Ru và nhà văn Kim Thúy

Posted: 20/03/2013 in Nguyễn Mạnh Trinh, Tùy Bút / Tản Văn / Ký Sự
Thẻ:

Nguyễn Mạnh Trinh

bia_ru-kim_thuy

Nhà văn Kim Thúy, một nhà văn Canada gốc Việt được chọn là một trong 5 tác giả tranh giải Giller Prize năm 2012 [1], một giải thưởng văn học uy tín nhất của Canada. Ban tổ chức công bố danh sách ngày 1 tháng 10 năm 2012 gồm 5 tác giả và 5 tác phẩm: Ru với Kim Thúy, Will Ferguson với tác phẩm Kinh Dị 419, Alix Ohlin với tác phẩm Inside, Nancy Richler với tác phẩm The Imposter Bride, Russell Wangersky với tác phẩm Whirl Away.

Tác phẩm Ru của Kim Thúy đã được độc giả Pháp ngữ của tỉnh bang Quebec, Canada và sau ở Pháp đón tiếp nồng hậu. Truyện được in và phổ biến ở Ý, Thụy Ðiển, Ðức và Tây Ban Nha và từ từ lan rộng trong nhiều cộng đồng những người nói tiếng Pháp trên thế giới. Một số nơi ở Âu Châu còn đưa tác phẩm này vào danh mục những sách dùng cho chương trình giáo dục ở trường học.

Cuối năm 2010, giải Governor General’s Literary Awards đã công bố 14 tác giả trong danh sách trúng giải của năm 2010. Danh sách này gồm những tác giả, dịch giả, với các tác phẩm Anh ngữ và Pháp ngữ về tiểu thuyết, thi ca, thoại kịch, biên khảo, sách về thiếu nhi và dịch thuật. Mười một người đã đoạt giải với tác phẩm đầu tay. Nhà văn Lý Kim Thúy, một tác giả gốc Việt Nam của “Ru” viết bằng Pháp ngữ, đã đoạt giải văn học này.

Giải văn học này mà những người nhận giải là những tác giả, dịch giả, nhà minh họa, người Canada có những công trình sáng tạo đặc sắc biểu lộ những tài năng nghệ thuật hiếm có. Giải thưởng này là một giới thiệu đến độc giả những tác phẩm mới có giá trị.

Trước đó, cuốn truyện này đã được nhận giải Lire-RTL của tạp chí văn học nổi tiếng Lire và hãng truyền thanh truyền hình LTR ở Pháp với ấn bản của nhà xuất bản Liana Levi. Tác phẩm này còn được dịch ra nhiều ngôn ngữ khác nhau tại nhiều quốc gia như Ý, Thụy Ðiển, Ðức, Tây Ban Nha… Riêng bản dịch sang Việt ngữ thì tác giả còn đang ngần ngại vì “khả năng thông hiểu Việt ngữ” của cô mặc dù cô nói tiếng Việt rất lưu loát.

kim_thuy
Nhà văn Kim Thúy

Trong bộ môn tiểu thuyết và tân truyện, tác giả nhận giải là Kim Thúy mà những giám khảo đã cho là một tiểu thuyết tự thuật gương mẫu. Ở đây không có những dấu hiệu che dấu của lòng khoe khoang tốt đẹp của mình hoặc sự tự thương thân. Phần cốt lõi là những dữ kiện của sự sụp đổ chính quyền Nam Việt Nam được phác họa bằng những xúc động cá nhân trầm tĩnh từ những hiện thực hàng ngày của một người đàn bà đã tự tìm kiếm những nét đặc thù trong bất cứ một sự kiện nào. Một nhật ký đầy nét bi thảm mô tả bằng văn phong sắc bén, nhạy cảm, với giong nói của một người không hề muốn tô điểm nói thêm sự thực. Ðời sống tự nó đã sức hấp dẫn dù có khi là những mẫu chân dung quen thuộc của những cuộc đổi thay. Viết với tâm cảm thành thực, tác giả của Ru đã tạo được nhiều thích thú cho người đọc. Dù cuốn tiểu thuyết viết bằng Pháp ngữ này không dài lắm, chỉ chừng khoảng 150 trang nhưng đã trải dài được một khoảng thời gian đáng nhớ của một người phụ nữ lưu lạc từ Việt Nam sang đến Canada thuộc thế hệ một rưỡi . Ngôn ngữ diễn tả của Ru thật rõ ràng, trực tiếp mô tả nhưng lại tràn đầy thi tính. Tác giả không có một chút gì hậu ý muốn tạo những ẩn dụ, những gợi ý xa xôi từ những điều diễn tả. Giản dị, Ru chỉ là một hồi ký từ trí nhớ của một người đàn bà có học thức và chuyên nghiệp, trong một gia đình thượng lưu của xã hội Việt Nam trước năm 1975 và sau biến cố 30 tháng tư năm 1975 thì trốn thoát quê hương bằng con thuyền nhỏ với thân phận thuyền nhân. Những điều diễn tả không có gì là mới lạ. Cũng là hồi nhớ về quá khứ cũ xưa, hay những trang nhật ký của cuộc hải hành vượt biển đầy gian nguy, hoặc thái độ quả cảm để tạo dựng tương lai mới ở xứ sở định cư, hay sự xác nhận căn cước lý lịch từ một xứ sở đã bị lùi dần vào quá khứ nhưng vẫn còn ảnh hưởng trong hiện tại và cả trong tương lai. Ru còn viết về những hoàn cảnh phức tạp cá nhân của gia đình Việt Nam, với những động lực mạnh mẽ để tồn tại, xen lẫn với những nỗi niềm của đau đớn, của cảm xúc.

Nhưng, một điều rõ ràng nhất, tiếng nói của tác giả luôn luôn trung thực với ý nghĩa nhân bản. Dù được viết với thể cách lãng mạn của thi ca nhưng văn thể ấy không phong thánh chữ nghĩa mà làm sâu lắng thêm ý nghĩa ngữ ngôn. Mỗi câu, mỗi chương sách là xếp lớp những suy tư mà tư duy luôn ở trạng thái khởi đầu và không bao giờ chấm dứt. Cảm giác tức thời được tạo dựng từ nỗi lãng quên phải đến khi trực diện với cuộc sống mới mẻ ập tới, của sự lạc lõng của một đứa trẻ lớn lên từ môi trường xã hội văn hóa đầy xa lạ.

Kim Thúy đến Canada khi vừa 10 tuổi với hai em trai Tin 7 tuổi và Nhơn 6 tuổi. Gia đình thuyền nhân này trước năm 1975 thuộc giới danh gia vọng tộc của xã hội miền Nam Việt Nam. Người cha là một giáo sư đại học về môn triết học và là dân biểu của chế độ VNCH. Ông ngoại của Kim Thúy là một vóc dáng chính trị quan trọng có ảnh hưởng từ Việt Nam thời Pháp Thuộc và có lúc giữ chức Phó Ðô Trưởng thủ đô Sài Gòn. Khi Cộng Sản chiếm được miền Nam, cả gia đình bị đuổi ra khỏi ngôi biệt thự to lớn và chế độ quân quản ấy đã biến dinh cơ ấy thành một trạm công an. Sống không nổi trong chế độ mới, cả gia đình vượt biển tìm tự do bằng một con tàu nhỏ bé. Họ đến Mã Lai trong một hành trình cực kỳ nguy hiểm và kịp thời cập bến được trong khi một cơn dông tố ập đến. Ở trại tị nạn, với đời sống kham khổ, lều trại dột nát vá víu, quần áo rách rưới, thức ăn thiếu thốn, nhưng rồi thời gian cũng trôi qua. Rời khỏi Việt nam tháng 11 năm 1978, sống ở trại tị nạn và đi định cư Canada vào tháng ba năm 1979, họ bắt đầu hành trình của những người Việt Nam lưu vong ở thành phố Granby.

Ru với nghĩa từ Pháp ngữ là dòng suối nhỏ nhưng ở nghĩa Việt ngữ là những âm thanh có giọng điệu của lời thầm thì làm cho cơn buồn ngủ kéo tới. Nhưng, ở trong diễn tả của Kim Thúy, là những đoạn văn thủ thỉ của một người tâm sự với đời sống từ những quãng đời đã qua. Có những nhân vật có lúc thoảng qua, có lúc sâu đậm trong bộ óc nhớ của cô. Và cuộc sống thì cũng thật nhiều điều tương phản với nhau. Bên nỗi đau thương cũng có nụ cười, cạnh những ngây thơ hồn nhiên có chua chát dằn vặt. Là người kể chuyện, tác giả không có một gợi ý nào để hướng dẫn cảm quan người đọc. Nhưng, trong cách thế diễn tả, có một chút biểu lộ tâm cảm chủ quan mà người đọc dễ dàng nhận ra và đồng ý. Ðó là, từ trong sâu thẳm của phong cách văn hóa tập tục Việt Nam vẫn mờ ảo xuất hiện một con người tuy đã sống hết mình cho hiện tại nhưng vẫn còn vướng mắc từ những điều đã qua của quá khứ.

Chủ bút nhật báo Le Figaro đã phát biểu: “Lối viết của Kim Thúy như dòng nước trôi đi giống như dòng chảy thi ca, nó chuyên chở và triệu thỉnh cuộc sống với tất cả sự mạnh mẽ mời gọi. Tiểu thuyết đầu tay này đã trao gửi đến độc giả với nỗi hiếm hoi hạnh phúc…”

Nhật báo ở thành phố Montreal La Presse đã mô tả những thành qủa của “ Ru” như một truyện thần kỳ của Kim Thúy. Sự kiện rõ ràng là tác giả đã chiếm được lòng thương yêu từ những trái tim của độc giả về những điều không phải là giọng nói gốc chẳng tạo ra kinh ngạc. “Tôi là đứa con của Bill 101, Francophile và Francophone trong tâm hồn tôi. Tôi nói ngôn ngữ Việt Nam – dĩ nhiên nhưng đó chỉ là ngôn ngữ của trẻ thơ hoặc ở trong bếp lửa. Ngôn ngữ mà tôi suy nghĩ và cảm hiểu được là Pháp ngữ” có lần cô đã phát biểu như thế ( Bill 101 tức đạo luật 101 mục đích bảo vệ văn hóa và ngôn ngữ của đa số dân chúng của tỉnh bang Québec).

“Ru” kể chuyện về một đứa bé sinh ra trong một ngày tết Mậu Thân với hoàn cảnh của một thành phố Việt Nam chiến tranh. Ðầu năm 1968, khi mà chiến tranh đã tăng cường độ và xuất hiện trên đường phố Sài Gòn. Ðứa bé ấy được đặt tên là Nguyễn An Tịnh. Kim Thúy viết:

“Tên tôi là Nguyễn An Tịnh và mẹ tôi tên Nguyễn An Tĩnh. Một dấu chấm nhỏ ở dưới chữ I đã được đặt để như thế đã làm cho tôi khác biệt với mẹ tôi như một nối dài của bà, đã chỉ rõ ý nghĩa của danh tính tôi. Với người Việt Nam, tên bà có nghĩa là “an bình ở chung quanh” còn tên tôi nghĩa là “ bình yên trong thế giới”. Từ những tên tuổi có thể thay đổi, mẹ tôi xác định tôi là một mầm nụ non của chính bà, một phần nối tiếp của lịch sử cuộc sống bà.

Lịch sử của Việt Nam, với chữ H bắt đầu cho chữ History, đã làm đảo lộn những dự tính của bà. Khi bà mang chúng tôi vượt biển qua vịnh Thái Lan ba chục năm về trước, những âm sắc như thế bị vứt xuống mặt nước. Bà cũng đánh dấu danh tính chúng tôi với nguyên nghĩa của chúng, tạo thành những thanh âm ngoại quốc lạ lùng đơn điệu khi đọc và phát âm theo Pháp ngữ. Như thế là bà đã vứt bỏ đi về cái tôi của vị trí nối dài nguyên thủy của bà khi tôi ở tuổi lên mười”

Có phải Kim Thúy nói thật hay chỉ là một suy nghĩ có một chút cảm khái một chút ngộ nghĩnh hồn nhiên của người tị nạn? Câu thơ của một thi sĩ (hình như là Thanh Nam) “đổi cả tuổi tên cha mẹ đặt / tập làm con trẻ nói ngu ngơ..” cũng giống y như nhà văn nữ Kim Thúy chăng?

Sinh ra trong lúc loạn lạc như khi ở Việt Nam Kim Thúy lại có ý nghĩ vô cùng giản dị về cuộc chiến. Có lẽ vì sống trong hoàn cảnh yên bình nên chiến tranh cũng không ảnh hưởng nhiều. Có lẽ, về sau này, khi sống lưu lạc ở xứ người, cô mới có ý nghĩ sâu sắc hơn. Kim Thúy viết:

“Khi tôi còn nhỏ, tôi luôn tin rằng chiến tranh và hòa bình là hai điều đối nghịch nhau. Tôi đã sống yên bình lúc Việt Nam đang khói lửa và chỉ hiểu chiến tranh sau khi mọi người buông súng. Tôi tin rằng chiến tranh và hòa bình là hai điều thân thuộc với nhau đã chế diễu chúng tôi. Họ coi chúng tôi là kẻ thù khi họ muốn mà không thèm chú ý đến những định nghĩa của chúng tôi về họ. Chúng tôi không thể cả tin những biểu hiện nơi mà họ liên quan đến. Tôi may mắn có cha mẹ vẫn giữ gìn những viễn cảnh về họ, không có ý nghĩa đặc biệt nào về hình dạng của thời kỳ ấy, mẹ tôi thường trích dẫn câu tục ngữ trên mặt bảng đen của lớp tám ở Sài Gòn “Ðời là chiến trận, nếu buồn là thua.” (Life is a struggle and the price of sadness is defeat.)”

Sống ở Sài Gòn, gia đình Kim Thúy hình như chưa chuẩn bị sẵn để đối phó với chế độ sắt máu mới. Khi gia sản đang bị kiểm kê thì cha của cô đang mặc bộ quần áo chơi tennis ướt đẫm mồ hôi và mẹ cô thì đang mặc bộ mini skirt và đi giày thể thao. Một điều nghịch lý mà có thực là mọi người không hiểu rõ chiến tranh lúc cuộc chém giết đang tăng cường độ và chỉ hiểu hậu quả khi buông tay súng. Ở Sài Gòn, ít có âm vọng trực tiếp của súng đạn trong khi cả nước đang trong cuộc chiến tang thương. Ðến khi thua trận, xã hội miền Nam mới kinh hoàng nhận xét rằng một cuộc chiến vẫn còn tiếp tục và thương đau khổ ải sẽ còn dài dài và không biết đến lúc nào thì chấm dứt.

Cuộc đời của Kim Thúy có nhiều nét giống trong tiểu thuyết Ru. Cô cũng đã trải qua những tháng ngày ở trại tị nạn Mã Lai khi sống trong căn lều làm bằng những miếng ván và khúc cây ăn trộm, mùa mưa thì ướt như ở ngoài trời. Sang định cư ở Canada, mọi người đều phải lao động từ những công việc chân tay mệt nhọc nhất từ lau nhà đến rửa chén trong các tiệm ăn rồi mới từ từ thăng tiến trong công việc. Kim Thúy học luật tại đại học Montreal và tốt ngiệp với hai chuyên ngành.

Sau khi ra trường, Kim Thúy làm nghề thông dịch cho một công ty quốc tế tại Canada và từ đó đã thu lượm được nhiều kinh nghiệm về đời sống xã hội. Rồi sau đó cô hành nghề luật sư và cộng tác với văn phòng của ông Marc Lalonde. Ông này là một chính khách danh tiếng của Canada và đã từng tham chính với các chức vụ Bộ trưởng Y Tế, Xã Hội, Tư Pháp, và Tài Chánh trong nội các liên bang Canada. Kim Thúy làm việc trong hợp đồng của văn phòng ông với chính phủ Việt Nam cố vấn về cải tổ pháp luật tại Hà Nội. Chồng của cô , một luật sư người Canada cũng sang Việt Nam làm việc ở Sài Gòn và cô trở về Nam sống với gia đình. Trong thời gian này, cô có dịp để tìm hiểu về con người và đất nước của mình. Cô đã phát biểu rằng nếu không có những kinh nghiệm sống phát xuất từ thực tế ấy cô không thể hoàn tất được một tác phẩm tuy đầu tay nhưng đã gặt hái được nhiều thành công trong phương diện văn chương và tài chánh.

Nhận xét về tác phẩm Ru và tác giả Kim Thúy, nhà phê bình Jerôme Garcin của tạp chí Le Nouvel Observateur có nhận xét và ví von rằng cuốn sách này giống như một chiếc bình sơn mài tuyệt đẹp của Việt Nam đã bị vỡ tan trong một cuộc hành trình dài. Nhà văn Kim Thúy đã trở thành người gom giữ lại nâng niu những mảnh vỡ trong suốt một thời gian dài hơn ba chục năm. Ở hiện tại, phát xuất từ một tâm trạng được chế ngự đến bình tĩnh khác thường và với khả năng tuyệt diệu của người nghệ sĩ cô đã khéo léo lắp ráp lại để sắp xếp những mảnh kỷ niệm mà không cần quan tâm đến trật tự của nguyên hình nguyên bản. Cô đã thêm vào đó những màu sắc sinh động vui tươi hơn. Trong tác phẩm, cô không bày tỏ thái độ đi kiếm tìm lòng thương hại nơi độc giả hay không tô điểm thêm sự bần cùng. Theo một trình tự thời gian hợp lý, cô coi trọng những dữ kiện xảy ra và hình như không thấy được sự hằn học của lời phê phán. Ðối với độc giả của tạp chí Le Noucewl Observa teur, Ru là một tác phẩm rất mới lạ.

Là một tác phẩm đầu tay nhưng Ru lại được sự đón nhận nồng nhiệt từ phía độc giả. Ấn bản đầu tiên đã bán hết và từ lúc mới phát hành Tháng 7 năm 2010 đến nay đã bán được hơn năm chục ngàn ấn bản. Nhật báo Le Figaro đã nhận định là văn chương của Kim Thúy chảy như những áng thơ, chuyên chở ý tưởng và làm giải khuây những nỗi niềm với cảm quan tràn đầy sức sống và có khả năng tạo thành suy tư cho độc giả. Hơn thế nữa với cách diễn tả đầy nữ tính tạo sự rung động và là điểm để tác phẩm vượt qua được những giới hạn của cuộc sống đời thường hàng ngày.

Nhà xuất bản Libre Expression đã giới thiệu: “Ru gồm nhiều đoạn văn rất ngắn kể lại chính cuộc đời của Kim Thúy: sinh ra ở Việt Nam trong chiến tranh, là thuyền nhân vượt biển, được quốc gia Canada đón nhận và định cư tại Quebec. Những công việc như học hành, như kể về những người thân thuộc, đứa con bị bệnh tự kỷ… là những dữ kiện gắn liền cuộc đời cô với những người thân cả trong những lúc khó khăn nan giải hay những giây phút tràn trề hạnh phúc. Kim Thúy biết điều khiển cảm xúc người đọc một cách tuyệt vời, mang người đọc từ nét vui nỗi buồn, hay từ thực tế vật chất sang yếu tính tinh thần. Viết tràn đầy nữ tính, văn cách thiết tha ấm áp tạo được sự rung cảm từ những trang sách đầu tiên…”

Là người kể chuyện, Kim Thúy đã mang tâm tình của cô vào những chi tiết nhỏ. Mô tả hình dáng tròn trịa của cô giáo dạy Pháp ngữ đầu tiên như: “cô giáo thôi miên bảy đứa trẻ Việt Nam nhỏ tuổi nhất nhờ lúc lắc chậm chạp đôi hông phì nhiêu, đôi mông tròn trịa như bà mẹ ngan chăm sóc đàn con, cúi xuống bảo: «Tên tôi là Marie France, còn em tên gì» ” Ðó là ấn tượng của một cô bé luôn mặc cảm vì thân hình nhỏ bé xương xẩu của mình.

Cũng như trong những hoàn cảnh đen tối nhất của đời sống, cô cũng biết cười để quên đi một phần thực tại. Như khi hồi tưởng về những ngày sống trên đảo tị nạn, trong một cái chòi được xây dựng bằng những vật liệu có thể có được từ những mảnh ván lượm lặt đây đó, những khúc cây cưa trộm trong rừng, những miếng bìa, những bao bố chứa gạo bỏ đi và trên những mặt đất lồi lõm bết bùn sình. Những đêm mưa Mã Lai tất cả hai mươi lăm người của năm gia đình đã cùng thức để hứng nước mưa dột tứ tung bằng những lon sắt và cái hành động xoay trở để tránh bị mưa tạt đã làm cho Kim Thúy tưởng tượng: “nếu người đạo diễn điệu múa như thế có anh nhạc sĩ hoặc chú quay phim phụ họa thì cảm quan đón nhận của mỗi người sẽ tạo dựng tác phẩm tương lai của họ theo cách mà họ nắm bắt..” Cười mỉm, chua chát nhưng không phải là bi quan trong cái lạnh lẽo ướt át của những giấc ngủ không trọn của người tị nạn.

Tình cảm với Kim Thúy nhẹ nhàng, qua vài tên tuổi của những chàng trai. Như chàng trai Wyatt nhìn tà áo dài trong gian hàng bán đồ cổ Việt nam tạo sự khuấy động đến sâu thẳm linh hồn qua óc tưởng tượng đến những mảnh da thịt phụ nữ ẩn hiện qua dáng vóc của vải lụa.

Kim Thủy cũng nhắc đến chàng trai Gillaume mang chiếc áo T-shirt nồng mùi vị của bột giặt Bounce về Hà Nội nhắc đến cái bến đỗ hôn nhân mà cô đã chọn lựa. Cô đã cảm nhận ra cái mùi bình thường không có gì đặc biệt rất đơn giản ấy lại là một nhắc nhở đến định nghĩa của tổ ấm khi cô đang ở một nơi xa xôi Hà Nội trong cái khí hậu nóng bức của vùng nhiệt đới. Cái T- shirt như một gợi nhớ, một nhắc nhở thiết tha như chuyện bài thơ nhớ nhung kiểu “Ớ thị Bằng ơi” của vua Duệ Tông Tự Ðức thời Nguyễn xa xưa…

Ðọc Ru để không phải nhìn lại quá khứ mà rủa xả. Ðọc Ru để từ quá khứ có bài học cho tương lai. Và, trong cái tâm tư của người Việt Nam thăng trầm qua những đoạn đời đầy thách đố, vẫn có một tình tự dân tộc và vẫn có những đợt gió mát dù ở giữa sa mạc hun người…

Có người thắc mắc và hỏi nhà văn nữ rất nổi tiếng ở Pháp Linda Lê lựa chọn con đường bỏ quên hẳn tiếng Việt để thực sự trau giồi viết giỏi tiếng Pháp trong khi Kim Thúy chọn phương cách trái ngược hẳn là cố gắng học và trau chuốt tiếng Việt mà không e ngại tiếng Pháp của mình có thể bị ảnh hưởng. Cô trả lời: “tôi nghĩ khi học thêm được một thứ ngôn ngữ mới thì mình lại hiểu sâu đậm thêm thứ tiếng đầu. Vì tự nhiên sẽ có sự so sánh mà so sánh là một quá trình buộc chúng ta khám phá suy nghĩ và học hỏi thêm được nhiều hơn. Hiểu thêm một thứ tiếng là hiểu thêm một văn hóa, một truyền thống, là có thêm được không biết bao nhiêu báu vật từ những hình ảnh, âm nhạc, văn phạm, hương vị, nhạc điệu… Có lẽ nhờ vậy mà Ru có được một tiếng nói hơi khác hơn bình thường. Ru được viết bằng tiếng Pháp nhưng có lẽ các hình ảnh và nhạc điệu của nó rất Việt Nam. Có những độc giả ở Canada đã nói: “cách viết của tôi đúng là tiếng Pháp nhưng cách nghĩ, cách nhìn lại là của người Việt Nam”

Khi được hỏi về quá khứ của cuộc vượt biển tìm tự do, cũng như những ngày bắt đầu định cư để tập làm quen và thích ứng với đời sống ở một xứ sở hoàn toàn mới lạ, cũng là nguyên cớ để hình thành cho một tác phẩm văn học tự thuật đầu tay của mình, Kim Thúy tâm sự: “Việc sống và vượt qua thử thách ấy đối với Thúy là một sự rất hên. Nhờ điều đó mà Thúy trở thành một người mạnh mẽ hơn trước rất nhiều. Ví dụ như nếu Thúy không trải nghiệm qua những trở ngại ấy, thì ngày hôm nay Thúy không thể vừa nói được tiếng Pháp, vừa tiếng Anh vừa tiếng Việt. Nếu không phải trải qua đoạn đường đó không có mình mạnh mẽ như ngày hôm nay.”

Văn tức là người, qua phong cách kể chuyện, Kim Thúy tạo được nhiều ấn tượng tốt cho người đọc bởi vì sự thành thật và lòng vị tha vượt qua được những biên giới địa lý hoặc văn hóa, chủng tộc. Nhìn đời bằng một đôi mắt trong veo, ngây thơ trong cung cách khám phá những ẩn tàng của cuộc sống để thấy rằng bất cứ trong hoàn cảnh nào cũng đều có những sự thương yêu, những điều đáng sống cần chia sẻ.

Kim Thúy đã mang vào văn chương những tia nắng đẹp của một cuộc sống đáng yêu đầy ý nghĩa…

Nguyễn Mạnh Trinh
Nguồn: Tác giả gửi

[1] Ngày 30 tháng 10 năm 2012, Giller Prize 2012 được công bố trao cho Will Ferguson với tác phẩm Kinh Dị 419.

Đã đóng bình luận.