Nguyễn Mạnh Trinh
Với nhiều người bản xứ, hình như dư âm của cuộc chiến tranh Việt Nam vẫn còn nên văn chương và văn hóa Việt Nam được đặc biệt chú ý. Tôi có một người bạn cùng lớp Creating & Writing học viết văn người Mỹ gốc Ý rất thích thú với văn chương Việt nam. Một bữa anh khoe với tôi tuyển tập “Việt Nam: A traveler’s literary companion “do John Balaban và Nguyễn Quý Ðức chủ biên và rất đặc biệt chú ý tới nhà văn Doãn Quốc Sỹ với truyện ngắn “The Stranded Fish” ( Con cá mắc cạn). Anh còn khoe đã được dự một cuộc hội thảo văn học với hai giáo sư Doãn Quốc Sỹ và Lê Hữu Mục tháng 6 năm 1999 tại University St Thomas ở Houston với đề tài “Living Two Cultures: A conference for Vietnamese – Americans”. Và anh hỏi tôi một câu: Bạn nghĩ thế nào về nhà văn Doãn Quốc Sỹ. Nhà văn? Nhà giáo? một người hoạt động chính trị? Hay một người yêu nước bị chế độ đương thời đầy ải khi ở trong nước? Và một nhà văn luôn hướng về tương lai ở hải ngoại …
Có một người đã làm thơ để dường như trả lời giùm cho cá nhân tôi. Những câu thơ gợi ý và lấy từ những nhan đề của tác phẩm mà nhà văn Doãn Quốc Sỹ đã viết trong suốt hơn một nửa thế kỷ cầm bút:
“Dòng sông định mệnh”, thiên thu
“Sầu mây” còn đỉnh mịt mù dương gian
nước non mấy nẻo quan san
lốc quay thời thế gian nan một đời
Ðến. Ði. Ði. Ðến. ngược xuôi
Quê hương. Ðất lạ chỗ ngồi bụi không.
“Khu rừng lau” lửa mênh mông
“U hoài “đâu tiếng bên sông gọi buồn.
Ðường ranh lịch sử mỏi mòn
“Ba sinh” còn tấc “lửa hương” chập chờn
ngã tư bước rẽ không hồn
lưu lạc nào để mất còn hoang mang
“Ðàm thoại, độc thoại” từng trang
“Tình yêu thánh hóa” trường giang mấy nguồn
biển khơi nào rã rêu rong
ai trăng lụn tưởng nến chong dặm ngoài
“Giữ ngọc” thôi cũng “gìn vàng”
sót thiên lương với ngỡ ngàng tâm tư
“Vào thiền” giây phút hoại hư
kiết già ngục tối mắt thù chăm chăm
trong tâm linh thoảng hương trầm
trong lênh đênh có lời thầm đinh ninh
Thì thôi, “Mình lại soi mình”
“Dấu chân cát xóa bóng hình nổi trôi
“người vái tứ phương”, một đời
hoa thơm ngát để một trời mông mơ
kinh vạn quyển thiếu một tờ
chữ vô tự nẻo mịt mờ muôn năm
Tâm ai vằng vặc trăng rằm
Lời ca dao vẫn tiếng ngâm triệu đời”
Bài thơ đầy những tên tác phẩm của nhà văn thuộc vào hàng đầu của văn học miền Nam họ Doãn: Dòng sông định mệnh, Sầu mây, U hoài, Vào thiền, Khu rừng lau, Ba sinh hương lửa, Tình yêu thánh hóa, Ðàm thoại độc thoại, Gìn vàng giữ ngọc, Mình lại soi mình, Dấu chân cát xóa, Người vái tứ phương, Ði,…và cũng nêu được tính chất riêng của một kẻ sĩ phương đông. Luôn luôn chân thành và tin tưởng vào cuộc đời ở những khía cạnh nhân bản tốt. …
Những năm 1984.1985, nhà xuất bản Lá Bối ở hải ngoại có in một tác phẩm “Ði” với tác gỉa Hồ Khanh. Cuốn sách đã tạo ra dư luận xôn xao một thời lúc đó. Ðược in ở hải ngoại và chính ông là tác giả mang tên Hồ Khanh để ngụy trang. Về sau này có người hỏi ông tại sao lại lấy bút hiệu Hồ Khanh thì ông trả lời rất dí dỏm:”Hồ Khanh là hành khô nói lái lại đấy..”
Câu chuyện kể lại một chuyến vượt biên ở vào thời điểm mà cây cột đèn đường ở Sài Gòn cũng muốn xuống ghe tìm tự do như lời người dân ví von. Có những đại gia đình mấy chục người vùi thân nơi Biển Ðông sóng dữ và cũng không biết bao nhiêu người bị bắt giam tù tội cũng như biết bao nhiêu gia đình bị tan nát sống lang thang vỉa hè vì vượt biên không thoát. Nhà văn Doãn Quốc Sỹ đã mang chính cuộc đời những con cháu mình để tạo thành một tác phẩm vẽ lại một thời kỳ cực kỳ đen tối của đất nước. Người dân bị đẩy vào những cảnh ngộ không lối thoát và đã mang chính sinh mạng của mình và gia đình mình đánh bạc với rủi may. Chính vì chất bi thảm nên động tới lương tâm nhân loại và rốt cuộc mới có những đợt thuyền nhân và bộ nhân tới định cư ở các nước tự do.
Riêng với tôi, tôi biết những chi tiết trong “Ði” thực tới gần một trăm phần trăm và hình như rất ít hư cấu. Tôi vượt biên cùng chuyến tàu với gia đình con cháu của nhà văn Doãn Quốc Sỹ nên khi đọc lại những trang sách thấy mồn một rõ những nhân vật với cả những cá tính và cả hoàn cảnh nữa. Khi thường đi lại với người bạn cùng quân chủng Không Quân là con rể của nhà văn Doãn Quốc Sỹ ở căn nhà ở con hẻm đường Thành Thái tôi đã thấy được đời sống tuy thanh bạch mà rất nghệ sĩ. Sau khi bác Sỹ mới được thả về lần thứ nhất tuy công an rất để ý, nhưng ở nhà các con vẫn tụ họp ca hát những ca khúc ngày xưa mỗi khi có bạn bè mặc kệ công an, mặc kệ dò xét. Tôi nhớ có lần buổi tối ghé thăm thì thấy trước cửa con nít trong xóm bu đông lại xúm xít để nghe ca nhạc. Dù đời sống lúc đó khá thiếu thốn nhưng vẫn đầy tinh thần lạc quan. Trong hoàn cảnh căng thẳng như lúc ấy, không phải là dễ để có những phong cách như vậy.
“Ði” đã mô tả rất thực hoàn cảnh gia đình nhà văn cũng như cuộc sửa soạn chuyến vượt biển và những ngày trên biển Ðông nên có sự lôi cuốn từ người thực việc thực. Những lá thư của con cháu gửi về tả lại đời sống ở trại đảo cũng như ở xứ người biểu lộ tâm tư khá tiêu biểu của những người bị dồn vào thế phải bắt buộc xa quê hương. Ra đi mà vẫn ngoái nhìn về đất nước với những người thân còn ở lại. Riêng tôi, tôi có cảm nhận rằng tác phẩm được viết ra với một tấm lòng thương con thương cháu vô bờ. Người thường nếu có tâm tưởng như thế cũng có thể viết xuất sắc huống chi một nhà văn nổi tiếng là đôn hậu thì sự lôi cuốn độc giả sẽ lên đến mức nào!
Nhà văn Doãn Quốc Sỹ đã muốn cho đời sau một chứng liệu về một biến cố không những riêng của đất nước Việt Nam mà còn cả chung của thế giới nữa. Tại sao cả triệu người muốn rời bỏ đất nước mình trong khi tâm lý của người Việt Nam không muốn rời xa quê cha đất tổ? Ðông lực nào đã đẩy họ đi vào một cuộc phiêu lưu, đánh vật với biển cả, với dông bão, chiến đấu với những loài người tàn ác: công an ở nội địa Việt Nam và hải tặc ở ngoài khơi Biển Ðông? Bao nhiêu người đã chôn thân xác ở dưới đáy biển lạnh? Bao nhiêu oan hồn bây giờ vẫn còn trôi nổi theo từng đợt sóng dữ loạn cuồng? Những câu hỏi ấy đã làm thành nội dung của tiểu thuyết “Ði” mà nhà văn Doãn Quốc Sỹ đã ký dưới bút hiệu Hồ Khanh để in và phổ biến ở hải ngoại. Tiểu thuyết này bắt đầu với đại gia đình sum họp để oái oăm khởi sự cho cuộc chia ly:
“Mẹ con sau hai mươi sáu năm trời xa cách (trên một phần tư thế kỷ) được gặp nhau trước tết, lũ cháu nội ngoại được quây quần bên bà ríu rít chuẩn bị đón Xuân. Lũ cháu ngoại là đám con của Quy, đứa con gái đứng hàng thứ tư trong tổng số bảy đứa con của cụ. Như vậy là sau hiệp định Genève 1954 ba con trai hai con gái ở lại miền Bắc, hai đứa (thằng trưởng và Quỳ) di cư vô Nam. Cháu nội cũng như cháu ngoại, mặt mũi đứa nào cũng vằng vặc, mô Phật, và nhất là đức nào tâm địa cũng trung hậu, điều này làm cụ mừng nhất. Suốt từ 1954 đến nay có ngày đêm nào cụ quên niệm Phật đâu ! Nam mô đại từ bi cứu khổ cứu nạn linh cảm Quan Thế Aâm Bồ Tát” Nam mô Ðịa Tạng Vương Bồ Tát độ cho gia đình con sinh tâm hiền diệt tâm tham trên thuận dưới hòa một nhà êm ấm!
Tối lũ nhỏ nội ngoại tranh nhau ngủ với cụ (kể cả đứa lớn mười lăm mười bảy tuổi) để cụ gãi đầu xoa lưng trước khi ngủ.
Hạnh phúc mẹ gặp con, bà gặp cháu của một đại gia đình thương yêu hòa thuận không bút nào tả xiết. Vậy mà cụ có ngờ đâu sau đó chỉ ít lâu cụ chứng kiến cảnh chúng nó ra đi dần, có đứa bị bắt giữ rồi được thả, rồi lại ra đi nữa..”
Ðã có nhiều người viết về những trang bi sử thuyền nhân biển đông, có những cảnh ngộ thương tâm, có những hoàn cảnh tử biệt sinh ly đau đớn làm người đọc không cầm được nước mắt. Tuy cũng có cảnh người đối xử với người man rợ thú vật, nhưng nhân loại cũng có những người của những quốc gia giang tay cứu vớt thuyền nhân vì tình người. Tiểu thuyết Ði của tác giả đã viết trong chiều hướng lạc quan, của những người tin rằng ở trên cao có Thượng Ðế, có Trời Phật để phù hộ và giúp đỡ con người đang gặp cảnh nguy hiểm khốn cùng. Tiểu thuyết này ông viết vào năm 1980 lúc cao trào vượt biển đang ở cao độ và cũng là lúc con thuyền của hai vợ chồng con rể và con gái ông đến bến bờ tự do. Ông viết, có khi như là một cách thế để ân tạ đất trời…
Ông cũng viết truyện ngắn “Chuyến xe” và “Bố Về” gửi ra hải ngoại và được in trong tuyển tập “Tắm mát ngọn sông đào” như những chứng liệu của văn chương phản kháng của những nhà văn nhà thơ còn ở trong nước gửi ra thế giới bên ngoài. Những câu chuyện của một người tù của chế độ Cộng sản sau những ngày bị đầy ải trở về với gia đình trong “Bố Về” hay chuyện kể của người conđi thăm cha trong “Chuyến Xe” là những chứng tích của một thời đại mà nhà tù nhiều hơn trường học và cả nước là một nhà tù lớn mà ở đó một nhúm người lại có toàn quyền sinh sát, toàn quyền định đoạt số phận của cả dân tộc Việt Nam bằng chế độ độc tài toàn trị. Ông còn nêu lên sự tha hóa cùng cực của một xã hội mà căn bản đạo đức thông thường không còn được tôn trọng và cái chủ trương bất cứ điều gì cũng làm hết miễn có lợi trước mắt giống hệt cái chính sách cứu cánh biện minh phương tiện trở thành nguyên nhân của sự sa đọa trong xã hội.
Tiểu thuyết Người Vái Tứ Phương mà nhà văn Doãn Quốc Sỹ hoàn tất năm 1982 sau bảy năm toàn thể miềnNam bị sống trong cảnh đọa đầy.Tác phẩm này được nhà xuất bản Văn nghệ in năm 1995 ở hải ngoại và là một nét đặc thù của tư tưởng của ông. Mặc dù ông đã bị chế độ vùi dập tù đầy nhưng ông vẫn giữ nguyên tâm hồn thanh thản và đôn hậu và chủ trương đem nhân ái thương yêu hóa giải tham tàn hung bạo.nhân vật xưng tôi của Người Vái Tứ Phương là người: “năm 1970 tôi tốt nghiệp bác sĩ Y khoa tại Sài Gòn, hai năm sau tôi được cử đi tu nghiệp thêm một năm về Vi Trùng học cũng tại đại học Connecticut” Còn giáo sư Hoàn “tốt nghiệp tiến sĩ ngành Sinh vật Học tại đại học Connecticut năm 1968” nên cả hai người thân nhau và nhất là cùng có sở thích là chiêm nghiệm đời sống bằng tử vi và Dịch lý. Hai người cùng sống trong một chế độ mà trí thức bị coi là thành phần không cơ bản và bị dòm ngó rình rập. Nhất là lúc ấy phong trào vượt biên đang ở độ cao nhất. Mọi người thấy không thể sống nổi ở một chế độ như vậy, bất công đầy dẫy, kinh tế suy sụp, ngăn sông cấm chợ, đạo đức suy đồi, nên đành phải ra đi liều chết để tìm một đường sống. Giáo sư Hoàn đã xem tướng số giúp bao nhiêu người nên rất hiểu biết hiện trạng xã hôi. Ông cũng đã xem tướng số cho cả những tên công an, là thành phần cơ bản của chế độ dùng để đàn áp dân chúng. Ông khéo léo dùng lời nói để cảnh giác về những tội ác mà chúng đã phạm phải và khuyến khích làm những việc tốt giúp đỡ mọi người.Trong đó có một trung tá công an, người chấp pháp đã hỏi cung giáo sư Hoàn vì tội hành nghề bói toán và có những lời nói phê phán chế độ. Nhưng, sau cùng lại trở thành một người rất tin tưởng và theo lời dặn dò của giáo sư Hoàn mỗi nửa đêm ra bùng binh có tượng Phù Ðổng Thiên Vương làm “người vái tứ phương”. Không biết giáo sư Hoàn có làm hắn bớt đi tính ác của nghề nghiệp công an của hắn không nhưng ít ra cũng gây ra được mầm thiện tâm cho những thành phần nồng cốt của chế độ sắt máu độc tài toàn trị. Những người trí thức chỉ có thể phản ứng như thế với chủ ý làđem chính nghĩa để thắng hung tàn đem chí nhân mà thay cường bạo.Không hiểu trong thực tế có ảnh hưởng gì không vơí thời thế hiện nay?
Thời sự đất nước đã ảnh hưởng rất nhiều đến văn chương của nhà văn Doãn Quốc Sỹ. Sau năm 1954, di cư vào nam sống cuộc sống mới ông đã trải qua nhiều thăng trầm, trải qua thời kỳ Ðệ Nhất rồi Ðệ Nhị Cộng Hòa, với bao nhiêu là biến cố ông đã viết bộ trường thiên tiểu thuyết Khu Rừng Lau với ý định phác họa lại sinh hoạt của nhiều thế hệ tuổi tác nối tiếp nhau theo bước chân đi của lịch sử.
Sau năm 1975, qua một giai đoạn khác, cả nước sống dưới chế độ Cộng sản độc tài toàn trị vừa khắc nghiệt vừa bất nhân nên tình trạng của mọi phương diện đều bị xuống cấp và sa đọa đến mức khó tưởng tượng nổi. Ông đã phải trải qua 12 năm trong tù Cộng sản nhưng khẳng khái trước tòa và bất khuất trong khi bị tù giam nên đã thành một biểu tượng của kẻ sĩ miền Nam. Thái độ và hành động của ông đã làm layđộng sâu xa lương tâm của những người trí thức trong nước và hải ngoại. Ông viết Mình Lại Soi Mình như một cách thế nhìn lại những sự kiện đã qua để tìm một phương cách sống tốt đẹp.
Truyện dài Mình Lại Soi Mình bắt đầu bằng một giai thoại thi ca. Dù quan niệm rằng thi ca khó lòng chuyên chở hết ý tưởng của mình nhưng ông lại sính thơ một cách đặc biệt. Như trong trường hợp mở đầu truyện dài này, bốn câu thơ hỏi và sáu câu thơ của bài đáp tạo thành nguồn cảm hứng cho tác giả. Những câu thơ vấn đáp đó là:
“Lúa Thủ Thiêm ngọn chìm ngọn nổi
Gió xa lộ lúc thổi lúc ngừng
Gặp nhau tay bắt mặt mừng
Vui thì vui vậy biết chừng nào xa”
Và bài đáp lại:
“đỉnh trời vằng vặc gương nga
long lanh soi tỏ lòng ta lòng mình
gương trong mình lại soi mình
thấy tình thăm thẳm thấy hình phù du
nẻo đời gió bụi kỳ khu
biết ai còn mất tình thu võ vàng”
Mình lại Soi Mình là chuyện cô Phượng trong thời gian nằm chờ để được bốc lên ghe lớn đi vượt biển ở một căn gác xép ở Vũng Tàu đã đọc lại những bản nháp của những bức thư cô gửi cho “ông nhà văn “như một cách gửi gấm tâm sự. Thơ không đề địa chỉ người gửi và cũng không chờ đợi hồi âm mặc dù lòng cô rất mong muốn.Tất cả là mười một lá thư cô gửi lần lượt cho đến khi ông nhà văn bị Công An bắt. Và cô đọc lại, trong thời gian chờ đợi chuyến đi dài lê thê, chiêm nghiệm lại những tháng ngày trải qua với những biến động lịch sử của những người thân trôi nổi theo thăng trầm của thời thế. Cô nhớ lại đời sống của cha cô, một người đã thù ghét Cộng Sản và có một sự tương đồng với ông nhà văn ở thái độ chính trị này. Ðời của cha cô đã nếm thật nhiều kinh nghiệm cay đắng và từ đó đã hiểu thật rõ bộ mặt thật của họ. Rồi lần giở những lá thư, cô nhớ đến Họa, người bạn trai và là một người lính đã tử thủ 78 ngày ở An lộc và có những kinh nghiệm về một cuộc chiến đẫm máu, không phải chỉ là xương máu của chiến sĩ hai bên mà của cả dân lành vô tội nữa. Cô lại nghĩ đến người anh tên Trung, là một bác sĩ và cũng trải qua những tháng ngày của những người ở về phía bị thua trận, thấy những ngu dốt của những người lãnh đạo mà vẫn phải ép bụng chịu đựng. Chiến dịch đánh tư sản làm cô nhớ lại người dì giàu có thời trước và bị mất nhà mất cửa của cải bị tịch thu của người dì và rồi cũng phải để lần lượt chồng và con tìm lối thoát bằng cách vượt biển tìm tự do. Phượng lại nhớ tới một người trong họ ở phía bên kia, chú Khôi, kể về những kinh nghiệm sống của một người trí thức sống và cảm nhận từ đời sống tối tăm được gọi là xã hôi chủ nghĩa. Cô lại nghĩ về anh Trung và những câu chuyện kể về những ngày bị tù tội vì bị gọi là ngụy quân của anh. Biết bao nhiêu là câu chuyện kể về những giai thoại của những người tù không bị kết án nhưng vô thời hạn như là một chứng tích rõ ràng của một chế độ rừng rú không tôn trọng pháp quyền …
Trong Mình Lại Soi Mình, nhà văn Doãn Quốc Sỹ muốn đi lại những chặng đường lịch sử, nhìn ngắm nó với suy tư và nhận định của một cô bé ngây thơ nhưng có lý tưởng. Ông quả thật đã gửi thật nhiều thông điệp tới độc giả và còn muốn gửi đến cho đời sau để phác họa lại một thời kỳ vô cùng tăm tối của lịch sử dân tộc Việt Nam. Thời của những chuyến vượt biên mà “những cột đèn đường cũng muốn ra đi”
Tập truyện ngắn Cò Ðùm được xuất bản ở hải ngoại là một thông điệp mà tác giả muốn gửi đến độc giả khi đã sang Hoa Kỳ sinh sống và đoàn tụ với con cái. Ở nơi chốn này, ông nhìn lại thời gian qua và tìm trong những tác phẩm đã viết của mình những nhận định mới. Cuốn sách gồm ba truyện ngắn và một vở kịch. Vở kịch “Tiếng hú tâm linh”
của “Trái Cây Ðau Khổ “thuở nào với những suy tư đã gây ra nhiều phiền phức cho tác giả lúc trước. Cò Ðùm là một truyện ngắn mà tác giả trong ngôi thứ nhất kể về một người bạn là một ông giáo đã sống và trải qua những ngày tháng của cuộc cải cách ruộng đất đấu tố địa chủ của Việt Minh Cộng sản. Ở đây ông dạy học và sống hoàn cảnh thiếu thốn mọi thứ của vùng kháng chiến. Người vợ của ông bị bệnh nặng mà nhà thương thì xa xôi không thể cáng đến được nên dù không tin tưởng nhưng cũng phải ép lòng để một anh y tá vườn chữa bệnh. Thế mà Cò Ðùm, tên người y tá vườn ấy đã chữa khỏi bệnh và sau đó trở thành người học trò học chữ Pháp của ông. Khi ông sửa soạn để trốn vào thành thì Cò Ðùm muốn gửi đứa con trai đi theo nhưng ông từ chối dù rằng trước đó Cò Ðùm đã giúp ông rất nhiều công việc với lòng hy sinh tốt đẹp. Trốn được vào thành rồi ông lại hối hận ray rứt vì tại sao lại từ chối một người tốt với mình như thế. Thành ra, sau này khi ông di cư vào Nam thường hay theo dõi hình ảnh những người chiêu hồi để mong tìm được và giúp đỡ người con của Cò Ðùm qua hính ảnh nhân dáng của một người mà bao nhiêu năm qua ông vẫn nhớ mãi trong tâm…
Nhà văn Doãn Quốc Sỹ muốn nói gì trong truyện ngắn này? Có phải sống ở trong chế độ đầy ải con người như thế, vẫn có những nhân cách đáng kinh trọng. Những người học hành dang dở như Cò Ðùm, dù lớn lên trong gia đình địa chủ nhưng vẫn mang tính chất của người nông dân chịu thương chịu khó, hiểu lẽ sống ở đời và chỉ mong một cuộc sống thuần lương hạnh phúc. Thế mà, lớp con cái của họ, vẫn bị ép buộc cầm súng đi vào chiến trường tham gia một cuộc chiến đã giết hại hàng triệu người và tiêu hao tiềm lực quốc gia trong suốt bao nhiêu năm. Họ vẫn phải gánh vác trách nhiệm với lịch sử mà đáng lẽ những tên mại bản buôn bán chiến tranh phải chịu. Họ phải chịu những oan nghiệt của một thế thời mà những nước nhỏ bị điều động sai khiến từ những cường quốc trên bàn cờ chiến lược thế giới.
Những tác phẩm của nhà văn Doãn Quốc Sỹ dường như có chung một mẫu số mà văn chương dùng để tải đạo và làm cuộc sống con người tươi đẹp hơn. Có rất nhiều nhận xét về ông, như là một nhà văn có chân tài, một nhà giáo tận tụy, một kẻ sĩ khí tiết. Như nhà văn đã quá cố Võ Ðình đã viết: “sống ở một thời đại mà ngôn ngữ lạm phát thê thảm mà biết bao con người trở thành hời hợt trâng tráo Doãn Quốc Sỹ ăn ở thanh bạch tình yêu quê hương gia đình bằng hữu về nhân đạo và danh dự…mà không mảy may e dè ngượng nghịu thiển nghĩ ông thật đáng yêu ở chỗ đó…”
Riêng với tôi, qua những tác phẩm mà tôi đã đọc được, tôi tìm thấy ông là một người thầy mà những tư tưởng chuyên chở trong đó những bài học giúp tôi trưởng thành hơn trong đời sống và tìm được sự an nhiên trong tâm hồn giữa một cuộc sống đầy áp lực ở đây…
Nguyễn Mạnh Trinh
Nguồn: Tác giả gửi



















