Kiệt Tấn – thi sĩ viết văn hay viết văn thi sĩ?

Posted: 20/09/2012 in Nguyễn Mạnh Trinh, Tùy Bút / Tản Văn / Ký Sự
Thẻ:

Nguyễn Mạnh Trinh


Nhà văn, nhà thơ Kiệt Tấn

Thường thường, người ta hay nhắc đến nhà văn Kiệt Tấn hơn là nhà thơ Kiệt Tấn. Có lẽ, vì ở trong bộ môn văn xuôi, ông có những tác phẩm gây ra sự chú ý của độc giả. Từ phong cách tàng tàng, nửa điên nửa tỉnh ông tạo ra một thế giới riêng mà trong đó những chuyện kể của chính mình được tái hiện trong văn chương một cách rất tự nhiên và thành thật dù rằng động chạm đến những vấn đề cấm kỵ của luân lý Việt Nam nhất. Tỉnh hay điên. Ðiên hay tỉnh. Chắc có lẽ chẳng có một độc giả nào thắc mắc. Bởi vì trong văn chương, cái điên có khi là kết quả của cái tỉnh táo nhất, của những điều uẩn ức mà người thường khó ngỏ và của tấm lòng thành thực vượt qua những rào cản của cuộc đời. Thơ hay văn, có khi cũng chỉ là phản ứng của những tâm hồn luôn đi ngược lại trào lưu của cuộc nhân sinh….

Thơ của Kiệt Tấn, có khi là những xúc cảm quá độ. Như trong tập thơ “Ðiệp khúc tình yêu và trái phá” có bài “Dòng sông và con thuyền hai mươi tuổi” là kết quả của sự phẫn nộ khi đất nước hậu phương ở thành phố bị xáo trộn bởi những cuộc đảo chính xuống đường trong khi chiến tranh lại tăng cường độ ác liệt ngoài tiền tuyến và quân đội Hoa kỳ đã trực tiếp tham chiến gây ra nhiều xáo trộn xã hội của thập niên 60 .

Theo lời của nhà văn Lê Tấn Lộc là anh ruột của nhà văn Kiệt Tấn thì cả gia đình của ông là những chứng nhân của những cuộc thảm sát suốt một thời đất nước khói lửa. Bài thơ gửi cho cố chuẩn úy Gia, bạn cùng xóm với Kiệt Tấn, người sĩ quan vừa 20 tuổi mới ra trường tử trận khi chưa được ăn lương chuẩn úy dù đã được truy thăng thiếu úy. Người anh hai trong gia đình Kiệt Tấn năm 1945 là một cán bộ liên đoàn trưởng liên đoàn thợ mộc tham gia kháng chiến chống Pháp. Anh đã chứng kiến cảnh các cán bộ Việt Minh ra lệnh phóng hỏa lẫm lúa dùng làm trại giam, thiêu sống những người thường dân bị giam ở trong với cái tội rất mơ hồ là Việt Gian. Anh cũng tai nghe mắt thấy hàng hàng lớp lớp người bị trói thúc ké, lôi đi chặt đầu bồi thêm mấy nhát chầy vồ rồi đạp xác xuống sông. Nỗi ám ảnh kinh hoàng đến nỗi anh gần như mất trí vì bị mùi máu và tiếng kêu la thất thần cùa các nạn nhân thường xuyên ám ảnh. Người anh thứ ba thuộc đội võ trang tuyên truyền hàng ngày chứng kiến cảnh những người bị gán tội tình nghi hoạt động cho Pháp bị kết tội kiểu đấu tố, bị xỏ xâu cho đi mò tôm. Và cả gia đình Kiệt Tấn đã trải qua một đêm kinh hoàng ở Hốt Hỏa, nằm yên thin thít dưới ghe tam bản dùng để đi tản cư, rụng rời nghe vang lên từng chập những tiếng la hét thảm thiết của những người bị cứa cổ bằng dao cùn trong đêm tối.

Từ những ám ảnh ấy, Kiệt Tấn đã làm bài thơ với tất cả xúc cảm của mình. Những điệp khúc nhắc lại những thời kỳ đen tối của lịch sử Việt Nam và thân phận người dân trong chiến cuộc. Thơ phẫn nộ, đau xót với tiếng gọi thảm thiết. Thơ như tiếng cầu hồn cho một thời đại Việt Nam đau thương. Những người là nạn nhân của binh lửa làm chứng nhân cho một thời đại vô cùng đen tối của lịch sử Việt Nam:

“Còn nhớ không Gia?
Những thằng bạn nhỏ đã chết trong lúc chạy giặc
Những thằng đã rơi rụng cùng mây bay
Những thằng đã bể nát với trái mìn
Những thằng đã đánh mất đời mình trên bàn chông
Gia ơi mày nằm đó còn nhớ gì không?
Mày nhớ gì không trong lớp áo hành quân bị đục lủng
Mày nhớ gì không?
Trong đêm không bao giờ còn có ngày đó
Mày còn nhớ gì nhớ gì
dưới hàng bạch lạp hắt hiu cắm đều khoảng từ đầu đến chân mày.
Gia ơi mày làm sao nhớ gì với đạn đồng
Ngủ quên trong ruột gan tim ngực
Nhớ gì không nhớ gì không
Hở Gia?
Nhớ gì không
Những người đàn ông không có thời giờ để làm tình
Những người đàn bà không có thì giờ để cưu mang
Những bào thai không có thì giờ để chào đời
Những trẻ thơ không có thì giờ để nô dỡn
Những cơ thể non không có thì giờ để già nua
Những kẻ bạc đầu không có thì giờ để chu toàn cái chết
Còn nhớ gì không hở Gia?
Con mắt chó trung thành rơi trên nền đất cứng…”

Nhưng ở thi phẩm đầu tay “Ðiệp Khúc Tình Yêu và Trái Phá”với hơn bốn chục bài thơ lại có cái phong cách làm mới làm khác đi dòng thi ca thuở đó, mang cái siêu thực hiện đại vào thi ca của mình. Những câu thơ kiểu “một bận hư vô có chửa hoang/ sinh đôi một con thú hai chân và một con thú vô hình”có phải lạ lùng thời đó. Còn về hình thức hầu như đều là thơ không vần mà trong một lúc cao hứng ông đã cho rằng đó là tạo một cánh đồng khoảng khoát cho những bước chân đi không câu thúc. Những câu thơ dài ngắn, lên dòng xuống dòng bất tử, có khi là những câu thơ vắt dòng của những phong trào thơ kiểu hậu hiện đại sau này, có khi là những câu văn xuôi chẻ ra nhiều hình ảnh nhiều ý tưởng của một dung mạo thơ đầy suy tư.

Những câu thơ như:

“ anh đánh cắp mặt trời trốn lên những vùng băng giá
mặt trời ru anh ngủ những mùa đông dai missisipi
mặt trời trụy thai mặt trời chết”

có phải là thời thượng thuở ấy nhưng sau này vẫn quen thuộc ở những thi sĩ trẻ ở trong nước ngay thời buổi bây giờ?

Hay:

“Phải rồi hãy nói đi em hãy nói những gì em
vừa nghĩ đến trong một thoáng hiện tại dù
sau đấy hiện tại biến đi nhanh hơn ánh sáng.”

Có phải là những dòng thơ quen quen ở thơ hậu hiện đại ở hải ngoại bây giờ của “thơ vắt dòng” mà các thi sĩ trẻ hay xử dụng?

Trong khi trả lời phỏng vấn của hai nhà văn nữ Phan Thị Trọng Tuyến và Ðặng Mai Lan, Kiệt Tấn đã thổ lộ:

“Trong thời chiến tranh Mỹ-Quốc –Cộng (1954-1975), ngay tại Sài Gòn đảo chính chỉnh lý liên miên, xuống đường và hít lựu đạn cay như ăn cơm bữa, chính khách xôi thịt thì trơ mặt mo ra mà giành ăn. Tôi viết “Ðiệp khúc tình yêu và trái phá trong tâm trạng phẫn nộ. Phải phẫn nộ.

Nó xuất hiện vào thời điểm chiến tranh khốc liệt trong môi trường lưả đạn dai dẳng ở Việt Nam. Thời đó đã qua tôi không muốn khơi lại nữa..”

Và ông đã nói về sự thay đổi của mình, thành thực nhưng pha một chút chán chường với ngôn ngữ sở hữu “tửng tửng”của mình:

“Về hình ảnh tác giả khác nhau như thế nào à? Dễ ợt! Ðiểm nổi bật nhất, Kiệt Tấn bây giờ già hơn xưa rất nhiều, đó là cái chắc. Còn nghĩ gì? Tôi cố gắng không nghĩ tới hay đúng hơn là không muốn để ý đến chiến tranh. Như vậy tốt hơn. Tốt hơn cho sức khỏe đỡ nhức đầu mà cũng chẳng làm được gì hết ráo.

Còn chiến tranh à? Thì thuở còn lông lá sù sụ ở trong hang động có đốt lửa ấm cho tới thế kỷ 21 ngày hôm nay rụng gần hết lông và ở trong nhà gắn máy lạnh này con người có ngớt đánh nhau bao giờ đâu? Chỉ có vũ khí thì càng lúc càng tinh vi, chớ còn lòng người thì trước sau vẫn vậy, vẫn tham lam, vẫn gây hấn, vẫn xuẩn ngốc. Trên mặt đất này chưa thấy có loài nào tìm cách giết và tiêu diệt đồng loại kỹ như con người. Vậy mà là “đỉnh cao trí tuệ” đấy! Ðừng có giỡn mặt tử thần! Mẹ rượt! Bởi lẽ đó, lúc cuộc chiến Việt Nam gần kết thúc, trong vài năm cuối cùng còn lại, tôi đã lấy một quyết định sáng suốt bỏ làm thơ tình yêu và trái phá quay sang làm thơ bia ôm và trái cóc. Vui hơn là cái chắc…”

Năm 2008, Kiệt Tấn làm thơ cũng với cung cách của một người tâm sự với chính mình,vỗ về tâm tư để làm lắng sâu hơn trong cảm giác của một người hiểu được cái giây phút “sống hết mình”.Cuộc đời đã gần qua với những tháng ngày dài ở xứ người, những mộng ước tàn phai, những phẫn nộ, những suy tư đã chẳng còn thì thi ca cũng chỉ là những vỗ về an ủi chính mình để tìm ở thiên nhiên một chút trong veo ý tưởng, để những câu hỏi vẫn còn nguyên từ thuở xưa kia chẳng có âm hao đáp từ:

“… Hãy nằm im
và đừng hỏi tại sao
hãy nằm im
và lắng nghe những vũng nước xôn xao trong
đầu sóng lăn lóc hoài những hòn sỏi trong mỗi tế bào tươi
hãy nằm im
và lắng nghe mặt trời nồng nàn trên da phỏng
thân thể mỹ miều rực rỡ trên cát mịn
những đỉnh tròn rám nắng
đôi môi mặn rên khẽ
mê sảng gọi tình bừng bừng sứa lửa
trong đêm…
… hãy nằm im
và đừng hỏi
tại sao
đừng hỏi tại sao
những con ruồi say nắng
rụng cánh
nằm chết
trên bàn tay ấm áp của mùa hè.”

Thơ thay đổi theo thời gian. Và những cảm giác xưa kia ở trong một trạng thái cực độ cảm giác nào cũng qua đi với tuổi trẻ với những câu hỏi cứ ám ảnh mãi. Thơ có khi là nỗi ám ảnh, là những câu rời trộn lẫn trong dòng văn xuôi để thành một văn phong đặc biệt rất Kiệt Tấn. Nhà văn không chú thích câu thơ này của Nguyễn Bính, ý thơ kia là của Thanh Tâm Tuyền hay những câu văn này nọ mang âm hưởng của những câu hát có khi bình dân có khi thính phòng. Tất cả, trở thành của riêng Kiệt Tấn để thành một nét đặc thù của văn chương ông.

Thơ của Kiệt Tấn không phải là một dòng sông hiền hòa đơn điệu. Trái lại, nó đi từ cực độ này sang chất ngất khác. Ở những năm của thập niên 60, cách nay nửa thế kỷ, ông đã viết những câu thơ không vần đầy chất siêu thực kiểu “một bận hư vô có chửa hoang/ sinh đôi một con thú hai chân và một con thú vô hình”. Và ông cũng có những làm mới, để thơ thành một khám phá của cảm giác hơn là một giãi bày tâm sự cổ điển. Nhưng thơ của ông cũng có những phẫn nộ những vỡ bùng cảm giác của thực tế: “Hãy lấy giây xích chiến xa này vận chuyển bộ máy/ nghĩ suy trong đầu óc anh rỉsét/ Với quả lưu đạn này làm tim cho anh được/ nổ tung nát bét khi nào anh đánh rớt quả tim anh”. Thơ của ông có nét thời thượng nhưng cũng rất thực tế. Mênh mang ở trong vần điệu là những ẩn hiện của một người tuy có tuổi nhưng lại ngây thơ và có lúc ngây ngô nhưng dễ thương…

Năm 1986, Kiệt Tấn viết xong “Việt Nam Thương Khúc” gồm 3100 câu, là một trường thi trải dài theo nỗi đau thương của dân tộc. Viết về máu lửa tang tóc nhưng vẫn bàng bạc trong đó những mầm nụ của yêu thương của tính nhân bản ẩn tàng theo từng vần điệu. Thơ có lúc hơi dễ dãi trong ngôn từ. có lúc hơi gò bó trong những chiều kích lịch sử từ địa danh , tên tuổi đến những biến cố chính trị hay những diễn tiến quân sự. Nhưng, có những câu thơ là tâm huyết, là những trải lòng ra với nỗi đau thời thế và sự bất lực của con người trước định mạng an bài không tránh được.

Thời gian của “Việt Nam Thương Khúc “mở đầu từ thời kỳ Pháp thuộc và trải dài theo những biến cố lịch sử từ ngày kháng chiến chống Pháp, rồi chiến tranh pháp Việt Minh, rồi đất nước bị chia đôi, rồi chiến tranh tương tàn Bắc Nam với những ngoại cường đứng đằng sau lưng, rồi miền Bắc xâm lăng miền Nam và áp đặt chế độ Công sản lên toàn đất nước. Thơ viết về những cuôc chia ly, những cuộc di cư di tản đầy bi đát. Những hoàn cảnh thảm thương, vượt biên vượt biển, những cái chết oan ức, những cuộc ra đi tìm tự do hào hùng đánh động lương tâm nhân loại.

Trong bối cảnh của những biến cố ấy, Kiệt Tấn kể bằng thơ về cuộc đời của người nông dân lớn lên từ vùng đồng bằng sông Cửu Long nổi trôi theo dòng đời và vận nước. Sinh trưởng từ những nơi chốn quê mùa rẫy bái, hai vợ chồng người tá điền này bỏ xứ lên thành thị lập nghiệp bỏ lại mồ mả ông bà của tổ tiên bao nhiêu đời bỏ đời sống cày thuê cuốc mướn hy vọng một cuộc sống tốt đẹp hơn

Lên Sài Gòn học nghề thơ mộc và với bản tính cần cù bương chải nên xây dựng được một sản nghiệp nho nhỏ đủ để vượt qua được những thiếu thốn túng nghèo. Nhưng chẳng được bao lâu thì thời thế xoay chuyển và chiến tranh đã bắt đầu khởi từ sau đệ nhị thế chiến. Những cuộc tranh đấu giành độc lập, những cuộc chiến ý thức hệ, của chiến tranh ủy nhiệm, của Quốc Cộng phân tranh đã làm cả một thế hệ ảnh hưởng theo với tất cả những bi đát đau thương. Kiệt Tấn kể chuyện giống như kể về gia đình mình nhưng như cố tình phác họa lại đời sống của những người dân quê miền nam với những nét phác họa tiêu biểu và đầy cá tính của người dân Nam Bộ. Những nhân vật tuổi trẻ như Quang, người con trai lớn của gia đình vào bưng chiến đấu chống Pháp gặp người yêu tên Lan rồi lại lạc nhau trong đời sống chiến tranh. Sau Quang gặp Dung người cùng một thời đi kháng chiến và trao lại những kỷ vật của Lan gồm những lọn tóc và đứa con gái lai Tây con của Lan. Sau này Dung mới nói thật về hoàn cảnh trái ngang của minh là phải tuân lệnh Ðảng giết Lan là bạn mỉnh và nuôi đứa con lai cũng của bạn mình. Một hoàn cảnh trái ngang khác là Duyên em gái Quang một cô gái xinh đẹp bị bọn lính kín vu oan bắt giam rồi đem dâng cho Tây hãm hiếp. Sau đó Duyên trốn đi và trở về ôm lựu đạn giết kẻ hại mình rồi tự sát luôn. Và cả trong gia đình, bất cứ người con nào cũng bị chiến cuộc ảnh hưởng và những cuộc phân chia đời sống, những mối tình nửa chừng, những tâm sự trái ngang đã thành một trường thiên của một thế hệ, một thời đại.

Việt Nam Thương Khúc kể lại suốt từ năm 1920 cho đến những năm 1986, 1987 khi mà làn sóng thuyền nhân đã bị thế giới lơ là dù rằng vẫn còn rất nhiều người muốn ra đi để có tự do. Thời sự, chiến cuộc suốt trong bao nhiệu năm đã được Kiệt Tấn kể lại bằng 3100 câu thơ có lẽ là một tác phẩm độc đáo mà theo nhận định của tôi có lẽ là duy nhất của văn học hiện nay. Có nhiều người viết trường thi nhưng ít có ai mang cả lịch sử vào truyện qua cuộc đời của những người dân thường mà nguồn gốc của họ phát xuất từ những cuộc đất hiền hòa của một vùng đồng bằng trù phú. Trong đời sống của họ cũng có những tình cảm lãng mạn. Cũng có lòng yêu nước sục sôi và cũng có những tình người đầy chất nhân bản. Thơ trong Việt Nam Thương Khúc có những câu thơ khá cổ điển và ước lệ nhưng có những câu thơ âm hưởng ca dao bộc lộ tâm tình chất phác của người Nam Bộ.

Kiệt Tấn có lúc rất thành thực khi ông đã xử dụng thể thơ song thất lục bát để: “mô tả những tình tự khốc liệt lúc khổ đau cùng cực hay hân hoan quá đỗi vì rần rật phong ba, rộn ràng vó ngựa, lửa tuôn khói bốc cũng như đôi lúc ngậm ngùi muốn khóc” Việt Nam Thương Khúc có những câu thơ tả tình tả cảnh đẹp:

“ câu vọng cổ đêm tàn ray rứt
điệu xàng xê thao thức chờ mong
trăng chinh phụ nhớ thương chồng
vàng con nguyệt cũ sương hồng giấc xưa..”

cũng như những câu thơ nhắc lại những mối tình vừa ngây thơ vừa tràn đầy lãng mạn của kỷ niệm một thời chẳng thể nào quên:

“quên chăng mắt ngọt môi mời
quên rồi dạ lý đêm ngời tóc thơm
quên rồi chắc mùi thơm vườn cũ
quên ruộng dưa quyến rũ dưa leo
quên chăng cầu nhỏ ao bèo
quên trăng chênh khuyết áo nhèo giọt thu..”

Nhưng cũng có lúc thơ thành những câu chuyện kể gần như những câu văn xuôi:

“.. Tấn công năm mặt đội truyền xấn Nam
Tường Minh Ðảo chận ngang Xuân Lộc
Quân tướng Khôi dàn dọc Tây Ninh
Vẫy vùng một trận hồn kinh
Cuối đường tuyệt vọng xả mình đột xông
Thời lai đồ điếu thành công dị
Vận khứ anh hùng ẩm hận đa
Hỡi ơi một cõi sơn hà
Lọt tay Cộng sản hận lòa sử xanh
Chí Minh giải phóng đường mòn
Dép râu nón cối Sài Gòn từ đây..”

Việt Nam Thương Khúc cũng có câu thơ như phảng phất của ngâm khúc Cung Oán thuở nào:

“thảo nào khi mới chôn nhau
Ðã mang tiếng khóc bưng đầu mà ra
Khóc vì nỗi thiết tha sự thế
Ai bày trò bãi bể nương dâu
trắng răng đến thuở bạc đầu”

Kiệt Tấn thi sĩ viết văn hay nhà văn thi sĩ? Tôi nghĩ đa phần đều chú ý đến văn xuôi của ông hơn với những tập truyện dài và truyện ngắn. Người ta thường gọi Kiệt Tấn nhà văn miệt vườn, hay nhà văn của dục tính, hoặc nhà văn của điên tỉnh tỉnh điên. Nhưng với tôi, nếu bắt đầu với chân dung Kiệt Tấn thì nên bắt đầu bằng Kiệt Tấn thi sĩ rồi mới đến Kiệt Tấn nhà văn. Bởi vì, ông đã viết văn đã kể chuyện bằng thơ và ông cũng đã viết văn xuôi bằng những vần thơ của riêng ông, một thứ ngôn ngữ của nhạc, của thơ, trộn lẫn…

Nguyễn Mạnh Trinh
Nguồn: Tác giả gửi

Đã đóng bình luận.