Ông bạn vong niên

Posted: 12/10/2012 in Hoàng Quy, Truyện Ngắn

Hoàng Quy

“Giờ nào tôi đi cũng được.  Đã 86 tuổi rồi còn chi nữa.  Chỉ lo hai việc cuối cùng tôi chưa làm xong”… Vừa nói, ông Huế Hơn vừa thở hổn hển. Hai gò má chảy xuống. Đôi mắt mất thần, núp dưới hai hàng lông mày dài, rậm và khô như hai chùm râu bắp.

Giáo Ngà chẳng để ý gì hết, cứ hỏi dồn tới: “Mà hai chuyện chi ? Có phải chuyện cưới vợ cho thằng Dũng? Chuyện chi nữa…” Quân bảo Giáo Ngà: “Đừng hỏi nữa, ông ấy đang mệt”. Huế Hơn thở nghếch lên. Lúc nầy ông đã nặng tai, mắt đã nhập nhòa. Thế mà mỗi sáng cũng cố chạy chiếc xe đạp điện, xuống chợ ngồi quán cà phê như không có chuyện gì xảy ra. Giáo Ngà cố hỏi: “Chuyện chi nữa mà chú  phải lo ?” – “Ừ thì chuyện tôi thưa bên Hai Thật, cái mương nước hồi mấy năm về trước, mà cũng sắp ra tòa rồi.” – “Tưởng chuyện gì to lớn, thôi bỏ đi ông Tư ơi, để cho tụi nhỏ nó tính chuyện phải trái với người ta, hơi đâu mà chú bận lòng. Lỡ khi ra tòa cải nhau, chú có chịu nỗi không ?” Giáo Ngà nói một hơi như vừa khuyên, vừa lo cho Huế Hơn. Ông bạn vong niên cố chấp.

Ở cái xã nầy, từ cầu Trà Niền đến chợ Cầu Nhiếm, ai mà không biết ông Huế Hơn. Người ta còn gọi ông là “Ông Tư nhiều chuyện”. Nhiều chuyện. Bởi chuyện gì của làng xã, ông Tư cũng có ý kiến, cũng can thiệp. Can thiệp không được, Huế Hơn lại đạp xe chạy lên gặp bí thư xã, chủ tịch huyện. Ngày ông còn khỏe, với chiếc xe đạp cà tàng, ông đi đâu cũng tới. Y như là lúc Huế Hơn còn làm cán bộ hồi kháng chiến một. Cái máu me của người cán bộ trung kiên thời xa xưa ấy, nó cứ chảy suốt trong con người Huế Hơn như hơi thở của ông. Mấy tấm huân chương, huy chương kháng chiến vẫn xôn xao trên ngực áo của người cán bộ năm nào. Thành quả ấy là những chiến công, ít ra cũng hiển hách với gia đình, làng nước… Huế Hơn sinh hoạt trong hội Người cao tuổi như một nét son phai màu, trong hội Người tù nhân của chế độ miền Nam… Chừng ấy thứ đủ để cho Huế Hơn mạnh miệng ăn nói trước làng xã. Đôi khi to tiếng trước quan chức địa  phương. Và có lần, Huế Hơn bị bí thư xã lên án:” Anh dạy chính quyền phải không ?” Thế là từ dạo bí thư Năm Tèo phản pháo, các quan chức địa phương nghe tới Huế Hơn ai cũng né. Cái hổn danh “Tư nhiều chuyện” họ truyền nhau từ đó. Chính  quyền địa phương không ai ưa gì Huế Hơn, nhưng chẳng làm gì được. Hình như lúc nào ông cũng chứng tỏ cái bản chất vô sản chuyên chính và trung kiên một cách cực đoan. Từ thuở thiếu thời, ông lăn xả vào công tác, dâng hiến cả tuổi thanh xuân cho lý tưởng cách mạng. Ngon lửa ấy vẫn âm ỉ trong Huế Hơn mãi cho đến phút sau cùng ? Quân nghĩ thế. Có lẽ cũng không sai chạy mấy. Đám con của Huế Hơn lớn lên được nung trong cái lò bát quái ấy, rồi đứa nào cũng được vào Đoàn Đảng. Cuộc phấn đấu trường kỳ ấy cố vươn lên như những bông hoa lục bình khoe sắc,vừa trôi theo dòng. Nhưng có lẽ trong bầy con của Huế Hơn, không có đứa nào có tính khí giống Huế Hơn như thằng Hợp.

Chuyện kể rằng: …Thằng Hợp sinh ra trong một đêm trăng thanh gió mát trên cánh đòng lúa mênh mông của Phú Yên, khi hai người cùng chí hướng trên đường công tác… Mười chín tuổi, Hợp mới vào học lớp tám. Trễ tràng, già dặn như một ông cụ non. Ở trường thầy cô ai cũng thương cái tính nghiêm túc và ham học của Hợp. Một buổi sáng mùa xuân, Huế Hơn bảo thằng Hợp: “Con viết tờ đơn xin làm thịt con heo bị xe lôi cán chết đêm qua.” Cái đơn Hợp viết chỉ vỏn vẹn có ba câu “Kính xin chính quyền xã cho gia đình tôi làm thịt con heo bị xe lôi cán chết đêm qua. Không làm thịt, con heo cũng chết rồi. Bỏ đi uổng lắm.” Đọc tờ đơn đứa con viết, Huế Hơn nổi nóng, vất tờ đơn xuống bàn. Ông hét lên: “Viết lại tờ khác.” Hợp quay lại nhìn ông: “Con không viết”. – “Không viết, thì đi khỏi nhà”. Huế Hơn giận quá. Nhưng phán quyết của ông như thế đã đẩy thằng con “trăng thanh gió mát” vào chân tường. Hợp cuối mặt quay đi, nó chỉ còn kịp lấy chiếc nón đội lên đầu, rồi bỏ nhà ra đi biền biệt.

Tháng sáu năm 1980, khi chiến trường Campuchia rực lửa, Hợp cùng toán quân di chuyển trên chiến trường bị quân Khơme đỏ phục kích. Chỉ còn một mình Hợp sống sót, xương vai gẫy nát. Cuộc chiến Campuchia chấm dứt. Hợp trở thành thương binh. Nó quay về nhà với tấm huân chương trên ngực áo. Năm ấy, nó cũng vừa được kết nạp vào Đảng. Huế Hơn vừa mừng vừa thấy ân hận về chuyện tờ đơn xin làm thịt heo thuở nào.

Hai mươi năm sau, thằng Hợp cũng thành đạt như người ta. Huế Hơn mỉm cười trước cuộc đời bôn ba lặn lội của ông. Huế Hơn thở phào. Nhưng hơi thở của ông bây giờ yếu đi rồi. Mỗi ngày, ông phải thở cả năm, sáu lần “khí dung”. Thế nhưng, ông vẫn còn hút thuốc, vẫn ngồi một mình chơi bài xập xám với nổi cô đơn của cơn bệnh. Huế Hơn bắt đầu cảm thấy giữa cai sống và cái chết chỉ còn cách nhau một sợi chỉ mong manh phất phơ trước gió. Ông cố đọc một vài cuốn sách, vài phiến kinh Phật… Nhưng khó quá ! Mắt mờ, tai điếc, tâm trí luôn thấy bất an. Ông cố tin, cố bám vào niềm tin ấy, không phải ở sự sống mà ở tâm linh, ở cái gì đó, sau khi ông không còn thở được nữa. Trên đôi mắt hốc hác, buồn bã như có chút tiếc nuối, ân hận không níu kéo lại được thời gian, mà thời gian chẳng chờ đợi ai. Biết thế, Huế Hơn đã chuẩn bị mọi chuyện, nhưng ông vẫn thấy đau đáu trong lòng, nhiều đêm mất ngủ.

Quân gặp Huế Hơn trên đường tha phương cầu thực, nó dung dị như đám lục bình đi tìm bờ bến phù sa, bám rể, trổ bông, dập dềnh trên sông nước miền Tây. Năm ấy, còn cái thời tem phiếu, cấm chợ ngăn sông, ấp trưởng Ba Phương mời Quân dự bửa tiệc tất niên. Chẳng phải có cái thớ gì ở xứ nầy, vừa chạy xe lôi vừa đi dạy bổ túc văn hóa cho anh em cán bộ xã ấp. Chừng ấy thôi, mà bữa tiệc cuối năm Quân đươc mời ngồi gần bí thư xã Bảy Bé. Bảy Bé hỏi Quân: “Thầy cũng quen với ông Huế Hơn à?” – “Đâu phải Huế anh Bảy., ông Tư dân Phú Yên, miền Trung cũng chẳng phải Băc kỳ như mấy anh hay gọi đâu.” Cả bọn ngồi quanh hai chiếc chiếu trải dài ngoài sân làm bàn nhậu, cười rộ lên. Mới đó mà đã ngoài ba mươi năm. Chủ ấp Ba Phương cũng đã qua đời. Gia đình ấy cũng rả gánh. Con cái lang bạt kỳ hồ… Cuộc đời con người ta như bèo bọt, như mây trôi. Ba Phương với Huế Hơn lại là anh em cột chèo. Hai gia đình cùng ngụ trên hai dây đất dài năm sáu trăm thước, phía bên vợ chia cho. Dây đất sát đó thuộc về người anh vợ Hai Thật. Hai Thật mất sớm. Chuyện cái mương nươc tranh chấp giữa anh em họ hàng ấy, kéo dài gần hai mươi năm nay, vẵn thưa tới thưa lui, chẳng ai chịu nhường ai một bước. Huế Hơn hơi thở đã cạn kiệt vẫn còn chưa chịu, phải đòi cho được lẽ phải, cho công bằng để sau nầy con cháu không còn va chạm nhau. Ông nói như thế. Nhưng không biết cái công bằng ấy nó nằm ở chỗ mô trong cuộc sống đa đoan, cố chấp, lấy tham, sân, si làm tiêu chí cho cuộc đấu tranh giành giựt lấy sự sống. Họ không có tâm từ, mà chỉ có quyền lợi. Họ đấu tranh thường trực và họ khổ đau khôn cùng.

Có phải Huế Hơn đang thức tỉnh? đang cố tìm ra một lối thoát cho mùa xuân  cuối cùng của mình? Ông bật dậy, gượng dắt chiếc xe đạp điện ra sân một cách khó khăn, cố lấy bình tĩnh, chạy chầm chậm tới nhà Sáu Hồ.

Sáu Hồ xuất tu hồi 19 tuổi ở Huế. Ra đời chẳng bao lâu, anh trở thành sĩ quan tư pháp ở huyện  vùng ven thành phố Cần Thơ hồi ấy. Sáu Hồ nổi tiếng là một tay đối đáp khôn ngoan hơn người. Thế mà, sau 75 Sáu Hồ bỗng dưng trở thành một thầy tụng “từ thiện”. Vì thế, mà Huế Hơn quyết gửi gắm tâm sự sau cùng cho thầy Sáu: “Chú Sáu à, tôi yếu lắm rồi, cho nên mới rán chạy xuống khẩn khoản nhờ chú giúp cho tôi việc nầy.” Huế Hơn nhìn Sáu Hồ như trăn trối: “Bề nào tôi cũng ra đi, bây giơ tôi biết chuyện thì đã muộn rồi. Ngày ấy, …chú cố gắng tụng dùm cho tôi ba ngày kinh, Được không chú?” Sáu Hồ cúi xuống lặng lẽ trong cơn xúc động. Xúc động vì biết anh Tư đã thức ngộ, và mùa xuân cuối cùng của anh Tư cũng sắp qua đi. Có lẽ anh ấy đã nhìn được loáng thoáng đâu đó ý nghĩa sự tồn vong của một kiếp người.

Hoàng Quy
Nguồn: Tác giả gửi

Đã đóng bình luận.