Phê bình văn học thế kỷ XX – Chương 14: Phê bình ý thức – Georges Poulet (1902-1991)

Posted: 12/11/2012 in Biên Khảo / Phê Bình, Thụy Khuê

Thụy Khuê

Đã đăng: [Phản xạ phê bình], Chương [1], [2], [3], [4], [5], [6], [7], [8], [9], [10], [11], [12], [13], [14]


Vase with oleanders and books – Vincent van Gogh

Georges Poulet sinh tại Chênée, thuộc tỉnh Liège, Bỉ, ngày 29/11/1902, và mất tại Bruxelles ngày 31/12/1991. Sau khi tốt nghiệp đại học Liège, ông giảng dạy tại nhiều đại học trên thế giới: Edimbourg, Baltimore (1952), Zurich (1956), Nice (1968). Georges Poulet coi Marcel Raymond như một người bạn, một người cha của trường phái ý thức. Khi được nhận chức giáo sư danh dự tại đại học Genève, trong thư viết cho Raymond, có câu: “Đúng là tôi thấy mình có liên hệ chặt chẽ với đại học Genève, vì đó là trường của anh, nhờ anh (…) mà một trường phái phê bình đã phát sinh tại đây, và có thể nói, mỗi ngày tôi đều cảm thấy mình hân hạnh và sung sướng đã có phần đóng góp”. (Marcel Raymond – Georges Poulet, Correspondance (1950-1977), Corti, 1981).

Georges Poulet được coi là cha đẻ của nền phê bình mới.

Từ bộ Études sur le temps humainNghiên cứu thời gian của con người (1950-1968, gồm 4 tập, đến bộ La pensée intermédiaire – Tư tưởng trung gian (1985-1989, 3 tập), Poulet đã viết trên 20 tác phẩm, bao quát lãnh vực rộng lớn của văn chương. Địa bàn hoạt động của ông không kém gì Sainte-Beuve trong thế kỷ XIX.

Cuốn Etudes sur le temps humain, tập I, in năm 1950, khởi hành sự nghiệp của Poulet, được giới phê bình nồng nhiệt đón nhận như một biến cố mới lạ. Người thì để ý đến khía cạnh thời gian trong văn chương, được đưa ra lần đầu tiên, người lại chú ý đến khía cạnh triết học và hiện sinh. Nguồn ánh sáng mới chiếu vào Racine, Diderot, Rousseau, Flaubert, … ở đây không hề vay mượn người đi trước, mà xuất phát từ một cá thể (phê bình) đã lần từng khoảnh khắc để khám phá một cách sâu sắc một cá thể khác (nhà văn), cha đẻ của tác phẩm.

Poulet chứng minh rằng quá khứ không hề cắt đứt với hiện tại mà nằm trong hiện tại: qua André Gide người đọc thấy lại Montaigne, Diderot báo trước Bergson… Poulet khám phá ra đằng sau cái khách quan của tác phẩm, tác giả luôn luôn tìm đến cái bên trong của con người và thấy nó trong hành động sáng tạo.

Trong Etudes sur le temps humain, tập II, hay La distance intérieure – Khoảng cách nội tại, in năm 1952, Poulet tiếp tục khảo sát các nhà văn từ một chiều kích khác mà ông gọi là khoảng cách nội tại. Đâylà một thứ không gian vừa trung tâm vừa dìa ngoài của tư tưởng. Một loại khoảng cách từ ta tới ta. Poulet giải thích: tư tưởng của tôi là một không gian có những ý tưởng của tôi; những ý tưởng này đến rồi đi, có cái biến mất. Vậy tư tưởng của tôi không chỉ là tổng cộng những ý tưởng mà còn bao gồm toàn thể các khoảng cách nội tại chia rẽ các ý tưởng ấy hoặc nối liền chúng lại với nhau. Áp dụng vào nhà văn, cái mà Poulet gọi là “khoảng cách nội tại” chính là khoảng cách giữa tư duy sáng tạo với cuộc đời thoát thai từ sáng tạo.

Trong Etudes sur le temps humain, tập III, in năm 1964, hay Le point de départ – Điểm xuất phát, Poulet tìm điểm xuất phát, trách nhiệm văn cách của 9 tác gia hiện đại: Whitman, Bernanos, Char, Supervielle, Éluard, Perse, Reverdy, Ungaretty, Sartre. Điểm xuất phát này sẽ được ông xác định là cái Cogito của nhà văn.

Trong Etudes sur le temps humain, tập IV, hay Mesure de l’instantĐo khoảnh khắc, in năm 1968, Poulet đề nghị: “Phải sáng chế ra một “đơn vị khoảnh khắc” vì chiều kích của khoảnh khắc luôn luôn thay đổi”. Theo ông, khoảnh khắc đu đưa giữa cái không và cái có, nó có thể co lại thành một điểm hay dãn ra đến vô cùng. Khoảnh khắc sẽ trở thành yếu tố thứ nhì sau cogito, trong hành trình của nhà văn. Poulet viết: “Đơn vị khoảnh khắc đi từ cái không đến cái toàn thể, từ cực co đến cực dãn. Giống như trong dạng thức sinh vật học của sự phân liệt, khoảnh khắc có thể tự đơm đầy và cũng có thể, vì mật độ quá lớn, tự bùng vỡ, sinh ra một quần thể đồng loại; trong một lúc nó vừa là nó, lại vừa là cái khác; đang là hiện tại, mà đã tương lai. Phải chăng đó là khoảnh khắc của Proust -trái ngược với những gì mà ta tưởng- phân chia cái bây giờ và cái mai sau, trong một khoảnh khắc đang bắt đầu và đã chấm dứt.  Proust gọi đó là một khoảnh khắc nhân đôi, ở giữa thời gian. Và phải chăng đó cũng là trường hợp của khoảnh khắc hạnh phúc (và bất hạnh) ở Julien Green, luôn luôn đặt ở đầu một thời đoạn và chấm dứt ở ngưỡng cửa một thời đoạn vừa mới bắt đầu? Khoảng khắc biểu dương cái hữu hạn và cái vô hạn. Ai biết làm sao sáng chế ra được một đơn vị khoảnh khắc?” (Avant-propos, trang 12-13).

Nhưng tác phẩm tổng quát và đúc kết phê bình ý thức là cuốn La conscience critique – Ý thức phê bình, in năm 1971.

Đầu tiên hết, ông định nghiã phê bình ý thức là sự đồng quy của hai ý thức: ý thức người viết ý thức người đọc. Sau đó, ông khoanh tròn địa hạt phê bình ý thức: Phê bình ý thức, hiểu theo nghiã rộng, bao gồm tất cả những hướng phê bình tìm cách khảo sát thực thể viết và thực thể đọc như hai hiện tượng, hoặc dính chùm, hoặc tách rời. Tất cả những cách tìm tòi đi sâu vào khía cạnh viết và đọc, trở thành đối tượng của phê bình ý thức.

Phê bình ý thức, theo Poulet, không phải bây giờ mới có mà đã xuất hiện từ thời lãng mạn: ở Đức trong phê bình lãng mạn và tiền lãng mạn của Bodmer và anh em Schelgel. Ở Anh với Coleridge, Hazlitt. Tại Pháp với Mme de Staël (1766-1817). Theo ông, ý thức phê bình của bà de Staël, bắt nguồn từ ý thức thán phục (admiration), tức là một tình cảm rất riêng tư kết nối người viết với người đọc: đặc biệt là sự thán phục J.J.Rousseau. Những thán phục, ca ngợi của bà về tác giả này hay tác giả kia, đối với chúng ta ngày nay, có thể là ngây thơ, lỗi thời, nhưng điểm cốt yếu là sự thán phục ấy đã dẫn bà đắm mình trong tác phẩm. Bà thán phục và ca tụng cái mà bà đã khám phá ra ở người khác, cái ấy đã thấm sâu vào tâm hồn bà và nó trở thành một nhận thức, một hiện hữu.

Đến đây, Georges Poulet đưa ra khái niệm Cogito, khái niệm đầu tiên và cũng là nòng cốt của ông về phê bình, ông viết: “Như thế, điểm đầu tiên hiện ra, ngay trang nhất, trong tác phẩm của de Staël, có thể gọi là cái Cogito phê bình. Không phải: “Tôi phán đoán, vậy tôi hiện hữu (non pas je juge, donc je suis), bởi đây không phải là sự phán đoán thuần lý, mà là “tôi thán phục, vậy tôi hiện hữu” (j’admire, donc je suis) nghĩa là tôi tự khám phá ra tôi trong tình cảm thán phục (người khác) mà tôi cảm nhận được” (La conscience critique, trang 16).

Từ nay Cogito trở thành yếu tố chính trong phê bình của Georges Poulet.

Xin nhắc lại: chữ Cogito lấy từ công thức nổi tiếng của Descartes: cogito, ergo sum (je pense, donc je suis – tôi suy tư, vậy tôi hiện hữu), ngụ ý: tôi không chắc điều gì hết, nhưng tôi biết chắc là có tôi bởi vì tôi đang suy nghĩ. Hành động suy nghĩ xác định sự có mặt của tôi.

Poulet thay mệnh đề “je pense, donc je suis” của Descartes bằng mệnh đề: “j’admire, donc je suis” (tôi thán phục, vậy tôi hiện hữu) để áp dụng cho bà de Staël: Tôi thán phục tác phẩm mà tôi đang đọc, điều đó chứng tỏ tôi đang sống, tôi đang có mặt ở đây, vậy tôi hiện hữu. Hành động đọc, hành động phê bình của bà de Staël, theo Poulet, là hành động tiên khởi, là kinh nghiệm đầu tiên về ý thức phê bình như một ý thức về sự hiện hữu.

Ông viết tiếp: “Đó là phê bình của de Staël, một lối phê bình ích kỷ nhất và vô vụ lợi nhất, đưa đến sự tìm biết sâu xa chính mình, trong say đắm, đem cái tôi của mình hoà nhập với cái tôi của người khác. Phê bình của bà de Staël chính là sự tác hợp giữa thiên tài phê bình và thiên tài nhà văn. Nó đặt nền móng cho một tư thế tương đồng giữa bản thể của mình và bản thể của kẻ mà mình thán phục” (La conscience critique, trang 16).

Khái niệm thứ nhì trong phê bình của Poulet là sự thấu minh (transparence), hay sự thông suốt, giữa người viết và người đọc.

Ông viết: “Theo đuổi huyền thoại Rousseau (và Julie), Mme de Staël mơ đến một tình trạng thông suốt lẫn nhau (transparence réciproque) giữa những thực thể: chồng vợ, bạn bè, người yêu, tác giả, độc giả, cùng có với nhau sự giao hưởng tâm hồn trong động tác yêu thương. Và đó là hạnh phúc (…) Sự hoà hợp giữa những tâm hồn qua văn chương cũng giống như một cuộc hôn nhân hạnh phúc” (trang 17-18)

Ông cho rằng bà de Staël là một trong những tâm hồn đầu tiên ở Âu Châu đã cảm thấu và làm cho người khác thấu cảm nỗi buồn trong thơ; và nếu bà là người đã thấu cảm được nỗi buồn trong thơ người khác thì bà cũng sẽ là người đầu tiên thấu cảm được nỗi đau của chính mình. Poulet viết tiếp: “Thực thể nào ý thức được nỗi đau của mình – những nỗi đau- thì cũng ý thức được chiều sâu của mỗi hạn kỳ đau đớn, ý thức được chúng nối tiếp nhau, hết khúc đoạn này đến khúc đoạn khác, tạo thành dây xích dài nối hiện hữu với định mệnh” (trang 20).

Và ông nhấn mạnh thêm một lần nữa về sự thấu minh tương cảm: “Hiểu một tư tưởng mà mình yêu thích, một tác phẩm mà mình đã tha thiết khâm phục, không chỉ là gắn bó vào những nổi trôi biến động mà tác phẩm mang lại, mà còn phải làm hiện ra trong tư tưởng của mình, sự bội phân những nổi trôi biến động đó như một toàn bộ nhất quán. Một cái nhất quán có hai nghiã, bởi vì nó vừa là cái nhất quán trong ý thức của người viết mở ra cho mình khi mình cầm cuốn sách lên đọc, vừa là cái nhất quán trong ý thức của mình với những cảm thức khác nhau, khi mình lặn vào tác phẩm của người khác” (trang 21).

Vấn đề thứ ba trong phê bình ý thức, theo Poulet là vai trò của trí nhớ, quá khứ kỷ niệm: “Hiểu một tiểu thuyết gia, một nhà thơ, một nghệ sĩ, một triết gia, có nghiã là nối vào cái tôi hôm nay của mình, để nó ghi lại trong trí nhớ, trước tiên những kinh nghiệm sống của một người khác được chuyển tải đến mình, và thứ đến là những kinh nghiệm mà sự chuyển tải này sinh ra hoặc gợi lại trong ta” (trang 21).

Như vậy, trí nhớ là một trong những yếu tố chủ chốt: Trí nhớ khắc ghi những gì xẩy ra khi ta đang đọc và trí nhớ còn tồn ghi những gì ta đã đọc trong quá khứ, và quá khứ đi đôi với kỷ niệm. Ông viết: “Tóm lại, để thấu triệt một tác giả, chỉ biết tác giả thôi thì chưa đủ, mà còn phải tự biết mình, biết soi mình trong tác giả đó, phải lần đi lần lại, từng giai đoạn, tìm thấy toàn bộ những cảm thức mà tác giả đem lại cho ta. Việc biết một tác giả không chỉ ngừng lại ở sự thán phục riêng tư tác giả đó, mà còn phải nhờ kỷ niệm, dẫn ta tìm lại những chuỗi cảm thức khác nhau đã đến với mình suốt hành trình đọc trong quá khứ “ (trang 21).

Theo Poulet, bà de Staël đã nhìn thấy mối tương quan này khi bà viết: “Người Hy Lạp sống với tương lai, người La Mã, giống chúng ta, có cái nhìn về quá khứ”. Bà còn viết: “Tuy người Hy Lạp vinh danh người chết… nhưng sự u uẩn, những nuối tiếc mẫn cảm lâu dài không có trong bản chất của họ, mà “những chuỗi dài kỷ niệm” lại được tàng trữ trong trong tim người phụ nữ” (trang 23-24).

Poulet nhận định tiếp: “Một cách đọc mới vừa xuất hiện. Người phê bình không còn đứng ngoài để phê phán một tác phẩm, như một đối tượng khách quan nữa, mà nhà phê bình sẽ phải hoà mình vào tác phẩm, góp phần vào chuyển động chủ quan mà tác phẩm biểu lộ và chuyển tải” (trang 23).

Trở lại vai trò tiên phong của bà de Staël, Poulet viết: “Bà de Staël có thể là nhà phê bình đầu tiên đã có cái ý tưởng lớn và mới này trong văn học, là phát lộ con người bên trong, làm nó hiện lại trong ý thức phê bình với những nét đặc trưng của nó trong chiều dầy quá khứ. Một nền văn chương không có quá khứ, không có kỷ niệm, theo bà de Staël, không phải là văn chương đích thực” (trang 23).

Vấn đề thứ tư trong phê bình Poulet là vai trò quan trọng của thời gian và khoảnh khắc.  Ông viết: “Nhờ ký ức qua những khoảnh khắc khác nhau của một đoạn đời, mà tôi phân biệt được tình cảm khâm phục của tôi đối với một tác giả. Tôi ý thức được tôi, trong dòng lịch sử, trên cái nền kính bái những điều đáng khâm phục. (…) Tôi không chỉ là một kẻ, qua dòng thời gian, thấy mình đã ý thức được tác phẩm này hay tác phẩm khác. Mà tôi còn là kẻ, đã nắm bắt được tác phẩm như sự biểu hiện ý thức của một kẻ khác, cũng đang đi như tôi trong dòng thời gian” (trang 22).

Tóm lại, có thể nói: cogito, thấu minh, ký ức, khoảnh khắc là những yếu tố chính trong phê bình Georges Poulet.

Trong bài viết về Baudelaire (1821-1867) mà ông coi là người kế nghiệp de Staël trong dòng phê bình ý thức, Poulet nhận định: “Baudelaire là một người bị ý thức bản thân ám ảnh. Đối với Baudelaire, trò chiếu gương, tức là đem hình ảnh chính bản thân mình ra trình bày với mình, được nhân lên đến độ chóng mặt, như một thể nghiệm chết chóc ma quái. Cái ý thức về mình ở Baudelaire là “ý thức tội lỗi”. Vì vậy sự hoà mình trong tư tưởng người khác đối với ông, phải được hiểu như một sự cắt đứt cái vòng địa ngục ấy, như một hành động giải thoát. Cho nên, nếu nhà thơ dạo trong công chúng, tiếp xúc với ý thức phát tán của công chúng cũng chỉ là để gỡ bỏ cái ý thức bản thân, luôn luôn ám ảnh mình. Sự quên mình đối với Baudelaire có một giá trị vừa đạo đức vừa trị liệu” (trang 29).

Với Marcel Proust, người thứ ba mà Poulet xếp vào hàng tiên phong trong phê bình ý thức, Poulet viết: ” Qua cuốn Contre Sainte-Beuve – Chống Sainte-Beuve, chúng ta được biết tiểu thuyết của Proust bắt nguồn từ một dự trình nghiên cứu văn học. Sự tìm kiếm không ngừng khoảng thời gian đã mất, với những nhân vật, những luận đề, những cảnh sắc, với vô vàn biến thiên tâm lý, tất cả những thứ đó, bây giờ chúng ta mới biết là chúng khởi đi- như Combray trong chén trà- từ một suy nghĩ về phê bình. Cũng như câu chuyện của nhân vật chính, một người trẻ tuổi cảm thấy mình có thiên bẩm nhà văn, tự hỏi phải làm sao để hoàn thành tác phẩm mà anh mơ ước, như thế cuốn “Chống Sainte-Beuve” là ý thức của một nhà phê bình tương lai, về những gì mà anh ta cho là phương pháp phê bình hay nhất. (…) Nói cách khác, Proust, trước khi có hành động sáng tạo, đã có một suy nghĩ về sáng tạo, về cái gì hình thành nên sáng tạo, về nguồn gốc, về bản chất, và cứu cánh của sáng tạo” (trang 49).

Câu chót trong đoạn Poulet nhận xét trên đây về Proust, rất đáng cho những người sáng tác lưu ý. Bởi nó đưa người viết trở về khởi điểm của sáng tạo: phải khám phá ra hành động viết, trước khi bắt tay vào việc viết. Nói gọn, phải hiểu viết là gì trước khi viết văn. Chưa hết, Poulet viết tiếp: “Hành động viết đòi hỏi một sự khám phá văn chương trước và sự khám phá này dựa trên một hành động khác, đó là hành động đọc (…) Marcel Proust là một người đọc, một người phê bình, trước khi sáng tác (…) Hành động phê bình, ở Proust, không phải là thứ nhì mà là thứ nhất, nó là bước đầu tiên của tư tưởng, trước khi phiêu lưu trong một lãnh vực lớn, phải vượt qua bước đầu quyết định (…) Cùng thời điểm với Mallarmé, và trước Du Bos, trước Sartre, Marcel Proust là một trong những người đã đặt câu hỏi chủ yếu: Văn chương là gì?” (trang 50).

Nhưng theo Poulet: “Người thầy đích thực của phê bình hiện đại là Montaigne (…) Montaigne là người đầu tiên có ý tìm trong tư tưởng người khác một vật thể mà ông có thể nhắm tới và đạt được. Có thể nói phê bình ngày nay bắt chước đường lối ấy. Nó tìm cách “soi gương đời mình trong đời người khác”, nó “lẻn vào” những cuộc đời xa lạ bằng trí tưởng tượng” (trang 301).

Phải tìm đến những dòng gần cuối sách, mới thấy cái Cogito của Georges Poulet:

“Tôi đã đọc các triết gia, nhất là những tác giả suy nghĩ đến ý nghĩa của chữ Cogito. Hầu hết các triết gia hiện đại, từ Montaigne đến Husserl đều xây dựng một nền suy tưởng dựa trên ý thức (…) Họ luôn luôn mô tả điểm khởi đầu của lý luận, bằng một động tác bất di bất dịch: tâm trí nổi lên từ khoảng trống để có ngay trực giác tức khắc về mình. Như vậy, mỗi suy nghĩ triết học đối với tôi hình như đều xuất phát từ giây phút ấy, giây phút đầu tiên của ý thức, tức là lúc mà cái tôi -và qua cái tôi, thế giới- hiện ra.

Sự vận hành, mà tư tưởng mô tả như thế, dường như mỗi lần, đều có một điểm đi và một điểm đến, và tư tưởng- trong khi di chuyển giữa hai điểm đó- được thành hình. Nhưng điều đáng chú ý là sự vận hành tinh thần này, không chỉ dành riêng cho triết học. Mà tất cả mọi loại văn bản: tiểu luận, tiểu thuyết, thơ, đều có điểm khởi hành như thế; tất cả mọi phát ngôn có tổ chức đều nẩy sinh từ cái ý thức ban đầu để tiến đến những điểm tới. Như vậy, không có sự khác biệt sâu xa giữa một văn bản văn chương và văn bản triết học. Văn chương có thể là triết học và triết học có thể là văn chương; và bất cứ ở trang nào tôi đang đọc, tôi cũng thấy ở mỗi dòng cái hành trình tư tưởng ấy, ngay từ đầu.

Làm sao mà tôi đã bỏ qua điểm tối quan trọng này? Tác phẩm luôn luôn bắt đầu bằng một sự Cogito hoá (cogitation), và phê bình lấy tác phẩm làm đối tượng nghiên cứu, cũng phải có một khởi điểm như thế. Trước đây, tôi cứ tưởng nhà văn thả mình trong dòng hỗn loạn của đời sống tâm linh. Bây giờ tôi mới hiểu rằng, phẩm chất cơ bản của nhà văn là trong mỗi khoảnh khắc phải đi đến tận cùng nhiệm vụ của mình, tức là đi lại từ đầu, từ con số không, và phía nhà phê bình cũng vậy, cũng phải đi từ con số không, tức là phải biết xoá mình đi, ngay từ đầu.

Vậy có thể nói mà không sợ sai rằng: nhà văn bắt đầu bằng sự xây dựng cái Cogito của mình và nhà phê bình tìm thấy điểm khởi hành trên cái Cogito của người khác (…) Tất cả bắt đầu từ: Je pense, je suis- Tôi suy tư, tôi hiện hữu.

Với tôi, sự khám phá này quan trọng vô cùng: Phê bình là sự nhái lại hai lần một hành động tư tưởng. Nó không tùy thuộc vào cái cao hứng thất thường. Việc bắt đầu lại từ trong sâu thẳm của mình, cái Cogito của một nhà văn hay một triết gia, tức là phải tìm lại cách cảm giác và cách suy nghĩ của họ, tìm hiểu cách ấy đã phát sinh và hình thành như thế nào, đã gặp những trở ngại gì, việc ấy cũng là khám phá lại ý nghĩa một cuộc đời đã được xây dựng nên từ ý thức rút ra ở chính cuộc đời đó” (sđd, trang 307).

Để kết luận, chúng ta có thể nói rằng, trong cuốn La conscience critique, Georges Poulet đã lấy ý thức phê bình của mình chiếu vào ý thức phê bình của người khác để tạo ra tác phẩm, một tác phẩm có chủ đích phê bình các nhà phê bình. Văn bản phê bình, dưới ngòi bút của Poulet, trở thành tấm gương hội tụ và phản ảnh văn chương, và nó có thể bội phân nhiều lần, mỗi lần nẩy sinh một tác phẩm mới. Ông trình bày gần 20 quan điểm phê bình khác nhau, từ bà De Staël, Baudelaire, Marcel Proust, Marcel Raymond, Gaston Bachelard… đến Jean-Paul Sartre, Roland Barthes, mỗi người có một ý thức phê bình khác nhau, đôi khi hoàn toàn đối lập nhau: phê bình Bachelard dựa trên tưởng tượng, không màng đến ý thức. Sartre chối bỏ hoàn toàn lập luận: phê bình là nhập vào bên trong ý thức của người khác, bởi theo ông ý thức chẳng có bên trong bên ngoài, và có muốn nhập vào cũng bị đẩy ra. Với tác giả nào, Poulet cũng gắng tìm cho được cái Cogito của họ. Poulet tìm ra cái Cogito của người khác đồng thời xác định cái Cogito của chính mình. Như thế phê bình ý thức là sự hoà tan giữa triết học và văn chương, trên con đường truy tìm Cogito, hay tư tưởng chủ yếu dựa trên ý thức của người viết. Một định nghiã như thế có thể bao trùm lên hầu hết các nhà phê bình đi theo hướng mới trong nửa sau thế kỷ XX.

Trường phái phê bình ý thức đã làm được hai việc cơ bản: Thứ nhất, đẩy lùi ảnh hưởng của nền phê bình thực nghiệm, dựa trên triết học thực nghiệm của Auguste Comte (1798-1857) đã chi phối đời sống văn học trong thế kỷ XIX, mà đại diện tầm vóc nhất là Sainte-Beuve. Điểm thứ nhì: Trở về với triết học Descartes (1586-1650), tìm lại sự thực đầu tiên: Cogito, Je pense, donc je suis – Tôi suy tư, vậy tôi hiện hữu. Việc khám phá sự hiện hữu của tôi là biểu hiệu đúng nhất của sự “biết chắc”, nó mang tính cách tuyệt đối hiển nhiên, và cho phép ta, đi đến một hiện hữu hiển nhiên khác, hiện hữu phê bình: tôi thán phục, vậy tôi hiện hữu. Và từ đó, mở rộng con đường ý thức trong địa hạt phê bình. Cogito là ý thức tiên thiên, là sự thực tiên khởi và hiển nhiên không còn nghi ngờ gì nữa. Georges Poulet đã đặt cái cogito đó, làm nền cho tư tưởng phê bình của mình cũng là điều dể hiểu, và phê bình ý thức trở thành ý thức nền tảng của phê bình mới, trước khi bước qua một phong cách khác, dựa trên ký hiệu học, phong cách này sẽ phát triển mạnh trong nửa sau thế kỷ XX.

© Copyright Thụy Khuê [http://thuykhue.free.fr]
Nguồn: Tác giả gửi


Mời đọc tiếp: Phê bình văn học thế kỷ XX – Chương 15: Phê bình văn học Pháp – Jean Paul Sartre (1905-1980)

Đã đóng bình luận.