Phạm Trích Tiên, rượu người và cảnh vật

Posted: 04/12/2012 in Ngô Nguyên Nghiễm, Tùy Bút / Tản Mạn / Ký Sự
Thẻ:

Ngô Nguyên Nghiễm

pham_trich_tien
Nhà thơ Phạm Trích Tiên

Điển cố ngày xưa thường ghi lại những cuộc gặp gỡ tri giao, lắm lúc do định số an bài, giữa những người tâm đắc sơ ngộ với nhau. Không có phút giây hẹn trước, đột nhiên tiếng đàn réo rắc âm ba trên một phiến đá bên sườn đồi vắng lặng. Đàn chim thu không bỗng chợt im ắng tiếng hót, cho không gian dịu vơi cung bậc thăng trầm của người thượng trí, được loang tỏa ngan ngát với thiên địa. Bá nha đâu nghĩ rằng khoảng cách của một rừng cây dại hoang sơ, mà trong cuộc viễn du công vụ, đã dừng chân bên dốc đá, ngơ ngẩn giữa vài cánh lá rơi, và tiếng chim thu không còn quây quần dưới sắc ấm của chiếc ráng chiều nơi cố xứ. Âm thanh của nhạc khúc thấm đẫm sự nhung nhớ ly hương, như nước chảy mây trôi, đánh thức một Tử Kỳ vong niên, rúng động châu thân, vắt vai lưỡi búa tiều phu tìm về cội gió thanh ba đơn sắc dội xuống lòng người trong khói hoàng hôn lỗ đỗ sa. Người xưa đã vậy, huống hồ hiện đại thế nhân, cũng nhiều phen rong duỗi giữa chợ đời, áo lạnh phong trần còn chờ người tri kỷ, mà đời chỉ cần một cảm thông để dài hơi cho vó ngựa đạp cầu sương…

Quả thật, tôi cũng từng chứng kiến nhiều sự tri ngộ của bằng hữu thâm giao, có những dẫn nối thật bất ngờ trên một trực giác , tự nhiên phải đến và tự nhiên phải thâm giao. Năm 1970, lúc còn bề bộn với bao công việc của tờ tạp chí Khai Phá, anh em văn nghệ phần đông thường xuyên liên lạc và hỗ trợ nhau cho tiếng nói văn học nghệ thuật miền Nam này được hanh thông trong lòng báo chí đương thời. Không nhớ lại khoảng thời gian nào của năm này, trong số thư từ bài vở gởi về, tôi bỗng nhiên chú ý đến một bao thơ với kích thước khá to nổi bật giữa hàng trăm thư tín khác. Dĩ nhiên, tò mò nên được khai phát trước tiên, thì ra đó là một tập thơ in roneo, của một nhà thơ ở Tân An, cách thành phố hơn 50 km. Thi tập Tráng sĩ ca , giản dị như nét bút phóng khoáng bay nhảy trên bì thư. Chữ viết của Phạm Trích Tiên khá đẹp, nhưng có phần phóng túng, có tư hướng bất cần.

Ngoài Tráng sĩ ca có ghi đề tặng , tuyệt nhiên không có dòng chữ nào để ít nhất báo hiệu một sự trao đổi cẩn mật và thân tình của những người làm văn nghệ với nhau. Lúc đó, trên các báo chí ngày trước ở miền Nam, phần đông anh em làm thơ, viết văn có được bài vở giới thiệu, thì sự giới thiệu sẽ rất trang trọng, và hầu như lập tức, bạn bè bốn phương đều biết bút danh. Cái hay khi xưa, đâu cần gặp mặt nhưng tên tuổi của bằng hữu đã như được ấn chứng trên các tạp chí văn chương là một tiền đề bất di bất dịch, để có dịp xưng tên là như thân nhau ngàn đời. Phạm Trích Tiên không nằm trong diện có thơ giới thiệu thường xuyên ở trong các trang văn nghệ báo chí. Phải chăng như thơ anh sự khoáng đạt giữa thơ và rượu, có một quan điểm về thi ca bàng quan với sự thế đã khiến anh bất cần trình diện thân sơ. Lúc đầu , sau khi đọc Tráng sĩ ca tôi cũng có ý niệm ơ hờ với những anh chàng kiêu bạt, dù rằng, trong thi tập có nhiều bài thơ tuyệt diệu cũng đủ chứng tỏ chàng ta là một hảo hán giang hồ, thừa công lực trên trận đồ thi ca. Có lẽ đến ngày nay cũng thế, mỗi người văn nghệ hầu như có lúc bao bọc quanh mình một lớp vỏ kiêu kỳ, đứng riêng một khung trời như một vì sao Bắc Đẩu…Cái nghiệp tư duy như vậy, đã có phen khiến tác phẩm vướng mắc trong ngõ tối hoang dại,  làm sao có được giây phút thanh thoát trong  một bầu  trời phiêu lãng mênh mông.

Chuyện phải đến, khi anh Cao Thoại Châu từ Tân An lên Sài Gòn  ghé thăm tôi, sau giây phút trà dư, Cao Thoại Châu rủ tôi qua thăm Phan Lạc Giang Đông, lúc này Phan Lạc Giang Đông đang cư trú trên một con hẻm nhỏ vừa vặn một người đi, ở đường Lê Văn Duyệt gần ngả ba Ông Tạ. Điều cần nói thêm, tôi có dịp tiếp xúc với Cao Thoại Châu từ những năm 1964, lúc anh về dạy văn tại trường Trung học đệ nhị cấp Thủ Khoa Nghĩa, Châu Đốc. Ngày anh đến dạy, là lúc tôi đã về Sài Gòn học tiếp tục tại một trường đại học. Tuy nhiên, mỗi lần về phố núi quê nhà, tôi đều cùng Mặc Lan Hoài, Hoài Ziang Duy, Hoài Lan Vân, Hàn Thanh, Nguyễn Minh Thanh…ghé thăm Cao Thoại Châu đang trú ngụ trên lầu 1 góc đường Trưng Nữ Vương-Bạch Đằng, chỉ cách nhà song thân tôi khoảng 30m. Lúc đó dù nhà thơ Cao Thoại Châu chưa có dịp xuất hiện ở các tạp chí nhưng anh đã là một cự phách với nhiều bài thơ tuyệt vời, mà đến khoảng năm 1966, khi Mai Thảo chủ trương tuần báo Nghệ Thuật, một loạt các tài hoa bộc phát dữ dội, đem sinh khí kỳ diệu cho văn nghệ miền Nam lúc đó như Cung Tích Biền, Cao Thoại Châu, Sơ Dạ Hương, Trần Tuấn Kiệt, Huỳnh Phan Anh…

Ngày trở lại Long An dạy học, Cao Thoại Châu dặn dò tôi thỉnh thoảng sắp xếp ghé chơi, anh em sẽ nhiều dịp đàm đạo. Tôi nghĩ đó cũng là một ý kiến hay , vì sẽ gặp lại các bạn bè ở Tân An, như nỗi khao khát chào đón các vì sao văn khúc, bàng bạc những vùng đất mình sẽ trôi qua. Cách tuần, có dịp Vũ Hữu Định từ Đà Nẵng du ngoạn về phương Nam, anh trôi dạt như một cụm lục bình ngan ngát vẻ đẹp quê hương. Tôi chợt nghĩ sao không rủ Vũ Hữu Định làm một chuyến du hành về miền sông nước quê ta. Vũ Hữu Định khi vào Sài Gòn , anh thố lộ đang chạy trốn một định mệnh khe khắt mà một phần tử phiêu bạc như anh phải lăng ba vi bộ dọc xương sườn đồi núi miền Trung từ Đà Nẵng, xuyên Pleiku, Kontum, Qui Nhơn, Tuy  Hoà, Phan Rang, Phan Thiết…Cái tuyệt vời của Vũ Hữu Định là tính toán nước đi, không bao giờ có một phen sơ suất với bao nhiêu sự bố ráp quanh đường.  Leo lách với chiếc túi trống không, nhiều khi uống nước lã, và phải tạt ngang một đồng điệu văn nghệ ở mọi nơi để tạm ẩn trong cuộc phiêu hành kỳ thú. Vũ Hữu Định ghé trú ngụ tại tệ xá, và đúng dịp hẹn với Cao Thoại Châu, tôi cùng anh cưỡi Honda 67 làm một cuộc hành trình. Đi Honda là đi để dễ leo lách trong từng con hẻm, tránh không được đụng độ một cuộc tra xét nào, có thể bất lợi cho Vũ Hữu Định. Cao Thoại Châu cũng lẩn thẩn hay vì bận dạy học, nên hai chúng tôi phải rảo bước lang thang suốt buổi trưa hè khô nắng. Bất chợt, nhớ đến Phạm Trích Tiên , tôi  đề nghị Vũ Hữu Định đi tìm theo địa chỉ phong bì mà tôi  đã giữ lại trong ví da. Quả nhiên, cái đến thì không tới được, cái giữa dòng bỗng đưa đẩy phiêu du như một định số. Tay bắt mặt mừng, cái anh chàng thơ lêu khêu hướng dẫn cả bọn đến một tửu lầu, chiêm nghiệm tình thơ bên rượu thịt cạn chén can qua, hào sảng.

Giữa cơn đối ẩm, Vũ Hữu Định chợt nhớ một người nghĩa mẫu thân thương lúc anh lưu lạc khoảng 10 tuổi vào Mỹ Tho. Phạm Trích Tiên cười sảng khoái khi nghe Vũ Hữu Định băn khoăn thố lộ,  thì ra đó lại là cô ruột của Phạm Trích Tiên … Trời đất xoay vần, đến chiếc lông vũ cũng không bay lọt thoát, mọi sự đã an bày…

Năm 1974, cả một thời gian 2 năm đằng đẵng sự lui tới giao tiếp và trợ lực của Phạm Trích Tiên cho NXB Khai Phá, với nhiều sự cực nhọc oằn vai, nhưng anh vẫn điềm nhiên gánh vác. Một mặt đại diện tại Long An cho tờ báo xuất bản, một mặt Phạm Trích Tiên cũng góp phần chia sớt khó khăn mệt nhọc của ban chủ trương, đằng đẵng công việc gian khó bao quanh. Khoang tháng 9/1974, Phạm Trích Tiên quyết định gom góp tài chánh ra mắt thi phẩm Rượu người và cảnh vật , in tại ấn quán Phúc Hưng của nhà văn Viên Linh. Tập thơ ra mắt trong bối cảnh chiến tranh khốc liệt , nhưng được người đọc đón nhận thật  nồng nhiệt. Rượu người và cảnh vật được nhận định của báo chí và giới thưởng ngoạn là một tác phẩm xuất sắc, tài hoa, có một khuynh hướng thi ca lạ lẫm, điệu nghệ vượt bậc.

Thơ Phạm Trích Tiên gói ghém cả một đời lãng bạt, nhấn chìm trong mật ngọt thi ca. Tâm huyết chan hoà trong từng câu thơ, thỉnh thoảng bắt gặp từng hạt sương bay giữa một kiếp người “ngược xuôi áo rách giang hồ / vẫn sống hoài hoài tên lãng tử” mà có những giây phút chạnh lòng “bếp lửa nhà ai chiều có ấm / sao ta nghe lạnh rất bao la”. Cái cô đơn của một người thơ, phải chăng vẫn là cái tiền lệ vạn thuở của thi nhân. Sự suy ngẫm cùng cực giữa bao la hoàng hôn lỗ đỗ sa, khiến Phạm Trích Tiên có lúc về chốn cũ, bao nhiêu hưng phế mà nhớ hào khí người xưa, hồn thiêng phảng phất đuổi mây bay. Thơ Phạm Trích Tiên đầy rẫy những thi khúc hoài niệm, giữa phương nào trăng ngủ yên, nằm đêm chờ viễn khách, cho thơ ai kinh động trời thiên cổ,  mặc đoá phù vân vần thấp qua đầu.

Cái cổ phong trong khuynh hướng thi ca của Phạm Trích Tiên , lãng đãng đầy rẫy tình người, thân phận và sĩ khí của thế hệ lưu lạc thời thượng cổ. Nề nếp nho phong và lãng bạt của rượu và thơ, của khí thiêng và kiếm bạc, của giang hồ và phong vũ, đã vương mang suốt lộ trình thơ anh. Đưa đẩy Phạm Trích Tiên có lúc thực lúc mơ,lúc say, lúc tỉnh mà thần trí con người hình như đang bị gói trọn trong luân thường thời thế, giữa cha mẹ, giữa bằng hữu, giữa bản thân, và giữa trời đất…nên có lúc tiễn bạn bắt chước người xưa đưa tiễn bạn / chỉ mây đầu núi đó quê nhà. Có lúc mài kiếm dưới trăng muốn  chí cả lệch trời, lúc thì quay quắt lại hồn quê, bóng khói chiều sương, thầm gọi mẹ già còn mất chốn quê hương? Cái xáo trộn của cả một tâm thức, phiêu bạc từng giây phút không ngờ tới, tạo cho thơ Phạm Trích Tiên có một chiêu xuất lạ lùng, có -không, đầy biến dịch tang thương

Ngô Nguyên Nghiễm
Tháng giêng 2007
Nguồn: Tác giả gửi bài và tranh

Tiểu sử văn học

pham_trich_tien_2

Phạm Trích Tiên là tên họ thật của nhà thơ

Nguyên quán: Bến Tre. Anh sống đến 1975 tại Tân An , Long An . Nghề nghiệp: dạy học và chuyên ngành tài chánh.

Sinh năm Giáp Thân (1944) tại Quới Sơn-Bến Tre. Hiện anh đang sống và viết tại thư trang ở thị xã Gò Công

Thơ văn anh đăng nhiều trên các tạp chí trong và ngoài nứơc như: Khởi Hành, Thời Tập, Khai Phá…Và nhiều báo chí đương thời. Nhà văn Võ Phiến khi nhắc đến anh trong bài Xuân đến đọc thơ, Xuân báo Đời 1972 đã nhận định những ngày cuối năm bắt gặp một bài thơ thật “ngộ” khi ông giới thiêu ngày tháng ở Tân An của Phạm Trích Tiên mà ông gọi là “đây là vị trích tiên của chúng ta từ một đấng tiên nhân lạc cõi phàm trần…”

Từ năm 1970-1975 anh đại diện tạp chí xuất bản Khai Phá tại Long An – Mỹ Tho.

Tác phẩm đã xuất bản:

  • Tráng Sĩ Ca (thi phẩm, NXB Thuỷ Châu 1970)
  • Sầu Gởi Cho Ai (thi phẩm, NXB Thuỷ Châu 1972)
  • Rượu Người Và Cảnh Vật (thi phẩm, NXB Khai Phá 1974)

Tác phẩm in chung:

  • Trên 20 tập thơ cộng tác với bằng hữu

Tác phẩm sẽ in:

  • Bóng Khói Chiều Sương (thi phẩm)
  • Ngày Xưa Yêu Em (thi phẩm )
  • Cảnh Vật Qua Đêm (tập truyện)
  • Trong Cảnh Huống (tập truyện )
  • Tứ Tuyệt Ca (thi phẩm)

Khi thi tập Rượu Người Và Cảnh Vật của Phạm Trích Tiên được giới thiệu rộng rãi gần 20 tỉnh thành vào năm 1974, dư luận thật trân trọng khi đón nhận tâm huyết của một nhà thơ tỉnh lẻ miền Tây. NXB nhận được rất nhiều thư từ và ngân phiếu để đặt mua tập thơ này, kể cả những ý kiến phê bình thật thiện cảm. Phần đông, độc giả muốn biết nhà thơ, tên thật và nghề nghiệp ở đời thường. Cái vinh hạnh của một nghệ sĩ, là đón nhận cảm thông của người đọc, như tiếng đàn của Bá Nha và cái cảm thấu tinh tế của một Tử Kỳ. Quan hệ song phương giữa người viết và tha nhân, sẽ là một điều kỳ diệu cho nghệ thuật, được nuôi dưỡng bằng cái tâm xuyên suốt và sáng tạo, Phạm Trích Tiên thường ngẫu hứng làm thơ, nên tác phẩm của anh hầu như không đều đặn trong ngăn kéo tài liệu. Tuy nhiên, anh đến với thơ rất kỳ diệu và nhanh chóng, thấm nhập gần như tức khắc khi có một sự rung động, dù đang lang thang phiêu lãng trên bước đường phong vũ. Nhất là những bài thơ bất chợt, để bày tỏ trực tuyến giữa đường với những tình nghĩa bạn bè, vợ con, thầy trò…

Phạm Trích Tiên còn nhiều tác phẩm chưa thể ra  mắt đồng điệu, vì những trở ngại thường hằng bám víu gia đình. Gần như mấy mươi năm nay, Phạm Trích Tiên chỉ ấn hành tác phẩm chung với bằng hữu ở những tuyển tập thơ, trong nước có, ngoài nước có. Hy vọng các tác phẩm còn lưu trữ của anh, sẽ ra mắt một ngày gần đây…

Thơ Phạm Trích Tiên

Tây đô hành

Tây Đô Tây Đô có ta về
Nghìn dặm gian nan hề sá chi
Ta có đất trời trong túi rách
Đựng đầy ngày tháng cũ ngu mê
Tây Đô Tây Đô ta trở lại
Đỏ một dòng sông chiều không bay
Mấy năm ly tán đời không hợp
Ta về không ấn tín cầm tay
Thân hữu bạn bè ta nghênh đón
Như một ngày bái tổ vinh quy
Nghĩ thẹn mình một thời sĩ tử
Không bảng vàng áo gấm về quê
Mươi năm biệt xứ đi mê mải
Cơm áo làm cùn nhục chí trai
Giữa chợ đời ta say ngất ngưởng
Rượu thịt hề sầu hận khôn nguôi

Cố xứ một ngày ta trở lại
Cảnh cũ còn đây người xưa đâu?

Ngân hoa

Nửa cốc môi khô cười đắng họng
Em là ai phải gái Tầm Dương
Ta say chếnh choáng hồn bay mất
Vũ trụ hình như cũng loạn cuồng
Đất trích nghe tiếng đàn xé ruột
Bến sông sầu lòng trạnh niềm đau
Cùng chung cuộc trăm ngàn hệ luỵ
Ta cũng làm Tư Mã Giang Châu
Ta cười ta thét trong men rượu
Cao vút sầu lên ngất cả trời
Đời đó còn ai đâu tri kỷ
Ta xót xa một chút tình người
Trăng chếch sương mờ run nội cỏ
Tay loạn đường tơ nét ngọc ngà
Buông chén ta nhìn em thảng thốt
Ôi lòng ta bỗng nổi phong ba
Em im lặng thời gian đọng lại
Ta đê mê ảo giác dị thường
Ta chợt thấy đất trời nhỏ hẹp
Ta cùng em mở cuộc giao hoan
Tỉnh dậy và con đò đâu mất
Bến Tầm Dương còn lại mình ta
Trăm năm thương mãi đêm tình sử
Còn chút dư hương của gái hồ.
(1974)

Đã đóng bình luận.