Tháng Tư mà có thêm ngày nữa cũng lỡ hết rồi chuyện nước non | Một nửa bài thơ

Posted: 12/04/2012 in Thơ, Trần Vấn Lệ
Thẻ:

Trần Vấn Lệ

Tháng Tư mà có thêm ngày nữa cũng lỡ hết rồi chuyện nước non

Ba mươi sáu năm… nhớ lại: Một Ngày Buồn Thật Buồn. Ban Mê Thuột thành Buôn… Sài Gòn mang tên mới, cái tên ai cũng hỏi “Hồ Chí Minh Là Gì?”.

Cái gì cũng qua đi, Ba Mươi Tháng Tư không vậy! Nó vẫn: Dòng Máu Chảy, vẫn Dòng Nước Mắt Sa! Ôi Việt Nam xót xa, sau một thời chiến trận, đất không nở ra hoa, người không hòa không hợp, nhìn nhau hai mắt chớp, trời đất mờ biển dâu!

Ôi Tháng Tư! Tháng Tư! Tháng dương lịch nên thiếu, thiếu gì ai cũng hiểu: Một Sự Đền Bù Vui! Tổng Thống từ chức rồi. Thủ Tướng rời bỏ phủ. Dân bỗng thành Lê Thứ. Niềm vui: miếng-mồi-nhử từ người Phía Bên Kia!

Niềm Vui không ai chia… khi người ta có nó! Điều đó khi hiểu rõ thì chỉ còn buồn thôi! Ba Mươi Tháng Tư ơi! Ba Mươi Tháng Tư khóc! Cái gì còn cũng mất, cái gì mất không còn! Chút ước mơ mõi mòn: Tháng Tư thêm ngày nữa! Ôi ngày không-thể-có trên tờ Lịch Tháng Tư!

Ba mươi sáu năm… xưa vẫn sờ sờ trước mặt một Việt Nam Nam Bắc, một đoạn trường lê thê! Bao người đi có về… rũ bà con đi tiếp, biết là đi khốn kiếp mà cứ đi cứ đi! Khúc hoan ca mê ly đen ngòm kênh Nhiêu Lộc. Tự Do và Hạnh Phúc cứ mãi là chiêu bài! Sân khấu đời diễn hài kéo dài đời điên đảo!

Ai thật tình, ai xạo, ba-mươi-tháng-tư-bảy-lăm đã thấy rất rõ ràng! Phân biệt được Đá / Vàng, đờì chuyện gì cũng muộn! Ngay cả niềm ước muốn tháng Tư thêm Một Ngày! Một ngày… thêm Lưu Đày? Một ngày… cầu Hạnh Phúc? Bốn ngàn năm vinh – nhục… Bốn ngàn năm khói-sương!

Cảnh người Mẹ ôm con, đứa con không còn thở. Cảnh người Lính nức nỡ bên đồng đội máu me. Cảnh mặt lộ ngập xe, những chiếc xe bể bánh… Trời tháng Tư không lạnh mà đất đá cũng run, mà mở miệng không cùng, lời hỏi thăm tắt nghẹn! Tháng Tư ngày cuối tháng, như thế đó! Ba Mươi!

Tháng Tư ơi! Tháng Tư ơi!
Một ngày mong đợi đâu rồi? Gió bay?
Phải chi Lịch nối thêm ngày
Thì đâu có cảnh đọa đày Bắc Nam…

 

Một nửa bài thơ

Bạn tôi nói qua phone:
“Lệ ạ, mình dọn nhà rồi, mình đang ở Anaheim.
Mấy tháng trước, vợ chồng con trai
có về ở chung nhưng bây giờ chúng dọn.
Chúng bảo mình – thôi, Ba nhà cho mướn,
theo chúng con về ở Anaheim.
Mình nằm mẹp ba hôm và mình đã đứng lên,
mình theo con vì… bà xã mình theo… Phật!”.
Bạn tôi nói chắc có rơi nước mắt?
Về Anaheim thì gần nghĩa địa hơn…

Bà xã anh và tôi, Đà Lạt, dạy chung trường,
anh cũng dạy học mà dạy trường khác.
Sau bảy lăm, tôi ở tù, tội “đã làm lính giặc”,
anh chị thì kiếp cá chậu “lưu dung” (*),
sau ba năm anh chị bỏ trường,
về Sài Gòn, xuống Mỹ Tho, vượt biển,
tôi trong tù nghe tin, mừng quýnh,
mong bạn mình cõi sống khác vui, vui…
Mười một năm sau tôi cũng tới quê người,
thăm anh chị thấy có nhà có cửa,
tôi tin chắc rồi tôi cũng thế.
Anh cười, đùa, “Toa phải bỏ làm thơ!”.
“Bỏ làm thơ!” Một câu nói khó ưa!
Tôi “ghét” anh và xa anh nhiều năm lắm…

Năm ngoái đây, một ngày không có nắng,
nhận e mail, anh viết: “Tiến đi rồi…”.
Anh trút cho tôi giây phút ngậm ngùi.
Anh trút cho tôi những dòng sông nước mắt,
không dòng sông nào không tăm tắp
khi người ta đứng ở một đầu sông…
Anh nói với tôi “Mình yêu Tiến vô cùng,
mình ra vô từ nay một ngôi nhà vắng lặng!”.
May vợ chồng con trai chịu về ở chung mấy tháng…
Mấy tháng thôi, mà chúng phải đi làm xa.
Chúng bàn với anh cho mướn ngôi nhà,
Ba về ở với chúng con tiện đường Ba đi thăm Mẹ
Anh nghe lời con, đưa tay gạt lệ,
xa ngôi nhà mưa nắng ba mươi năm…

Tôi và bạn đã từng xa xăm,
giờ xa nữa, trời ơi, xa nữa!
Nghe anh nói cứ ngỡ ngàng tiếng gió
hú hồn ai trong buổi tà huy…

Tôi muốn viết thêm cho trọn bài thơ này,
nhưng ngó xuống đã ướt nhòe trang giấy.
Xa Đà Lạt, xa trường xưa, lòng tôi nát bấy.
Tưởng tới đây có bạn, có bầy…
Tưởng tới đây tôi có được những ngày
đi thăm bạn ở gần trong gang tấc!
Nay bạn chuyển đến Anaheim xa ngất,
mây mấy tầng, xa lộ mấy ngàn miles!

Bài thơ này, mới môt nửa, mà dài;
còn một nửa không làm sao viết được.
Bạn yêu thơ tôi xin cho tôi hạnh phúc,
cho tôi quay về im lặng cõi vô minh!

(*) Sau 30 – 4 – 1975, chế độ mới ra chính sách “Lưu Dung”, có nghĩa là “Dung Thứ Cho Ai Cộng Tác Với Chế Độ Cũ Được Đi Làm Việc Lại”, số người nào bị bắt vào trại Cải Tạo là vì tội nặng “Trời Không Dung Đất Không Tha”. Chính Sách Lưu Dung áp dụng cho công chức không ở trong quân đội V.N.C.H mà Cộng Sản gọi là Lính Ngụy và nhắm vào thành phần Sĩ Quan.

Trần Vấn Lệ
Nguồn: Tác giả gửi

Đã đóng bình luận.