Nguyễn Mạnh Trinh và Nhã Lan

Trangđài dự lễ trao giải Nobel tại Thụy Điển với tư cách một Fulbright scholar, tháng 12, 2004
LGT: Chương trình do Nhà phê bình Nguyễn Mạnh Trinh (NMT) và Nhã Lan (NL) thực hiện cho Little Sàigòn Radio, Hồn Việt TV, và Việt Tide. Trangđài Glassey-Trầnguyễn là người cầm bút nữ đầu tiên và trẻ nhất xuất hiện trong chương trình từ nhiều năm qua. Để có thêm thông tin về các tác phẩm của Trangđài, xin vào www.trangdai.net, vietamproj@gmail.com.
NMT: Trangđài Glassey-Trầnguyễn là một người trẻ. Trẻ từ tâm hồn và trẻ từ tuổi tác. Trong khi có nhiều người ưu tư về hiện tượng lão hóa của văn học Việt Nam hải ngoại thì có những người trẻ vào cuộc. Có khi họ viết bằng Anh ngữ, Pháp ngữ nơi quốc gia mà họ định cư. Có khi họ viết bằng Việt ngữ. Hay song ngữ Anh–Việt, Pháp–Việt. Nhưng những người trẻ này đã viết và đã sống, đã sinh hoạt văn chương, xã hội bằng tâm thức Việt Nam, của đất nước và gia đình truyền thụ lại. Trangđài Glassey-Trầnguyễn là một trong những người trẻ ấy.
NL: Nói chuyện với Trangđài Glassey-Trầnguyễn trong cái thích thú của sự tìm hiểu về một thế hệ mà có lẽ những người lớn tuổi thuộc thế hệ thứ nhất, chúng tôi, Nguyễn Mạnh Trinh và Nhã Lan, hiếm khi có hân hạnh có một khách mời đặc biệt như vậy. Cô là cây bút nữ đầu tiên và trẻ nhất được mời xuất hiện trong chương trình Tản mạn Văn Học trong nhiều năm nay.
Trangđài là một sinh viên xuất sắc, tốt nghiệp B.A. tại CSUF với 4 major, với danh dự Thủ Khoa đến hai ngành. Chỉ hai năm sau, cô tốt nghiệp Cao học và đoạt giải thưởng Outstanding Graduate Award và Outstanding Senior Award của Alumni Association của CSUF. Cô còn nhận được Fubright Scholar Fellowship bậc tối ưu để nghiên cứu về lãnh vực social anthropology về những người Việt tị nạn thế hệ thứ nhất tại Thụy Điển, và được cấp học bổng toàn phần cho chương trình tiến sĩ về nhân chủng học tại Đại Học Stanford.
Trangđài Glassey-Trầnguyễn còn là một người trẻ hăng say hoạt động xã hội, văn hóa, nghệ thuật, và giáo dục. Cô đã khởi xướng và chủ trương nhiều projects về cộng đồng Việt Nam hải ngoại, và là người Việt duy nhất đã thực hiện hàng trăm cuộc phỏng vấn lịch sử truyền khẩu với người Việt ở các Châu Á, Âu, Mỹ, và Úc. Cô đặc biệt chú trọng đến lịch sử di dân và lịch sử cộng đồng, cũng như về truyền thông, về văn hóa Việt Nam qua những Dự án như The Vietnamese –Language Media Project, The Vietnamese Katrina Project, Dự án “Black April, Bright April: From Postwar Pain to Personal Peace” (Tháng Tư Đen, Tháng Tư Sáng: Từ Đắng cay hậu chiến đến Bình an tâm hồn). Cô đã đoạt nhiều giải thưởng về nghiên cứu và sáng tác, trong đó có giải quán quân toàn thành năm 2004 cho cuộc tranh tài nghiên cứu bậc hậu đại học trên toàn tiểu bang California với Dự án, “Quận Cam, Sử Vàng.”
NMT: Trangđài Glassey-Trầnguyễn đã hoàn tất năm tập thơ. Mỗi tập thơ là những bước chân đi vào đời sống, tuy là của riêng cá nhân của cô, nhưng lại có tính chất chung của nhiều người cùng một thế hệ. Từ tập thơ song ngữ “Thuyền Nhân Khúc cho Ba” (Songs for a Boat Father) với tâm tình của một cô bé với những câu thơ chân thực nhưng đầy cảm xúc thay mặt cho người cha ghi chép lại, với thái độ chia sẻ trong nỗi niềm đau khổ truân chuyên của quá khứ và tin tưởng vào tốt đẹp của tình người ở tương lai. Rồi đến tập thơ “ cút bắt” là những cảm nghiệm từ đức tin tôn giáo, của những suy tư về cuộc sống và những đắm chìm vào thế giới linh thiêng đầy ý nghĩa nhân bản. Tập thơ song ngữ “những điều trông thấy” (of things i’ve seen) viết khi tác giả về thăm lại quê nhà là những câu thơ đi trở lại quá khứ, về nơi chốn đã sống, đã có kỷ niệm với. Những tâm cảm chân thực, của một người rất yêu đất nước, dân tộc mình. Tập thơ mới đây “MÙA YÊU CON Thứ Nhất” là những bài thơ tuyệt vời của bà mẹ trẻ dành cho con, những tâm tình rất Việt Nam nhưng cũng rất gần gũi với suy nghĩ, với hiện thực cuộc sống hiện nay…
NL: Trangđài Glassey-Trầnguyễn (TGT) định cư ở Hoa Kỳ năm nào và con đường hội nhập ra sao? Có khó khăn nhiều không?
TGT: Kính chào Chị Nhã Lan và Chú Nguyễn Mạnh Trinh. Xin kính chào quý khán thính giả của Little Sàigòn Radio, Hồn Việt TV, và độc giả của Tuần báo Việt Tide. Thưa Chị, Trangđài đến Mỹ năm 1994. Con đường hội nhập có lẽ cũng khởi đầu như bao nhiêu người di cư và tỵ nạn khác: nhiều ngỡ ngàng, nhiều vất vả, nhiều thử thách, nhưng cũng nhiều hứa hẹn. Không ít thì nhiều, khó khăn trong bước đầu tái thiết cuộc sống ở một đất nước thứ hai là điều hiển nhiên, từ việc hội nhập ngôn ngữ và văn hóa, cho đến việc mưu sinh.
Tuy nhiên, Trangđài có hai lợi điểm. Thứ nhất, em không đến Mỹ với một kỳ vọng sẽ tìm thấy một cuộc sống dễ dàng, như nhiều người vẫn ngộ nhận trước khi đến đây định cư. Do đó, em không ngại những vất vả trong bước đầu định cư, sẵn sàng đi may hay đi làm thu ngân ở chợ để vừa học tiếng Anh, vừa đóng góp thu nhập cho gia đình, và cũng tham gia những công tác thiện nguyện ngay từ ngày đầu tiên ở Mỹ. Qua Mỹ được ít tháng thì em thi vào chương trình phụ giáo song ngữ tại học khu Westminster và làm việc này trong nhiều năm.
Thứ hai, em hiểu rất rõ rằng, cơ hội được định cư ở Mỹ là một cuộc đổi đời, trước hết là được đoàn tụ với Ba, sau nữa là thoát khỏi cảnh 19 năm sống tại Việt Nam, không được học hành đến nơi đến chốn, bị quản chế và bức bách đủ điều.
NL: Tham gia những hoạt động xã hội, báo chí trong thời sinh viên có phải là môi trường để Trang Đài bước vào thi ca?
TGT: Thưa Chị, em mê thơ văn từ nhỏ, và đã làm thơ từ lúc còn ở Việt Nam, từ hồi tiểu học. Lúc đó, em đã đi thi giỏi văn nhiều lần. Nhưng lúc ở Việt Nam, tư duy còn non nớt, kinh nghiệm sống không có tự do thì thừa, nhưng giới hạn trong cái vòng lẩn quẩn của một xã hội đóng kín và bó rọ.
Cho nên, đúng như nhận xét tinh tế của Chị Nhã Lan, chính môi trường sinh viên tại Hoa Kỳ đã phá mở tất cả những rào cản đó, và em bắt đầu sáng tác những bài thơ được phổ biến trên báo chí Việt Ngữ ngay những năm đầu tiên định cư. Cũng xin nhấn mạnh, là tuy môi trường sinh viên cho em một không gian mở để đắm mình trong sáng tạo, chính môi trường cộng đồng Việt Mỹ và đời sống gia đình tại Quận Cam mới cho em những chất xúc tác và nguyên liệu cần thiết cho việc làm thơ, viết văn, và cả việc nghiên cứu, thưa Chị.
NMT: Trang Đài định cư ở Mỹ lúc 19 tuổi, có nghĩa là đã xong bậc trung học ở Việt Nam. Giáo dục XHCN có ảnh hưởng thế nào?
TGT: Thưa Chú, cháu chỉ mới học đến đầu năm 12 ở Việt Nam thì nghỉ học, trước khi gia đình sang Mỹ. Cháu sinh cuối năm 1975, nên thuộc lớp đầu tiên theo chương trình cải cách giáo dục, khi chính quyền mới thay đổi toàn bộ các sách giáo khoa và thầy cô giáo. Cũng như những chương trình cải cách khác của chính quyền Cộng Sản ở Việt Nam (hay Trung Quốc, và những quốc gia Cộng Sản khác ở Đông Âu hay Nga Sô), chương trình cải cách giáo dục này là một thí nghiệm dở khóc dở cười, đã giết chết tư duy của hàng bao thế hệ cho đến tận hôm nay.
Cháu có một may mắn là được nghe những trao đổi của người lớn trong gia đình, và tuy người lớn luôn nói chuyện với nhau gần như bằng mật mã, cháu cũng loáng thoáng nhận ra có một khoảng cách giữa sự thật, và những điều mình bị bắt nghe ra rả trên đài phát thanh một ngày 3 lần, hay những gì mình học ở trường.
Từ khi có trí khôn, cháu đã đặt câu hỏi về mọi vấn đề: Tại sao Ông Bà Ngoại cháu phải gánh gần hết lúa đi nộp cho Xã mỗi mùa gặt? Tại sao chị cháu không được thi vào trường đại học? Tại sao Ba không ở nhà với gia đình, và không ai dám nói Ba đang ở đâu? Tại sao Mẹ cứ phải đi họp phường, họp khóm, và phải nộp tiền cho Tổ trưởng thường xuyên, trong khi Mẹ không có đồng nào để đi chợ? Tại sao người ta cứ muốn xét nhà lúc nào thì xét, ngay cả lúc tụi cháu đang ngủ?
Đây chính là những bài học vỡ lòng mà dù chính quyền không đưa vào chương trình cải cách giáo dục, lại chính là những bài học sâu đậm và thiết thực nhất mà cháu tiếp nhận khi lớn lên ở Việt Nam sau 1975.
NMT: Lúc ấy Trang Đài đọc sách như thế nào? Có đọc những tác phẩm in trước năm 1975 không?
TGT: Không có sách để đọc, thưa Chú. Sách vở thời đó hiếm, bị kiểm soát tuyệt đối, và rất đắc. Sách giáo khoa do chính Nhà Nước phát hành còn đắt đỏ, huống chi những loại sách cấm. Giấy in thời đó rất xấu. Chị em cháu đi học, phải dùng “giấy cứt chó,” nó đen nhám, rơm sồi rạ sụt, viết lên thì như cày ruộng, sẽ có rơm từng sợi nhảy lên khỏi mặt giấy, không thấy được mình đã viết gì.
Vì cháu rất thích đọc, nên đã tìm đọc ké một số sách cũ còn sót lại sau cuộc hỏa thiêu tháng Tư năm 1975. Cháu tìm được những tập vở cũ của Dì và Mẹ còn sót lại, chép bằng tay những bài ca dao hay những áng văn hay. Trước 1975, Ông Bà Ngoại cũng có kinh doanh một thư quán, nên cháu cũng tìm được một vài quyển sách giáo khoa thời trước, nhất là sách giảng văn. Ông Ngoại cháu là một người rất uyên bác, nên khi về thăm Ngoại, cháu vừa được nghe Ông nói chuyện, vừa lân la đọc lén sách của Ông. Ông giữ được một thư viện nhỏ với nhiều sách quý cho riêng mình, dù thời đó Ông đã bị bắt đi bắt lại, và bị tịch thu rất nhiều thứ.
Thêm vào đó, cháu cũng tìm đọc những quyển sách vô tự, không chữ không lời. Cháu đã tận dụng cái không gian yên tĩnh ở quê Ngoại tại Bình Phú Đông để tiếp cận với cái tâm sơ của mình, và để cho cái tâm sơ đó hướng dẫn nhận định và suy nghĩ của mình. Thiên nhiên là một quyển sách khai mở tâm thức vô tận mà chính quyền không biết để cấm, dù hiện nay, quyển sách ấy đã bị phá hủy và khai thác đến tan nát tại Việt Nam.
NL: Là một gia đình “ Ngụy,” Trang Đài có bị những phân biệt đối xử ở trong học đường và trong cuộc sống không?
TGT: Thưa Chị, chắc chắn là có. Ở thời đó, ai ai cũng bị phân biệt chỉ trừ thành phần nhỏ con cái cán bộ. Vì em chào đời sau tháng Tư 1975, nên không có kinh nghiệm của một đời sống tự do và tôn trọng nhân quyền để đối chiếu. Cho nên, mình biết là mình thuộc thành phần bị chính quyền đàn áp, nhưng mình không hình dung được một đời sống công bình, tự do nó ra sao.
Trong quyển thơ thứ tư, “Thuyền Nhân Khúc cho Ba – Songs for a Boat Father,” em có ghi lại những lần bị kỳ thị ở trường. Thầy Giám thị hạch hỏi tại sao Ba em không đi họp phụ huynh, còn Mẹ thì phải đi làm đồng ở quê Ngoại vì ngày họp rơi vào đúng ngày gặt. Những thầy cô khác trong văn phòng thì chỉ trích thêu dệt, nói là Ba nó theo vợ bé, thế này thế nọ. Cho nên, không chỉ người lớn mới bị đàn áp, mà trẻ con tụi em còn chịu nạn dồn ép tâm lý nặng nề hơn, vì tụi em hoàn toàn không biết cách đối phó. Bên cạnh đó, Mẹ em bị cho nghỉ dạy vì là vợ ngụy, Chị em không được thi vào đại học, khóc suốt ba tháng hè. Ngoài ra, gia đình em còn bị kỳ thị vì lý do tôn giáo. Nhưng sau gần 40 năm nhìn lại, chúng ta thấy rõ rằng, những áp đảo và kỳ thị đó không thay đổi được niềm tin và sự thật.
NL: Trang Đài sửa soạn cuộc sống tương lai ở Mỹ như thế nào khi chờ đợi để đoàn tụ gia đình với người cha?
TGT: Cũng như nhiều người khác, Mẹ em cũng cho con cái đi học tiếng Anh và một nghề nào đó ở Sàigòn. Anh của em thì học thợ bạc và vi tính. Các chị của em học bắt bông kem, học may, học đàn, học cắm hoa, học vi tính – tất cả những kiến thức mà Mẹ em đoán là sẽ giúp mình tìm được một công việc tạm trong thời gian đầu. Mẹ em luôn đầu tư cho việc học của con, coi đó là cứu cánh cho tương lai, nên tụi em hiểu là khi tới Mỹ, mình sẽ vừa đi làm, vừa đi học, dù chưa biết là có những chương trình tài trợ cho việc học đại học rất thuận lợi ở Mỹ này.
Lúc đó, em không muốn rời khỏi Việt Nam, dù cuộc sống quá chật vật và vô định, và dù cũng háo hức muốn gặp Ba. Biết bao người thân còn ở lại, biết bao kỷ niệm của 19 năm, tất cả những sự gắn bó với mảnh đất mà mình đã yêu thương. Em chưa hẹn hò với ai, nên không phải đau lòng vì xa người yêu như nhiều người khác khi đi xuất ngoại. Nhưng đời sống ở Việt Nam thời đó rất cố định, vì không có phương tiện đi lại, cũng như không được phép tự do đi lại, nên dời đổi chỗ ở là cả một biến cố lớn. Về mặt tâm lý, em cũng không chuẩn bị gì đặc biệt cho đời sống mới ở Mỹ, vì mình không thể hình dung nó ra làm sao. Tại Việt Nam lúc đó, thông tin về đời sống ở hải ngoại hay về thế giới rất giới hạn, hầu như không có, thưa Chị.
NMT: Trang Đài có đọc những nhà văn và nhà thơ ở trong nước không? Đặc biệt là các tác giả phải học trong chương trình văn ở trung học?
TGT: Có đọc, nhưng không nhập tâm, thưa Chú, vì họ toàn hô khẩu hiệu và sáo rỗng, ngay cả những bài thơ nhi đồng. Những tác giả đó không cho cháu một món ăn tinh thần hay nghệ thuật nào cả. Khi lên đến trung học, thì cháu được học với một Thầy dạy văn, đã từng làm chánh án trước 1975. Thầy phải vừa làm ruộng vừa đi dạy, và hay bị chính quyền kêu lên kiểm điểm, nhưng Thầy vẫn nói nhiều điều mà chính quyền cấm nhưng đúng với lương tâm của một người đứng trên bục giảng. Khi đi định cư, cháu đã mang theo một số bài luận cháu đã viết từ lúc học với Thầy, và vẫn còn giữ đến hôm nay.
Còn lại thì các Thầy Cô khác đều dạy theo biên chế và giảng theo chỉ thị, nên trong các giờ văn trong suốt gần 12 năm học, cháu cũng không học hỏi được gì nhiều từ những nhà văn mình đã đọc.
NMT: Đọc như vậy có ảnh hưởng cho sáng tác lúc sau này không?
TGT: Không ảnh hưởng, thưa Chú, vì họ không gây được một ấn tượng gì cho cháu. Ngược lại, những sách vở mà cháu mót được quanh nhà lại kích thích óc tưởng tượng và sự hiểu biết của cháu. Những câu đố dân gian rất thú vị trong quyển tập cũ của Dì, những câu sấm Trạng Trình trong sách giảng văn trước 1975 – tất cả đều gợi cho cháu một sự hoài cổ và hào hứng, nhất là khi mình có thể nhận diện được những điều trong sách mà người lớn trao đổi với nhau. Hơn nữa, cháu đọc ké tủ sách của Ông Ngoại, và được gặp gỡ biết bao nhà văn của Việt Nam thời trước, nên đối với một đứa trẻ, đó là cả một thế giới bí mật vô cùng thú vị.
NL: Trang Đài bắt đầu viết văn làm thơ lúc nào? Có kỷ niệm nào đáng nhớ về những dòng chữ đầu tiên ấy không?
TGT: Thưa Chị, em tập viết lúc nhỏ, và cũng được chọn đi thi giỏi văn nhiều lần. Nhưng có lẽ “tác phẩm” đáng chú ý nhất lúc đó vẫn là bức thư phản kháng em viết cho một vị Thầy Sáu về giúp xứ tại họ đạo của em. Lúc đó, em mới 7 tuổi, và được học Giáo lý vỡ lòng. Tuy em thuộc bài và đi học đầy đủ, nhưng năm đó, em không được rước lễ lần đầu. Em giận quá, nhất quyết đòi Mẹ đưa đi gặp Cha sở. Mà ai cũng nể sợ Cha, đâu phải muốn gặp là gặp. Nhưng Mẹ cũng đưa em đi. Gặp Cha đang câu cá, em nói em muốn rước lễ như mọi người. Cha nói sẽ được, nhưng đợi sang năm. Thế là Mẹ dắt em về.
Ức quá, em nghĩ chắc là Thầy Sáu đì mình, nên viết một bức thư, gọi Thầy là ‘ông Thầy hắc ám,’ và tuyên bố: dù Thầy Sáu không cho em rước lễ, thì em cũng đã rước lễ cách thiêng liêng rồi. Cả nhà rình rập trong lúc em viết thư. Tuy em giấu đi, nhưng Mẹ vẫn tìm được, và đem cho Thầy Sáu đọc. Em vừa tức vừa lo, nhất là khi Thầy ghé nhà chào gia đình trước khi trở lại nhà dòng. Em xấu hổ là mình đã viết thư lên án Thầy, nhưng Thầy vẫn vui vẻ, không giận dỗi gì cả. Bức thư đó đã trở thành reputation của em trong họ đạo. Khi Thầy được phong chức linh mục, các soeur có viết thư sang, đùa là sẽ để cho em vinh dự làm người đầu tiên được xưng tội với Cha mới.
Những năm cuối tiểu học, em mon men làm thơ, nhưng chỉ giấu riêng vì mắc cỡ, sợ người nhà tìm thấy. Đến cấp hai, thì có làm thơ đăng báo tường của lớp, nhưng tiếc là lúc đó còn nhỏ, em chưa biết giữ lại bản thảo cho mình, còn báo tường thì chắc đã được bán làm giấy vụn từ lâu nên không mong gì tìm lại được. Những bài thơ đó cũng chỉ xoay quanh những tình cảm học đường và gia đình.
NL: Động lực nào khiến Trang Đài cầm bút?
TGT: Có nhiều động lực, thưa Chị. Thứ nhất, là cảm hứng sáng tác, và đam mê sáng tạo. Thứ hai, em ý thức và mượn ngòi bút để làm những công việc mình muốn làm: chẳng hạn như diễn đạt tình yêu quê hương, hoặc nói lên những bất công trong xã hội, hay để ghi lại lịch sử của người Việt hải ngoại. Thứ ba, đối với em, cầm bút là một chọn lựa để hiện hữu: không viết, thì coi như ngưng thở. Nó là một nhu cầu tất yếu của bản thân. Ngoài ra, qua công việc nghiên cứu và viết lách, em có dịp đóng góp cho xã hội năng lực tích cực nhất của mình. Đó là một ơn gọi và một đãi ngộ, vì không phải ai cũng có thời gian và quyết tâm để làm việc này, cho dù họ có muốn đi nữa. Viết, đối với em, là một cách sống.
Hơn nữa, như Chị cũng biết, chúng ta ra đi từ một xứ sở không có tự do, nên quyền cầm bút và quyền xuất bản tác phẩm cho đến ngày hôm nay vẫn không là hiện thực cho những người còn ở trong nước, từ thi sĩ như Vi Thùy Linh cho đến những nhà hoạt động tư tưởng như Huỳnh Thục Vy. Họ không được tự do phổ biến thơ văn của mình qua các nhà xuất bản hoặc diễn đàn công cộng. Mỗi ngày, em đều ý thức được, cái quyền tự do cầm bút của mình là một điều xa vời đối với nhiều người cầm bút trong nước.
NMT: Tác phẩm nào của Trang Đài chuyên chở được nhiều tâm tư nhất của mình?
TGT: Cháu xin phép gửi lại Chú Nguyễn Mạnh Trinh câu hỏi này, vì nó khó quá. Như Chú thấy, năm tập thơ đi theo năm chủ đề khác nhau, nhưng đều dính líu và quan hệ với nhau. Cháu không thể chọn một bài thơ, hay thậm chí một tập thơ, để tiêu biểu cho tâm tư của mình. Nếu ví sáng tác của cháu như một cánh rừng nhỏ nhưng có nhiều cây, cháu chỉ có thể nói, màu xanh, ánh sáng trong lành, và một tâm thiền là những yếu tố chuyên chở tâm tư của cháu. Cháu đều chú tâm mang tất cả những yếu tố này vào mỗi sáng tác của mình, nhưng mỗi bài thơ hay bài viết lại mặc lấy một bản thể khác biệt bên cạnh những cái chung đó.
NMT: Tại sao Trang Đài lại làm thơ song ngữ?
TGT: Cháu muốn dùng cả hai thứ tiếng, vì tiếng Việt là tiếng Mẹ đẻ, còn tiếng Anh là tiếng Mẹ nuôi, mà mình lỡ thương cả hai nên… phải tập viết cả hai thứ tiếng. Nói một cách nghiêm túc, thì cháu dùng tiếng Việt, vì đó là ngôn ngữ mà cháu yêu nhất trên đời, và cháu cũng cảm thấy mình thuộc về tiếng Việt một cách trọn vẹn: cả tâm thức, tư duy, tình cảm. Tiếng Anh, tuy cháu sử dụng thông thạo và dễ dàng, nhưng vẫn là một ngôn ngữ thứ hai, “kẻ đến sau,” nên khi dùng tiếng Anh, cường độ rung cảm của cháu rất khác với khi dùng tiếng Việt.
Nói cho rõ, thì Việt tính trong cháu vẫn cao hơn rất nhiều so với Mỹ tính, dù cháu trực tiếp tham gia vào môi trường sinh hoạt học thuật và xã hội dòng chính ngay từ những ngày đầu tiên đến Mỹ. Đó là một chọn lựa có ý thức, vì cháu quyết tâm hội nhập, nhưng vẫn muốn giữ lại bản năng văn hóa của mình. Có người nhận xét là có hai Trangđài khác nhau khi cháu nói tiếng Việt và tiếng Anh. Cho nên chính từ ý thức văn hóa đó mà cháu có những chọn lựa cụ thể về ngôn ngữ.
Về mặt sáng tác, có bài cháu viết tiếng Anh trước, nhưng đa phần là cháu viết tiếng Việt trước. Cháu dùng tiếng Anh là chính khi làm nghiên cứu. Chính vì vậy mà khi sáng tác, cháu muốn ưu tiên viết tiếng Việt, mặc dù cháu cũng rất muốn sáng tác bằng Anh ngữ nhiều hơn. Biết làm sao, một ngày chỉ có 24 tiếng đồng hồ thôi!
NMT: Viết bản Việt ngữ hay Anh ngữ trước? Và chuyển ngữ như thế nào?
TGT: Cũng tùy đề tài, tùy tác phẩm, thưa Chú. Tuyển tập “những điều trông thấy” được viết khi cháu về thăm Việt Nam lần đầu năm 1998, nên hoàn toàn bằng tiếng Việt. Cháu mất vài năm để chuyển sang Anh ngữ. Tập “Thuyền Nhân Khúc cho Ba,” cháu viết bằng tiếng Anh trước, có lẽ vì nó liên quan trực tiếp đến các đề tài nghiên cứu mà cháu vẫn thực hiện.
Chuyển ngữ là cả một sự gian nan, thưa Chú, vì nó không chỉ đơn thuần là dịch thuật. Nó là một quá trình tái sáng tạo trong một ngôn ngữ khác, một văn hóa khác, một tâm thức khác. Đôi khi, cháu thấy ngay cả khi mình tái tác một bài thơ của chính mình trong một ngôn ngữ thứ hai, hiểu rõ mình muốn nói gì, mà còn thấy ì ạch. Có lúc cháu thấy viết lại dễ hơn dịch, vì mình không phải làm thông ngôn giữa hai ngôn ngữ và hai văn hóa, trong một thể loại hơi tốn tâm huyết là thi ca.
NL: Trang Đài là học sinh ở Việt Nam và sinh viên ở Hoa Kỳ. Hai nền giáo dục ấy đã ảnh hưởng thế nào để tạo ra một người nữ thành công về học vấn và sự nghiệp?
TGT: Thưa Chị, em vẫn còn nhiều công việc đang thực hiện, nên không tự coi là mình đã thành công, nhưng xin cám ơn sự khuyến khích của Chị rất nhiều. Khi ở Việt Nam, em đi học cầm chừng, có lúc em cũng gàng lắm. Lúc học mẫu giáo, em được lên múa trong đêm văn nghệ cuối năm. Trường Mẫu Giáo là cơ sở của một dòng tu nữ của Công Giáo, nên có nhiều soeur dạy trong trường. Cô giáo của em năm đó là Soeur Nguyệt. Sắp tới màn múa, em dở chứng, nói không múa nữa. Soeur năn nỉ đủ cách, đem kẹo ngon ra dụ, em vẫn cứ như cá ương. Sau này Soeur kể lại, nói lúc đó nhìn em vừa dễ thương, vừa dễ ghét!
Có một năm cấp ba, khi thi kiểm tra chất lượng đầu năm, em làm bài xong, tỉnh bơ đưa cho các bạn chép. Cô giám thị thấy, biểu em đứng lên. Cô hỏi em có biết tại sao mình bị gọi không. Em nói, “Dạ biết.” Cô hỏi, “Tại sao?” Em trả lời, “Dạ, tại em cho bạn coi bài.” Cô không nói gì nữa, cho em ngồi xuống.
Kể cho Chị nghe, để Chị thấy, em không phải là một học sinh gương mẫu ở Việt Nam, tuy em được Cô Chủ Nhiệm cho đi thi kể chuyện và thi học sinh giỏi văn và giỏi Anh Văn ở cấp I và II. Chắc em có máu nổi loạn trong người vì chào đời vào một năm có tính lịch sử chăng?
Ngược lại, khi qua Mỹ, vào đại học, em lại… rất ngoan, chăm chú làm theo đầy đủ tất cả những yêu cầu của Giáo sư, làm bài đàng hoàng, không gàng nữa. Chắc tại mình thành thiếu nữ rồi J! Chỉ có điều, em cũng phát huy tính độc lập của mình tối đa, nên ngay từ hồi mới vô đại học cộng đồng một năm sau khi qua Mỹ, em bắt đầu lấy tất cả những lớp mình muốn tìm hiểu. Em học về Internet khi vừa có những lớp đầu tiên. Lúc đó, người ta gọi internet là ‘highway of information.’ Bây giờ nghe thật là cổ điển! Rồi khi chuyển lên Cal State Fullerton, em âm thầm theo học bốn ngành một lúc, vừa đi làm part-time ba chỗ khác nhau, nhiều khi mệt ơi là mệt, nhưng mà thích vô cùng! Lúc nào cũng cảm thấy đó là một đặc ân rất lớn mình tự tạo ra cho mình. Đồng thời, em cũng tự mình sáng lập ra những Dự án nghiên cứu, rồi đi thuyết trình ở các đại hội, và dự những cuộc tranh tài nghiên cứu mà mình biết, viết bài chuyên đề để xuất bản. Em dồn hết năng lực vào những công việc mà mình quan tâm: từ việc học, đến sinh hoạt lãnh đạo sinh viên, đến sinh hoạt văn hóa giáo dục trong cộng đồng. Đó là những bước đầu tiên, thưa Chị.
Em nghĩ, môi trường là một yếu tố quan trọng. Em cũng quan niệm rằng, thành công là kết quả của đam mê, quyết tâm, và nhẫn nại. Ai kiên nhẫn, chọn cho mình một con đường thích hợp, và chịu khó, thì sẽ đi đến cùng. Con đường em chọn còn rất dài, nên em vẫn còn phải… tiếp tục kiên nhẫn và không được ngừng đam mê! J
NL: Những tác giả Việt hay Anh ngữ mà Trang Đài thích và ảnh hưởng đến văn chương của mình?
TGT: Chắc em phải nhờ nhà văn Trần Vũ từ Paris sang trả lời giúp em câu hỏi này, vì em không giỏi liệt kê. Cho phép em không kể tên những tác giả mà em đã đọc hoặc thích, vì sẽ không thể kể một cách đầy đủ được. Lúc học cử nhân, em đã học văn chương Anh ngữ, tức là ngành English, nên cũng đọc qua các tác giả Tây phương nổi bật từ cổ chí kim, nhất là những tác giả viết bằng tiếng Anh.
Về văn chương tiếng Việt, những gì đã được đọc ở Việt Nam thì rất giới hạn, khi ở hải ngoại thì vừa đi làm đi học, vừa đi làm thiện nguyện, vừa đi làm nghiên cứu, vừa sinh hoạt lãnh đạo sinh viên, nên thời gian đọc của em cũng ít. Mãi đến gần đây, em mới có dịp đọc văn tiếng Việt nhiều hơn, nhất là nhờ các trang mạng văn chương, tuy em vẫn thích đọc sách in hơn. Dù em đã có thơ văn phổ biến trên báo chí Việt ngữ từ 1994, em vẫn phải ưu tiên cho công việc chính là nghiên cứu. Nên tuy em có mê văn chương Việt, nhưng đến nay vẫn không dành hết thời gian để sống chết với nó như mình muốn được.
NMT: Bút hiệu của Trang Đài có gì đặc biệt? Tại sao lại chọn bút danh như thế?
TGT: Thưa Chú, trước đây, cháu cũng có nhiều bút hiệu, nhưng nói ra sẽ dài dòng. Cháu hiểu là Chú muốn nói đến tên thật và cũng là bút hiệu thường dùng của cháu, Trangđài Glassey-Trầnguyễn. Cái tên của cháu thì chắc không có gì đáng nói – Ba Mẹ thích tên Trangđài, thì đặt cho con gái tên đó.
Cái họ Trầnguyễn thì được cháu tạo ra từ năm 2001, khi nhập tịch Hoa Kỳ, để tỏ lòng biết ơn Mẹ. Cháu muốn vinh danh Mẹ, vì Mẹ đã một mình nuôi cả năm chị em cháu sau năm 1975. Trong thời gian đó, Ba cháu đi tù cải tạo, rồi đi vượt biên 13 lần mới thoát, rồi định cư tại Mỹ. Cả 19 năm, Mẹ xa chồng, một mình tần tảo nuôi bầy con dại giữa những trớ trêu của một xã hội đầy bất công và bạo lực. Cháu muốn trong họ mình có họ của Mẹ, để cháu luôn luôn tuyên xưng lòng biết ơn ấy trong tên gọi của mình.
Cái phần Glassey thì được nối vào họ của cháu năm 2008, khi cháu lập gia đình. Cháu không có ý định bỏ họ kép của mình để theo họ chồng, vì lý do rất thiêng liêng ở trên. Bên cạnh đó, những Dự án nghiên cứu và tài liệu mà cháu đã xuất bản đều có cái họ này, nên cháu muốn tránh cho độc giả nhầm lẫn khi họ tra cứu những tài liệu mà cháu đã viết trước và sau khi lập gia đình. Chồng cháu lại rất quý những sinh hoạt tư tưởng và sáng tác của cháu, nên anh ấy đi ngược lại quy luật ngàn đời của dân Thụy Sĩ, ghép họ với cháu. Cái họ có hơi dài, nhưng giống như những phần thân thể không thể thiếu của nhân diện văn hóa và bản sắc cá nhân, cháu không bao giờ nghĩ đến việc chiết bỏ một phần của cái họ ba này.
NMT: Thi tập đầu tiên “nếu Mẹ thích – if you like, Mom” Trang Đài xuất bản trong trường hợp nào? Nội dung thi tập này?
TGT: Lúc đó, cháu đang học cử nhân tại Cal State Fullerton, và cũng đang đi dạy tại trường Việt ngữ Westminster. Tập thơ đầu tay, “nếu Mẹ thích – if you like, Mom” (2002) là tâm tình của một đứa con bằng máu mủ (đối với mẹ đẻ) lẫn một đứa con tinh thần (của Mẹ Việt Nam). Đây là một tập thơ song ngữ, với bản dịch 13 thứ tiếng do đồng nghiệp và thi hữu tại trường cũng như tại Nam California thực hiện.
Tập thơ ghi lại những hình ảnh của Mẹ từ khi còn ở Việt Nam, sang Mỹ, và những tâm tình yêu thương mà cháu dành cho Mẹ. Nhiều Thầy Cô đã dùng tập thơ này để dạy Việt ngữ vì những bài thơ rất đơn sơ, dễ cho các em học thuộc lòng. Southeast Asia Institute tại Fullerton cũng đưa tập thơ vào chương trình huấn luyện về văn hóa Á Châu cho Thầy Cô đang giảng dạy tại các trường công ở Quận Cam. Nhiều người đã mua quyển sách này làm quà tặng cho Mẹ và cho bạn bè, nên tuy in 1,000 bản, nhưng chỉ vài tháng sau khi in, cháu chỉ còn vài quyển làm tài liệu.
NL: Có một tập thơ Trang Đài viết về người cha “Thuyền Nhân Khúc cho Ba”?
TGT: Thưa Chị Nhã Lan, Trangđài thực hiện tác phẩm này với một ý thức về 19 năm xa cha trong bối cảnh hậu 1975 và trong tương quan với di sản thuyền nhân. Khi gia đình được đoàn tụ tại thành phố Westminster năm 1994, em phải tập làm quen với một đời sống gia đình mới, không chỉ vì mình vừa định cư ở một xứ sở mới, mà còn vì đã bao nhiêu năm sống xa cha.
Tám năm sau khi đến Mỹ, em đáp lại tiếng gọi thúc bách từ đáy lòng để viết về kinh nghiệm lớn lên không cha ở Việt Nam, để cảm nhận quan hệ phụ tử trong khung cảnh gia đình. Truy gọi “Ba tôi, thuyền nhân” giúp chúng ta thông cảm với cái kinh hoàng của đại dương và chia sớt cái bi kịch của đất liền.
Lịch sử xã hội và tiềm thức cộng đồng thường bị đánh mất sau những thương hải nương dâu, nên tập thơ này nhắm vào việc nối liền những thế hệ, nơi chốn, và gia đình đã từng bị phân tán. Quá khứ khuyến gọi chúng ta đi tìm lại cái vùng đất đã thoát thai chúng ta, và đây là một hành trình khó khăn nhưng cần thiết cho những cộng đồng di dân, thưa Chị.
NL: Tại sao Trang Đài lại in những dòng chữ chia sẻ của nhiều người với thơ của mình trong tuyển tập thơ này? Có dụng ý nào trong công việc ấy?
TGT: Sáng tác là một hành trình vừa đơn độc, vừa cộng thể. Người viết phải đóng cửa, dựng cô đơn để cho ra đời một tác phẩm. Nhưng một bài thơ chưa gọi là hoàn tất nếu nó chưa tìm được độc giả. Và mỗi độc giả sẽ hoàn tất, cũng như làm mới bài thơ đó, theo chính kinh nghiệm của họ. Do đó, những nhận xét từ nhiều người đọc khác nhau trong tập thơ này giúp cho tập thơ được ‘hoàn tất’ theo cái nghĩa đọc và đối, có sự đối thoại giữa tác giả và độc giả, một cách thể hiện cái quan niệm của em về sáng tác. Quan trọng nhất, là rất nhiều cảm nhận đến từ những người bạn khác chủng tộc, cho phép em tạo mối thông cảm của những cá nhân ngoài cộng đồng Việt Mỹ đối với kinh nghiệm thuyền nhân. Có nhiều người biết về kinh nghiệm thuyền nhân khi đọc và nhận xét về những bài thơ của em, nên tập thơ này cũng gắn bó nhiều với công việc nghiên cứu mà em vẫn thực hiện.
Hơn nữa, như Chị Nhã Lan thấy, những nhận xét về một bài thơ từ nhiều người khác nhau đều rất khác nhau. Nó phản ánh tâm tư của mỗi người đối với một kinh nghiệm, một bài thơ, làm giàu có hơn cái kinh nghiệm đọc của những người đón nhận tác phẩm này.
Em muốn mỗi tập thơ của mình mang một ‘hình hài và chân dung’ khác biệt. Khi em thực hiện tuyển tập “Thuyền Nhân Khúc cho Ba,” em muốn làm một cái gì khác hơn. Lúc đó, em chuẩn bị lên đường sang Châu Âu để nghiên cứu, nên ghi lại những nhận xét này trong tập thơ cũng là một cách để em mang theo những tâm tình của những đồng nghiệp, bạn bè, và văn hữu với mình trong một hành trang tinh thần.
NMT: Có người nhận xét Trang Đài làm thơ viết văn như một cách thế để ghi lại cuộc đời hiện thực bằng văn chương. Trang Đài nghĩ thế nào về nhận xét này?
TGT: Thưa Chú, nhận xét đó chỉ đúng một nửa, hay một phần ba. Tuy những sáng tác văn thơ của cháu có phản ánh một phần thực tế của cuộc sống, nhưng khi nó đã được ghi lại bằng văn chương, thì nó đã được lắng đọng và chắt lọc, nó đã đi vào một đời sống mới, trong đó, nó đu mình trên chiếc võng ước mơ, nó cuộn tròn trong chiếc chăn kỷ niệm, nó tung tóe với những căm phẫn, nó tuôn tràn với những hy vọng.
Nghĩa là, cuộc đời hiện thực đã biến hình, để hỗ trợ cho công việc mà văn thơ vẫn làm từ bao nhiêu đời nay: chắp cánh tưởng tượng của nhân loại, bắc nhịp cầu cảm thông giữa con người, và giải phóng cho những cảm xúc cần được diễn đạt trong mỗi cá nhân.
Nói cách khác, thơ là phương cách để cháu với tay vào cõi mộng, vào tâm thức, và những gì xa xôi không sờ chạm được, dù chân vẫn đứng trên nền đất của hiện thực. Mà những điều xa xôi, hoài mộng đó chính là đòn bẫy để con người nâng thực tế lên cao và đưa nó đi xa hơn. Văn chương là một cách để xây hạnh phúc, xây những giấc mơ, và tự bản thân nó đã mang đến nhiều thay đổi cho cả người viết lẫn người đọc.
Viết là làm tre, rễ tủa vào đất của phì nhiêu hiện thực, của chật vật đời thường, của lịch sử trắng đen, của chông chênh thế kỷ, của miền chân-thiện-mỹ, của tăm tối, sáng lòa, của sắc sắc không không, của hoài mong, nổ lực. Viết cho ta đi vào cõi miên viễn, đạt đến hưng phấn, nhìn đời bao dung. Chữ nghĩa cho ta táo bạo mà vẫn tự tại, để chân bình như vại, ngọn tỏa muôn phương, vươn đến vô cùng. Trong cõi viết, người cầm bút có thể đầu tựa trăng, ngực tung hứng gió, mình mặc mây, thỉnh thoảng thò tay thọc lét trời xanh, môi hò hẹn ngàn sao, để tim liên kết thiên-địa-nhân, tròn một chữ.
NMT: Cám ơn bài thơ rất hay của cháu. Các nhà văn nữ thường hay có khuynh hướng đòi hỏi nữ quyền. Trang Đài có khuynh hướng ấy không?
TGT: Cháu phải hỏi lại: Chú Nguyễn Mạnh Trinh định nghĩa nữ quyền như thế nào? Đó là vì cháu nghĩ, nữ quyền thì mênh mông, cũng đa dạng như đời sống nhân loại.
Ở thế kỷ 21, người ta định nghĩa nữ quyền qua nhiều cách, và chắc chắn có nhiều khuynh hướng đối lập. Có người tôn vinh quyền làm mẹ, có phụ nữ thì chọn triệt sản, không sinh con. Có người muốn được ngang hàng với nam giới trong mọi việc. Có người lại muốn âm dương hài hòa, uyển chuyển linh động.
Nữ quyền mà Trangđài xây dựng và tận hưởng cũng được hình thành từ chính hoàn cảnh cá nhân và kinh nghiệm sống của mình. Trước hết, nó phải bao gồm những quyền căn bản nhất của con người: tự do, nhân quyền, và bình đẳng.
Thứ hai, nó phản ánh nhu cầu của cháu trong từng giai đoạn cuộc sống: quyền được học hành, được theo đuổi ước mơ của mình, quyền được tự do sáng tác, quyền được chọn người mình yêu, quyền được sinh con và tận hiến cho con, quyền được đấu tranh cho những lý tưởng của mình.
Nhưng quan trọng nhất, nó vẫn là cái quyền được chọn cho mình một cuộc sống có ý nghĩa, có nhân phẩm, và đầy mãn nguyện. Xin mở ngoặc ở đây, là mãn nguyện không có nghĩa là muốn gì được nấy, nhưng là tìm được niềm vui và tâm đắc cho dù gặp phong ba bất trắc và phải tranh đấu cho điều mình muốn.
NL: Nhã Lan có đọc một truyện ngắn viết về cuộc tình với người chồng hiện giờ của Trang Đài. Rất thực và có chất phóng khoáng. Vậy Trang Đài nghĩ ra sao về tình yêu nhất là với một người nam không cùng chủng tộc?
TGT: Thưa Chị, Trangđài quan niệm rằng, bất cứ tình cảm nào – tình bạn, tình yêu, tình mẹ con – trên căn bản, cũng là một quan hệ giữa hai cá nhân. Trong một tình yêu dị chủng, điều quan trọng hơn hết là làm sao cả hai đến với nhau, trước hết, như hai con người bình đẳng. Những khác biệt về văn hóa và nếp sống chắc chắn sẽ có, nhưng nếu cả hai tôn trọng và đón nhận nhau như đón nhận một con người khác – một nhân thể khác – thì tình yêu đó sẽ có một nền tảng vững vàng. Khi đó, những khác biệt sẽ làm men muối, làm gia vị cho tình yêu của họ.
Nói một cách cụ thể, tụi em hợp nhau về nhiều mặt, vượt trên những khác biệt về ngôn ngữ hay văn hóa. Chẳng hạn, cả hai đều thích toán học, thích âm nhạc, yêu thiên nhiên, mê nghệ thuật, tham gia đóng góp cho những chương trình từ thiện. Từ những đồng điệu đó, khoảng cách dị tộc cũng không còn là một vấn đề lớn, tuy cả hai đều phải nổ lực để tiếp nhận và tôn trọng văn hóa của đối phương. Em dùi mài tiếng Pháp, chồng em tập nói tiếng Việt. Em có lợi điểm là đã sống một năm ở Châu Âu, nên hiểu về đời sống bên đó. Chồng em chưa đến Việt Nam, nên sau ngày cưới, tụi em về thăm nhà, để ảnh thấy được và cảm được nơi em đã sinh trưởng.
Vì tụi em đến từ hai kinh nghiệm sống rất trái ngược, nên cũng có nhiều điều phải cần thời gian và kiên nhẫn để đạt đến sự thông cảm. Chẳng hạn khi mới quen nhau, em cũng rất thành thật và thẳng thắn với chồng khi trao đổi tư tưởng và quan niệm sống. Khi nói về vấn đề đô hộ chẳng hạn. Ban đầu, chồng em không quen nghe những chỉ trích về chế độ Pháp thuộc, vì tuy là người Thụy Sĩ, nhưng anh ấy nói tiếng Pháp, nên hơi khó xử khi em lên án chính quyền Pháp đô hộ. Về sau, anh ấy thoải mái hơn khi thảo luận những đề tài tế nhị như vậy. Dù sao, thì anh ấy vẫn có niềm tự hào của một người Châu Âu, nên dù có biết lịch sử, dù có hiểu về những vấn đề xã hội, anh ấy cũng cần thời gian để chấp nhận những thực tế trong quá khứ mà trước nay, ảnh chỉ đọc trong sách, mà chưa phải đối diện trực tiếp trong một hệ quả có thật trước mắt, như một người Việt thế hệ hôm nay, nói về những hậu quả của một Châu Âu bá quyền đô hộ thế giới thưở nào.
Em vẫn ví von cuộc hôn nhân của tụi em là việc đem tre xanh nhiệt đới của đồng bằng sông Cửu Long, trồng trên đỉnh núi Alps trùm tuyết. Tre đồng bằng xứ nóng, đem trồng trên núi xứ lạnh – không phải đơn giản, nhưng thú vị và sau gần 5 năm, em thấy xe vẫn xanh và còn nẩy thêm măng non nữa đó Chị.
NL: Trang Đài viết tập thơ “MÙA YÊU CON Thứ Nhất” trong trường hợp nào?
TGT: Thưa Chị, trong hoàn cảnh riêng, vì công việc, vợ chồng em phải xa nhau trong hai năm trời. Muốn có con ngay sau khi thành hôn, nhưng đành phải đợi. Khi có mang lần đầu, thì mới sáu tuần, em đã phải mổ ruột dư. Trong 1,000 phụ nữ mang thai, thì chỉ có một người phải mổ ruột dư. May mắn là cả hai mẹ con em đều an toàn. Lúc đó, tụi em lại dọn nhà liên tục, nên sức khỏe em yếu, cuối cùng, bác sĩ bắt buộc phải mổ đưa bé ra sớm 5 tuần. Em đầu tư hết mức trong việc tìm hiểu về thai trình từ những ngày trước khi mang thai, nên hiểu rằng, mỗi ngày trong bụng mẹ đều cần thiết và quý giá cho con. Không được sinh tự nhiên, lại phải đưa con ra sớm, nên tuy là em chấp nhận hoàn cảnh, nhưng vẫn luôn luôn muốn bù đắp cho những thiệt thòi của con. Có lẽ tập thơ là một cách để em trao tất cả cho con: sức sáng tạo, tình yêu, hoài bão.
“MÙA YÊU CON Thứ Nhất” nói đến một giai đoạn sống mới cho em, trong niềm vui và trách nhiệm làm mẹ, cũng như những khám phá mới về chính cơ thể mình. Cơ thể người phụ nữ khi mang thai và khi cho con bú đã nở rộng và mở rộng, đi vào những bình diện và chiều kích sâu xa khôn cùng. Về thể lý, khoa sinh học nói rằng bộ ngực của người phụ nữ chưa phát triển hết, cho đến khi sinh con và cho con bú (có lẽ đây cũng là lý do “Gái một con trông mòn con mắt”).
Trong lúc tập làm mẹ, em gặp nhiều khó khăn về sức khỏe, thiếu sữa cho con bú trong hai tuần đầu, và con không chịu bú vú mẹ cho đến hai tháng sau khi sanh. Em tập cho con bú đến khòm cả lưng, tuy không bao giờ bỏ cuộc, ngay cả khi lactation specialist đã bảo vô phương! Dù với bao khó khăn, nhưng đây là giai đoạn đầu làm mẹ của em, với những cảm xúc mạnh và riêng biệt mà em muốn ghi lại cho con và cho mình. Đây là một cách để vừa giữ một nhật ký không đầy đủ cho con (vì hai vợ chồng em rất muốn viết chung nhật ký cho con), vừa tiếp tục công việc sáng tác mà em theo đuổi trong gần 30 năm qua. Vả lại, thơ vẫn luôn là một người bạn đồng hành trong suốt cuộc đời, nên dù Nàng Thơ vẫn luôn ẩn hiện huyền bí, em vẫn luôn kiên trì theo đuổi nàng.
NMT: Trang Đài đã làm thơ về mẹ của mình trong tập thơ song ngữ đầu tay “nếu Mẹ thích.” Bây giờ lại viết tập thơ với vị trí của người mẹ gửi cho con. Hai tập thơ có gì giống nhau và những gì khác nhau?
TGT: Cháu viết về những trăn trở lớn trong đời mình. Tập thơ thứ năm, tuy nói về kinh nghiệm làm Mẹ lần đầu của cháu, nhưng cũng đụng chạm đến những chủ đề trong bốn tập thơ trước. Tập thơ đầu nói về tình mẫu tử, về Mẹ cháu và những hình ảnh người Mẹ Việt Nam khác mà cháu đã gặp trong cuộc sống, thì có quan hệ Mẹ–Con với tập thơ này. Từ “nếu Mẹ thích” cho đến “MÙA YÊU CON Thứ Nhất” là một giai đoạn chuyển mình của cháu cả trong đời sống (từ một người con gái, trở thành một người mẹ), lẫn trong sáng tác. Đó là về mặt kinh nghiệm cá nhân.
Về đề tài, hai tập thơ đều nói về đề tài muôn thưở của nhân loại: tình mẫu tử, và việc duy trì văn hóa, giống nòi. Nhưng lại rất khác nhau, vì tập đầu thì thưa thốt với Mẹ, tập sau thì thủ thỉ với Con. Nhưng cũng như Trangđài là nhịp cầu giữa hai thế hệ Bà và Cháu, thì hai tập thơ này cũng có quan hệ máu mủ như vậy. “nếu Mẹ thích” đi từ nhân sinh quan của một đứa trẻ, bày tỏ tình yêu và lòng biết ơn đối với Mẹ. “MÙA YÊU CON Thứ Nhất” căng tràn những biểu cảm của một người phụ nữ lần đầu tiên nếm trải tình yêu đối với con.
Cả người con và người mẹ trong hai tập thơ này đều muốn làm một điều giống nhau: dâng hiến tất cả cho đối tượng của tập thơ, nghĩa là Mẹ mình và Con mình. Đôi khi, điều này cũng có vẻ như mâu thuẫn, vì chữ Hiếu và trách nhiệm làm cha mẹ có thể đặt chúng ta vào vị thế ‘bánh mì kẹp,’ tức là sandwich generation. Nhưng có lẽ chính cái mâu thuẫn đó giúp chúng ta hài hòa hơn trong trách nhiệm, và làm chúng ta giàu có hơn khi nhận ra rằng con cái cũng là hình ảnh nối dài của chính chúng ta và của cha mẹ chúng ta. Nuôi dạy con cái nên người cũng là một cách báo hiếu thiết thực cho cha mẹ, phải không Chú?
NMT: Đúng như vậy! Chú đồng ý! Nhưng, làm con, làm vợ, làm mẹ của một người trẻ như Trang Đài có gì khác với lớp người nữ Việt Nam thế hệ trước ở trong môi trường sinh sống ở xứ người?
TGT: Cháu nghĩ, thế hệ của cháu có nhiều chọn lựa và nhiều bình đẳng hơn so với các thế hệ phụ nữ trước, nhất là trong hoàn cảnh toàn cầu hóa ở hải ngoại. Về mặt chọn lựa, trước hết, cháu vẫn có nhiều tự do để chọn bạn đời hơn so với phụ nữ ở thời Mẹ cháu.
Thứ hai, cháu được chọn lựa việc học việc làm của mình, được tham gia những sinh hoạt xã hội để đào luyện bản thân và thu thập thêm kỹ năng tổ chức và lãnh đạo, cho cháu một vốn sống và nhiều kinh nghiệm rất hữu ích cho đời sống gia đình và việc nuôi dạy con cái sau này. Chẳng hạn khi đi dạy Việt ngữ, cháu đã tập cho mình sự kiên nhẫn với trẻ con, hiểu tâm lý thanh thiếu niên hơn, biết cách mềm dẻo để hướng dẫn học sinh. Tất cả những kinh nghiệm đó đều là những sự chuẩn bị tuyệt vời cho việc làm Mẹ.
Thứ ba, tương quan vợ chồng ở thời của cháu có lẽ vẫn bình đẳng hơn so với thời trước. Ở thế kỷ 21, đàn ông vẫn thay tã, tắm rửa, và chăm lo cho con như đàn bà, và có nhiều ông còn chọn ở nhà để chăm sóc con, khi mức lương của vợ cao hơn mình. Mẹ cháu hay ‘ghen tỵ’ và nói, “Tụi mày sướng, có chồng phụ!” nhưng cháu nói ngay, “Mẹ ơi, thời tụi con mà Mẹ cứ đem so với 40 năm về trước thì sao được!” Thật ra, hồi đó, Ba cháu vẫn đỡ đần Mẹ rất nhiều trong việc nhà sau khi hoàn tất trách nhiệm quân nhân, nhưng Ba cháu vẫn là trường hợp hiếm hoi và cũng không giúp Mẹ cháu nhiều như các ông chồng thời nay giúp vợ.
Hơn nữa, mặc dù người phụ nữ vẫn còn chịu nhiều bất công về giới tính, xã hội hôm nay cho phép người phụ nữ đi vào nhiều lãnh vực khác nhau trong xã hội, vừa phát triển khả năng chuyên môn, vừa xây dựng đời sống cá nhân. Cháu thấy đây là một con dao hai lưỡi, vì nó có thể tạo ra áp lực gấp đôi nếu mình không biết cách sắp xếp công việc và thời gian để hài hòa đời sống chuyên môn và đời sống gia đình.
Nhưng làm gì thì làm, cháu vẫn rất mê hình ảnh bà mẹ quê của Việt Nam: cái tình thương chan hòa của Mẹ, cái nghị lực vô tận, sức chịu đựng và sự hy sinh cho gia đình. Cháu rất kính trọng sự đảm đang và tài gánh vác của bà mẹ quê, nhưng cháu sẽ không chấp nhận những oan khiên của bà.
NL: Trang Đài nghĩ thế nào về sự hội nhập vào dòng chính của lớp trẻ Việt Nam tại Mỹ hiện giờ?
TGT: Chị Nhã Lan đã đưa ra một chủ đề quá lớn, có thể làm vài chục luận án tiến sĩ vẫn… chưa trả lời hết được. Hay là để Trangđài đi làm một Dự án theo câu hỏi của Chị, rồi trở lại trả lời Chị sau, được không?
Nói vậy chứ hôm nay em sẽ phá lệ, làm một việc cấm kỵ trong giới nghiên cứu, là đưa ra một nhận xét tổng quát. Em nghĩ sự hội nhập của lớp trẻ gốc Việt tại Mỹ, hay tại các nơi khác, đều chịu ảnh hưởng lớn của môi trường địa phương. Có một sự tình cờ rất thú vị khi em thực hiện hai cuộc phỏng vấn độc lập với hai bạn trẻ chưa hề gặp nhau, một sống ở Bắc California, và một ở Lausanne, Thụy Sĩ. Cả hai đều nói mình 70% Mỹ hoặc Thụy Sĩ, và 30% Việt Nam. Điều này cho chúng ta thấy có một điểm tương đồng nào đó trong quá trình hội nhập của lớp trẻ Việt tại hải ngoại.
Chỉ trừ ngoại lệ của Little Saigon, Quận Cam, hay những cộng đồng lớn khác, em nghĩ ở các cộng đồng người Việt hải ngoại nhỏ hơn, văn hóa và ngôn ngữ chủ đạo vẫn là của dòng chính. Do đó, nhân diện văn hóa của các bạn trẻ ở những cộng đồng ít người Việt sẽ bị ảnh hưởng bởi dòng chính nhiều hơn, có nghĩa là họ sẽ hội nhập một chiều nhiều hơn vì không có môi trường văn hóa sắc tộc để nuôi dưỡng họ.
NL: Trang Đài có ý nghĩ gì khi có người phát biểu hội nhập có nghĩa là dung hòa giữa hai nền văn hóa bản xứ và dân tộc?
TGT: Em nghĩ dung hòa thì có vẻ hơi thụ động và hơi êm tai. Đối với em, hội nhập là chọn lựa có ý thức những gì mình muốn giữ từ văn hóa gốc, và học những gì mình thấy hay từ văn hóa thứ hai. Dung hòa nghe rất êm ả, nhưng hội nhập văn hóa là những giằng co và chọn lựa khốc liệt. Trong quá trình hội nhập, hai nền văn hóa sẽ cọ xát với nhau trong cuộc sống của một cá nhân, và khiến cho cá nhân đó đôi khi phải rất nhức đầu để chọn lựa, mà đôi khi lại là sự tiến thoái lưỡng nan.
Cho nên, hội nhập văn hóa là những chọn lựa hằng ngày trong đời sống, và chúng ta có thể chọn tùy hòan cảnh và tùy suy nghĩ lúc đó. Em xin đưa ra một ví dụ đơn giản nhưng phổ biến: Lập gia đình rồi, nên ra riêng, hay ở chung với Ba Mẹ, nhất là khi mình là con một? Ba Mẹ gắn bó với mình quá, thì cũng quyến luyến, khó đi. Mà không đi, thì lại có những lấn cấn khác.
Lúc người chị gái của em đi lấy chồng, tuy mừng cho hạnh phúc của chị, nhưng em buồn và nhớ chỉ, em hỏi Ba, “Ba ơi, sao chị dại quá, đổi sáu người trong nhà để lấy một người dưng?” Nếu dụ dỗ được, chắc em đã dụ dỗ cả hai vợ chồng anh chị về ở chung rồi. Nhưng có lẽ vì đó là lần đầu tiên một người trong năm chị em rời gia đình để có đời sống riêng, nên em bị chấn động như vậy. Khi tới phiên em lấy chồng, thì… em cũng ra riêng, nhưng lúc đó, không ai hỏi Ba em câu nào hết, và đã có nhiều chị em dọn ra riêng rồi, không có gì phải thắc mắc!
Hơn nữa, xã hội chủ lưu ở bất cứ quốc gia nào cũng có những định kiến về người thiểu số, và đôi khi biến những giá trị văn hóa của một sắc dân thành một điều sáo mòn. Hình ảnh cây tre của Việt Nam rất đẹp, nhưng khi bị công thức hóa trong cách suy nghĩ của xã hội Mỹ, thì nó mất cái đẹp và giá trị văn hóa của nó đi, khiến những người Mỹ gốc Á tránh dùng hình ảnh cây tre vì không muốn bị giới hạn bởi hình ảnh ấy. Em không đồng ý với sự tránh né đó, và dùng hình ảnh cây tre trong sáng tác của mình một cách có ý thức và có ý nghĩa. Đây là một trường hợp mà chúng ta không thể ‘dung hòa’ hai văn hóa, mà phải quyết liệt để bảo tồn một nét đẹp của văn hóa dân tộc.
NMT: Trang Đài có muốn hội nhập vào văn học dòng chính không?
TGT: Có lẽ đó là một dự án về sau, và hội nhập theo nghĩa con đường hai chiều: cháu tham gia vào những tư duy của dòng chính, nhưng cũng mang theo tư duy của văn hóa dân tộc theo mình. Đây là điều mà cháu đã làm trong học thuật, nghiên cứu, thưa Chú. Cháu sẽ dùng mô hình này khi cháu có nhiều thời gian để tham gia sinh hoạt văn học hơn.
Tuy vậy, cháu không hội nhập theo cách vạch ra cho mình một con đường để đi vào văn học dòng chính. Trước hết, cháu muốn mình phải tôn trọng con người sáng tạo trong bản thân mình – mà con người đó thì hết 90% Việt Nam rồi, nên tư duy và nhận thức đều ‘đứng ngoài’ dòng chính, hiểu theo cách tích cực nhất. Nghĩa là cháu hội nhập văn hóa có chọn lựa, và trong hội nhập văn học dòng chính cũng vậy.
Nhưng cũng không có nghĩa là cháu chủ trương đi theo văn học ghetto, hay văn học sắc tộc tách rời khỏi văn học dòng chính, ‘essentialize’ cái chỗ đứng hay nhân diện thiểu số. Cháu nghĩ, khi một tác phẩm văn chương đạt đến giá trị đích thực, sẽ có thể đối thoại với bất cứ ai, không phân biệt ‘dòng chính’ hay ‘dòng phụ,’ da vàng hay da trắng.
Cháu vẫn quan niệm, khi mình hiểu rõ chính mình, mình sẽ đồng hành với nhân loại. Hãy cứ sống thật và viết thật với chính mình, thì độc giả sẽ đón đợi những gì mình viết ra, cho dù người đọc đó có cùng màu da với mình hay không.
NMT: Nhiều nhà văn Hoa kỳ hay Pháp gốc Việt đã viết văn bằng trái tim Việt Nam. Trang Đài có đồng ý với nhận định trên?
TGT: Đó là một nhận định chính xác, thưa Chú, không chỉ trong văn học, mà cả các bộ môn nghệ thuật khác, như phim ảnh, hội họa, kịch nghệ. Tuy nhiên, chúng ta không thể không nhắc đến cái ảnh hưởng và biểu đạt của văn hóa và văn học bản xứ trong những tác phẩm này. Cháu nghĩ, những tác giả này là tác giả hybrid, họ lai hai văn hóa, cho dù dòng máu của họ thuần Việt. Cho nên cho dù chúng ta nhận ra trái tim Việt Nam trong mạch văn của họ, thì chắc chắn chúng ta cũng thấy nguồn ôxy là của Mỹ hay Pháp, và mạch máu đôi khi lại là mạch máu địa phương. Điều này cũng dễ hiểu, vì những nhà văn này sinh trưởng tại hải ngoại.
Hơn nữa, đa số các nhà văn này đều dùng ngôn ngữ bản xứ, và như vậy, trái tim Việt Nam không còn thuần túy Việt Nam nữa – nó đã được chuyển hình và có một nhịp đập mới. Ngôn ngữ chất chứa văn hóa. Khi một nhà văn chọn một ngôn ngữ để sáng tác, thì chính ngôn ngữ đó đã vô hình chung đóng một dấu ấn trên tác phẩm và tâm thức của tác giả. Cho nên có thể những tác giả này vẫn dùng nước mắm để nêm nếm cho tác phẩm của họ, nhưng cách nấu thì không còn thuần túy Việt Nam, và sản phẩm sau cùng cũng sẽ mang một nhân diện riêng của nó.
NL: Đã là người mẹ nên Nhã Lan đọc tập thơ “MÙA YÊU CON Thứ Nhất” của Trang Đài với xúc cảm tràn đầy. Không biết các nhà văn nhà thơ đã có cảm xúc như thế nào về tác phẩm này?
TGT: Thưa Chị, một số nhà văn nhà thơ đã viết lời bình, và đưa ra những nhận xét khá tích cực. Những bài thơ và văn trong tập thơ này đã được phổ biến trên báo in lẫn báo ảo trong suốt gần ba năm qua, từ lúc em đang mang thai, cho đến lúc tập thơ ra đời. Em rất cảm kích những cơ hội và những sự ưu ái này. Nó cho thấy những nổ lực của em đã được trân quý và khuyến khích trong giới cầm bút. Xin cám ơn quý vị Chủ Bút và Chủ Biên một lần nữa.
Nhưng, như mọi việc trong cuộc sống vô thường này, bất cứ việc gì cũng nằm trong cái duyên cái hạnh. Nếu người viết có đủ duyên và người đọc có đủ hạnh để ngộ cái duyên đó, thì một tác phẩm sẽ là ông tơ bà nguyệt, se duyên cho hai tâm hồn trong một mối tình thi ca theo nghĩa thuần túy nhất. Nếu người viết có chút duyên, mà người đọc không mang cái hạnh của mình ra để đón nhận, thì cái duyên đó vô nghĩa đối với người đọc.
Là một người rất nghiêm túc và nghiêm khắc với chính mình trong công việc sáng tạo, em vẫn cho rằng, bất cứ những gì mình viết ra – cho dù đã sửa đến vài chục lần – vẫn là tác phẩm đang hình thành. Chính người đọc sẽ hoàn tất tác phẩm khi họ mang trái tim và kinh nghiệm của chính họ vào tác phẩm đó.
NL: Là nhà thơ, là người hoạt động văn hóa giáo dục cho cộng đồng, là người dạy học tại các trung tâm dạy Việt ngữ, là một nhà nghiên cứu của những chương trình hậu đại học, là người mẹ và người vợ chăm sóc đời sống cho chồng con… Thời khóa biểu một ngày bận rộn của Trang Đài như thế nào?
TGT: Thưa Chị, thời khóa biểu của em không ngày nào giống ngày nào, nhưng chắc không bận rộn bằng những người làm truyền thông như Chị Nhã Lan và Chú Nguyễn Mạnh Trinh đâu J. Tùy giai đoạn mà Trangđài có những công việc nhất định. Chẳng hạn trong thời gian thực hiện tập thơ “MÙA YÊU CON Thứ Nhất,” thì hai vợ chồng phải thức đêm sau khi con đã ngủ say để bàn thảo với nhau về việc thiết kế và làm layout. Chồng em lo hết phần kỹ thuật, em chỉ cần nói cho ảnh biết là em muốn cuốn sách được trình bày như thế nào, và ảnh sẽ góp ý khi thấy cần thiết.
Hiện nay, em ưu tiên cho hai việc chính: chăm sóc gia đình và sức khỏe, và viết lách. Con trai đầu lòng mới 2 tuổi rưỡi, nên có nhiều việc phải lo cho cháu, mà em lại đang ấp ủ mối tình thứ hai, nên sức em cũng rất giới hạn. Về phần viết lách, em chú trọng vào nghiên cứu, vì có nhiều công việc đã bỏ dở từ ba năm trước, khi em chịu hai ca giải phẫu trong vòng sáu tháng, và sau đó dành cả hai năm để chăm sóc con.
Mỗi ngày, em vạch ra những công việc cần làm, và chọn ưu tiên cho những công việc cần gấp trước. Ngày nào cũng có việc chưa làm xong hết, thưa Chị. Em cũng không cố quá sức, vì biết năng lực của mình giới hạn nhiều khi đang mang thai.
NMT: Trang Đài có nhận xét về văn học Việt Nam ở hải ngoại với cương vị của một người trẻ?
TGT: Cháu cảm thấy mình như người đi trễ chuyến tàu. Cháu ước chi mình có ba đầu sáu tay, và ba ngàn sáu trăm năm mươi ngày trong một năm để đọc và gặp những người cầm bút tại hải ngoại thuộc thế hệ trước. Có nhiều vị đã ra đi mà chúng ta không có một phóng sự nào để lưu lại hình ảnh và kinh nghiệm của họ.
Mặt khác, cháu lại cảm thấy mình cứ phải cong giò chạy theo những chuyến xe tốc hành, vì có nhiều tác phẩm hay để đọc, mà không đủ giờ để đọc. Chưa nói đến sách in đã mua và bồng bế theo mỗi lần dọn nhà, nếu cứ bookmark những trang mạng mình muốn đọc, thì không biết đến bao giờ mới đọc hết, nhất là những trang được cập nhật bài vở mới thường xuyên. Đó là một điều vui, vì chúng ta vẫn có nhiều cây bút bền bỉ với công việc sáng tác. Tuy nhiên, công việc bình luận vẫn còn bỏ trống. Chúng ta cần nhiều Mặc Lâm, những Nhã Lan, Nguyễn Mạnh Trinh, nhiều Thụy Khuê hơn để tiếp tục cuộc trao đổi và bình luận văn học nghệ thuật rất cần thiết này. Nếu không, như nhà văn Hồ Đình Nghiêm đã có lần oán than, viết mà không có phản hồi, thì khổ lắm!
NMT: Có ước nguyện nào cho văn học Việt Nam ở hải ngoại?
TGT: Cháu mong rằng sau gần 40 năm, chúng ta dám ngồi xuống để định hình một nền văn học Việt Nam hải ngoại – cho dù nó còn chưa đủ hình đủ vóc, hay chưa nhuận sắc. Chính việc định hình này sẽ giúp những người quan tâm đến chữ nghĩa lẫn những người cầm bút nhìn thấy con đường trước mặt và những gì cần làm để vun bồi cho một nền văn học thực thụ.
Điều quan trọng hơn hết, là cho dù nền văn học này có bao gồm những tác phẩm viết bằng những ngôn ngữ bản xứ khác nhau, thì ngôn ngữ chính được dùng vẫn phải là tiếng Việt. Được như vậy, thì cái hồn, cái sắc, cái đẹp của văn hóa và ngôn ngữ Việt sẽ tiếp tục làm chính mạch cho những sáng tác văn chương Việt hải ngoại. Như vậy, chúng ta sẽ làm cho nền văn học hải ngoại được liên mạch với nền văn học tại Việt Nam trước 1975. Hơn nữa, giữ được tiếng Việt, thì sẽ giữ được bản sắc Việt, và giữ được một nước Việt Nam ở ngoài lãnh thổ Việt Nam – một quê hương không biên giới trong tâm thức mà những thế hệ Việt hải ngoại tương lai có thể tìm về và truy nhận.
Nguyễn Mạnh Trinh và Nhã Lan
Nguồn: Trangđài Glassey-Trầnguyễn gửi bài phỏng vấn



















