cho toàn trường, tôi nhận trách nhiệm tổ chức và chọn Hội Sơn làm địa điểm sinh hoạt, đó là dịp tôi phô trương khả năng điều khiển sinh hoạt chung, cũng như cơ hội để tôi giới thiệu cô bồ với người trong nhóm. Từ đó tôi và cô trở thành đôi bạn, cho dù học tập hay vui chơi, tôi cũng ưa chọc ghẹo cô cười híp mắt. Một hôm cô chợt nhớ đến câu thơ “Nửa miệng cười” trong bài tôi thuyết trình nên mang ra hỏi, tôi chép nguyên bài thơ “Xin” của Tạ Ký vào tập của cô:

Chỉ xin một nửa miệng cười,
Chỉ xin một phút bên người yêu thương,
Chỉ xin một chút dư hương,
Gọi làm duyên suốt nẻo đường viễn du.
Cố nhân, thôi đã tạ từ,
Dăm năm đấy nhỉ, thực hư thế nào?
Má còn làm thẹn hoa đào?
Mắt còn làm nhạt ngàn sao trên trời?
Tóc còn xanh thuở đôi mươi?
Lòng còn vui thuở hoa cười ước mơ?

Riêng đây từ lạc thế cờ,
Đắng cay cười cợt, ngẩn ngơ khóc thầm!
Trang tình sử, chuyện tri âm,
Khổ đau ai thấu được tâm sự này!
Phong yên từ độ những ngày…
Hậu đình hoa chẳng chau mày thế nhân.
Đỉnh đồng chưa vững ba chân,
Hai bờ cùng nổi phong trần cả hai!
Mắt sâu trắng những đêm dài,
Xin cho chút mộng để cài lên mi.
Ngày mai, thôi tính làm chi!

Lúc đó tôi thiếu xót câu: (Tặng N.T. Lê Tấn Lộc)

Một vài tuầu sau ngày 30/04/75 gì đó, lúc Lưu Trọng Lư vô thuyết trình bên đại học Vạn Hạnh, các bạn sinh viên cử tôi đi nghe rồi về tường trình lại. Đến Vạn Hạnh tình cờ tôi gặp người bạn cũ thời trung học, anh nắm vai tôi kéo vào câu lạc bộ ngồi uống cà phê nghe Bùi Giáng đọc thơ. Đến chừng sinh viên giải tán ra về, tôi nghe lõng bõng người ta bàn về bài “Tiếng Thu 2” mà ghi nhớ, chứ thật ra tôi có biết mặt Lưu Trọng Lư tròn méo thế nào! Về trường tôi vẫn hiên ngang tường trình: “Lúc đầu Lưu Trọng Lư đọc bài thơ ‘Tiếng Thu’ ông làm trước khi theo cách mạng: ‘Em có nghe mùa Thu / Dưới trăng vàng thổn thức / Em có nghe rạo rực / Hình ảnh kẻ chinh phu / Trong lòng người cô phụ / Em có nghe rừng thu / Lá thu rơi xào xạc / Con nai vàng ngơ ngác / Đạp lên lá vàng khô’. Lưu Trọng Lư cho rằng, thời ủy mị đã qua, ngày nay dưới ngọn cờ cách mạng của đảng, con nai vàng cũng biết làm cách mạng, nên Lưu Trọng Lư mới làm bài ‘Tiếng Thu 2’ (tôi xuống giọng): ‘Lá vàng không rụng nữa lá vàng ơi / Con nai vàng không còn ngơ ngác / Đạp lên lá vàng khô’…” Cán bộ Thành đoàn tên Hai Khánh vỗ tay khen, “Hay quá! Hay quá! Đề nghị anh Trung viết lại cho anh em để dành đọc!” Hoàng Kim Ngọc cười hóng hớt, “Bút sa gà chết!…” Tôi nắm vai lôi Ngọc ra ngoài, vừa đi tôi vừa rỉ tai Ngọc, “ĐM, thời buổi này chẳng cần bút sa mà người cũng chết chứ cứ chi gà?” Ngọc hiểu ý tôi, anh cười hì hì hỏi, “Mày muốn ám chỉ, chỉ thơ ngây như nai vàng mới đi làm cách mạng chứ gì?”

Ngày đó chúng tôi sống lây lất bất cần tương lai, bạn bè gặp nhau tìm say cho quên ngày đoạn tháng. Ngặt cái chúng tôi đâu có lắm tiền, dốc túi chung nhau cũng chỉ mua được xị đế là nhiều, đâu thấm gì để hạ nhau gục? Tôi bày nêu pha loạn xì ngầu: dấm, tương, mật ong…, nhà có thứ nào tôi dồn vào hết, thậm chí có thằng còn gạt cả tàn thuốc lá vào cho “mau thấm, say lâu”, uống xoay tua không ngưng nghỉ để ém men cay…, nói chung là chúng tôi làm đủ cách cho mau gục! Tin đồn còn có đứa pha cả rượu cồn (alcohol) ra uống?

Tôi vượt biên rồi đến định cư ở Canada. Khố rách áo ôm, thất nghiệp liên miên, tiền bạc không có nhưng nhờ có tiếng “chuyên viên pha rượu… gục”, nên cuối tuần nào bạn bè cũng kéo đến lôi đi, tính ham vui, nể bạn nên tôi cứ nói cứ cười, cho đến một hôm nghe được những mẩu đối thoại về mình như vầy đây:

A: “Lủ mẻ, nó uống mạnh hơn ai hết mà léo bỏ tiền chung!”

B: “Chú nói dzậy nghe sao được? Nó không có tiền nhưng thỉnh thoảng vẫn mua rượu là gì?”

A: “Nó đâu có hùm tiền mua bia!”

B: “Nó đâu có uống bia mà bắt nó hùm?”

A: “Bởi dzậy tui mới nói nó không hòa đổng, léo khá!”

B: “Nếu dzậy mai mốt mấy chú đừng tới rủ rê nó nữa!”

A: “Kẹt không có nó lại léo dzui!”

Quỷ thần thiên địa ơi! Tôi là người tự trọng. Biết túi không tiền nên không uống kiểu văn nghệ vui chơi, tôi lấy cớ “nặng bụng” từ chối uống bia cũng vì sợ mắc nợ người, tôi chỉ thích pha loại Whisky rẻ tiền mười nấy đồng một chai cho chục người uống cũng gục. Thế mà nay chưa uống đã say, cho nên tôi thề… bỏ rượu! Từ đó chủ xị buông ly, noi gương Dương Văn Minh phất khăn trắng đầu hàng vô điều kiện!

Năm 1998, tôi có dịp quen biết nhà thơ Vĩnh Thao, tức bác Nguyễn Văn Vinh. Một hôm ngồi đối ẩm bên tách trà, bác nói để bác đọc cho các bạn nghe 4 câu thơ này dễ thương lắm:

Chỉ xin một nửa miệng cười,
Chỉ xin một phút bên người yêu thương,
Chỉ xin một chút dư hương,
Gọi làm duyên suốt nẻo đường viễn du”.

Chẳng dè nghe xong, tôi tiếp tục đọc 6 câu kế tiếp:

Cố nhân, thôi đã tạ từ,
Dăm năm đấy nhỉ, thực hư thế nào?
Má còn làm thẹn hoa đào?
Mắt còn làm nhạt ngàn sao trên trời?
Tóc còn xanh thuở đôi mươi?
Lòng còn vui thuở hoa cười ước mơ?”

Bác hứng chí ngồi đọc luôn hết bài thơ xong quay lại hỏi tôi, “Anh Trung cũng biết bài thơ ni hỉ? Bài thơ thật dễ thương chi hé? Giọng Bắc anh đọc nghe rất trữ tình!” Tôi hãnh diện khoe, “Thày Tạ Ký từng dạy cháu Việt Văn!”

Đầu tháng 03/2012, nhân đọc bài “Một thuở Phục Hưng” post trên diễn đàn quen, tôi biết ngay đây là người thày mà tôi vẫn khắc khoải đi tìm. Tôi lần mò liên lạc được với thày Lê Tấn Lộc ở Montreal, thày gửi cho tôi 2 bài viết cũ của thày: “Về Tạ Ký, một người bạn” và “Đêm say khóc bạn”. Đọc đến đâu tôi xụt xùi đến đó. Tôi khóc cho tình đời đen bạc, thương cho thân phận thày Tạ Ký, cho thân phận thày Lộc, và cho thân phận của chính bản thân tôi…

Hôm qua tôi lại vô Blog của thày Lê Tấn Lộc, đọc lại bài thơ “Xin” xong mới email hỏi thày rằng, “Thưa thày: Bài thơ ‘Xin’ em thuộc, nhưng không để ý có hàng chữ Tặng N.T. Lê Tấn Lộc’ ở dưới. ‘N.T.’ nghĩa là gì, thưa thày?”

Thày Lộc trả lời: “Trung em. Bài thơ của Tạ Ký tặng N.T. Lê Tấn Lộc: N.T. = Người Triết (Viết tắt ‘Con Người Triết Học’ mà cựu đồng môn và cựu môn sinh gọi LTL. Tới nay đồng nghiệp Nguyễn Sanh Biên còn dùng: Lộc-PHILO).

Nhớ có lần tôi kể cô bạn nghe: Năm lớp 12 tôi học Triết thày Phạm Vân Trung, hôm đó thày giảng về Bách Gia Chu Tử, với những quan niệm khác nhau về tâm tính con người. Tôi lém lỉnh nói, “Nhân tri sơ tính cà chớn…” Thày biết tính nết thằng học trò nên hất hàm kêu tôi nói hết câu, tôi hiên ngang, “Bởi cà chớn nên lớn lên bị ném cà chua!” Cả lớp cười vui trong khi thày chậm rãi bước xuống lấy ống vố gõ nhẹ lên đầu tôi, thày mỉm cười bảo, “Tôi mong rằng lời nói của anh là do một phút bốc đồng, chứ nếu thâm tâm anh nghĩ thế thì đời anh sẽ khốn khó!”

Tôi nghĩ, thượng đế tạo nên đời người bằng những viên ngọc làm sẵn, chẳng qua người ta không biết lựa ra mà kết thành chuỗi đấy thôi, cứ xem bài thơ “Xin” tôi đọc bốn lần, mỗi lần là một hạt minh châu đánh dấu cho một giai đoạn.

Cố nhân, thôi đã tạ từ,
Dăm năm đấy nhỉ, thực hư thế nào?
Má còn làm thẹn hoa đào?
Mắt còn làm nhạt ngàn sao trên trời?
Tóc còn xanh thuở đôi mươi?
Lòng còn vui thuở hoa cười ước mơ?

Phạm Khắc Trung
Easter, 2012
Nguồn: Tác giả gửi

Đã đóng bình luận.