Hà Duy Phương
Xe buýt đưa tôi đi xa dần. Ngoái đầu lại nhìn, tôi thấy cây cầu Gò Dầu chỉ còn là cái bóng mờ nhạt như vết sẹo nhỏ vắt ngang chân trời. Nơi đó, khoảng trời đó có tuổi thơ tôi cùng bao ước mơ hồn nhiên, tươi đẹp. Và cũng chính tại nơi đó, trong khoảng trời đó, Bi của tôi đã nuôi nấng khát vọng sống cháy bỏng, như chú dế non bị nhốt trong chiếc hộp con – gáy đến bể họng ngày đêm cuồng cánh…
Gần ba năm kể từ ngày Bi mất, tôi như chỉ muốn quên Gò Dầu – mặc dù đó là quê hương tôi, là nơi vô vàn yêu dấu mà tôi đã từng luôn muốn tìm về. Thế nhưng, Gò Dầu lại buồn hơn tôi tưởng, và nó cứ buồn hơn theo từng chặng đời trưởng thành của tôi. Chỉ có cây cầu Gò Dầu là vẫn thế. Nó luôn đứng đó – mãi bắc vào giấc mơ tôi, nối kết tôi với tháng ngày tuổi thơ trong veo tiếng cười, hun hút nắng gió…
Sau thất bại nặng nề trong công việc làm ăn ngay tại mảnh đất quê nhà, trong tình cảnh bế tắc, gắng gượng, Ba tôi đã đưa cả gia đình về thành phố tìm cuộc sống mới khi tôi vừa tốt nghiệp cấp 2. Cuộc sống mưu sinh đầy vất vả nơi đất khách quê người với 3 đứa con đang trong độ tuổi ăn học gần như vắt kiệt toàn bộ sức lực của Ba Mẹ tôi. Nhưng rồi, trời đã không phụ lòng người – cuối cùng, sự nỗ lực cố gắng của Ba Mẹ cũng đã được đền đáp xứng đáng. Anh em tôi lần lượt bước chân vào giảng đường, lần lượt tốt nghiệp Đại Học và có công ăn việc làm ổn định. Gia đình tôi cuối cùng cũng có được nhà cửa đàng hoàng và có một cuộc sống sung túc chốn thị thành sau hơn 10 năm đằng đẵng nhà thuê tạm bợ với biết bao gian nan, khốn khó. Trong suốt hơn 10 năm đó, canh cánh trong tôi mơ ước trở về Gò Dầu – về để “lấy lại những gì đã mất”. Trong lòng đứa con gái kiêu hãnh và sống quá nội tâm như tôi ngày ấy, Gò Dầu chất đầy yêu thương lẫn hờn oán. Bi đã luôn ở bên tôi, chia sẻ cùng tôi mọi nỗi niềm – đều đặn qua những trang thư, qua điện thoại và những lần gặp gỡ khi tôi về. Để rồi giờ đây, bao lần mỏi mệt/tuyệt vọng/vấp ngã, tôi không còn biết phải gửi thư cho Bi về đâu, tôi có cố thống thiết gọi Bi đến đâu đi nữa thì cũng chỉ nghe im lặng vọng về. Bi đã xa tôi, vĩnh viễn xa tôi. Bi đã không giữ lời hứa với tôi, đã bỏ tôi mà ra đi đột ngột như thế… Bi không còn nữa; vậy mà sao mỗi lần tôi về, vẫn cứ như thấy Bi ngồi đấy – trên chiếc xe lăn cũ kỹ – ngước nhìn tôi, Bi cười thật tươi: “Mới về hả Bo?”. Tan trong ảo ảnh, mắt tôi mờ đục, nhoè nhoẹt cay…
Thi thoảng rất lâu, tôi mới trở về – để thăm Ngoại và thăm mộ Bi. Tôi chỉ còn bà Ngoại – năm nay tuổi cũng đã gần 90. Bi là anh họ của tôi, là con dì Hai – chị của Mẹ tôi. Chúng tôi bằng tuổi nhau và cùng học chung một lớp. Những ngày đầu tiên chập chững cắp sách đến trường là những ngày đã mở ra trong tôi sau này một ký ức tuổi thơ thật đặc biệt, chỉ vì có Bi. Tôi đến trường tung tăng chân sáo, còn Bi của tôi đến trường với đôi chân tật nguyền giấu kín trong khung giày nẹp sắt. Bi đã không đi được từ nhỏ, tay chân teo tóp và sức khoẻ dần dần suy yếu do ảnh hưởng di chứng chất độc da cam từ dượng Hai tôi, vốn là lính Quân Y đóng quân ở Bến Cát – Bình Long ngày trước. Gia đình đã cố gắng cật lực để chạy chữa cho Bi, nhưng rồi cũng đành phải chấp nhận một thực tế nghiệt ngã khôn cùng: Bi vĩnh viễn không thể đi được, và sự sống của Bi – theo kết quả chẩn đoán, tiên liệu của các bác sỹ chuyên khoa ở Sài Gòn khi đó – sẽ chỉ ngắn ngủi trong khoảng thời gian kéo dài không quá 20 năm. Vậy mà, Bi của tôi, với nghị lực sống kiên cường hiếm có, đã chỉ chịu đầu hàng số phận khi sức cùng lực kiệt ở tuổi 29…
Bi và tôi đã cùng nhau trải qua cái tuổi “nhất quỷ, nhì ma” thơ ngây đầy ắp tiếng cười lẫn nước mắt. Tiếng cười của Bi và nước mắt của tôi. Thoạt nghĩ cứ như là nghịch lý, ký ức của tôi chưa từng có một giọt nước mắt nào của Bi trong đấy. Lúc nào tôi cũng chỉ thấy Bi cười, kể cả cười buồn trong ngơ ngác – nhưng mắt Bi thì vẫn cứ ráo hoảnh. Nhiều lần tôi đã giận Bi vì cảm giác như Bi không thương tôi. Bi cứ tỉnh bơ, mặc tôi nước mắt nước mũi ròng ròng – tôi oà khóc vì buồn tủi thương Bi và vì vẫn còn tức tối sau mỗi trận đánh nhau với lũ bạn xấu tánh, cứ theo trêu chọc/ăn hiếp Bi. Tuy tôi học giỏi/năng nổ nhất lớp, tuy tôi là lớp trưởng/chi đội trưởng và cả là đội cờ đỏ của trường – thế nhưng, cứ thỉnh thoảng là tôi lại bị thầy/cô gọi lên văn phòng làm kiểm điểm hoặc bị bắt phạt quỳ gối dưới cột cờ bởi mỗi cái tội đánh bạn, mà lại toàn… đánh thắng. Mỗi lần bắt gặp đứa nào cả gan dám đụng đến Bi, tôi không sao chịu nổi. Như biến thành một con bé ngang tàn/ngỗ nghịch, tôi tức giận nghiến răng/trừng mắt. Cứ thế, không nói không rằng, tôi lao vào đấm đá túi bụi “kẻ thù”. Tôi chỉ chịu dừng lại khi nào đã nghe thấy thật lớn tiếng nức nở “xin tha” cùng lời hứa không bao giờ còn dám ăn hiếp Bi nữa mới thôi. Hung hăng/lì lợm là thế, nhưng lần nào sau “cuộc chiến”, tôi cũng bật khóc như mưa như gió. Bi ngồi bất động tại bàn, không nói một lời nào – đã vậy, lại còn bình thản nhìn tôi mà cười. Tôi chạy ngay đến, níu lấy cánh tay gầy guộc của Bi, tôi rối rít hỏi Bi có buồn không. Thế rồi, tôi oà lên mếu máo: “Bi đừng sợ, có Bo đây – Bo thách đứa nào dám đụng đến Bi…”. “Bo có đau không?”, Bi luôn buột miệng câu đầu tiên hỏi tôi như thế sau một lúc thật lâu bỏ mặc tôi trong im lặng. Tức tưởi, tôi khóc to hơn: “Đau… chứ sao không?!”. “Bo đừng như vậy nữa, nhìn Bo hung dữ lắm! Mặc kệ tụi nó đi! Bi quen rồi, Bi đâu có sao! Bo coi chừng bị bắt lên văn phòng quỳ gối nữa bây giờ…”. Tôi tức cành hông cái vẻ tỉnh rụi của Bi. Tôi đánh nhau là để bảo vệ cho Bi kia mà!? Thế nhưng, ngay lập tức, tôi lại sung sướng mỉm cười với Bi – bởi vì khi Bi nói xong những lời như vậy là bao giờ ngay sau đó, tôi cũng nhìn thấy trong mắt Bi dạt dào một tình cảm vô cùng thương yêu, rưng rưng/trìu mến/đầy biết ơn tôi. Ánh mắt Bi biết nói, và ánh mắt ấy đang nhìn tôi – cười rất hài lòng…
Vẫn đôi mắt sáng trong ấy – một ngày chúng tôi đã lớn – Bi nhìn tôi nhưng sao thăm thẳm buồn. “Bo ơi, nếu chết ở tuổi 30 thì còn trẻ quá phải không Bo? Bi thấy mình còn trẻ quá! Chết như vậy thì trẻ quá, Bo à! Mà cũng không biết Bi có sống được tới năm 30 tuổi không nữa?!?”. Khoảng độ một năm trước khi mất, Bi đã nhiều lần nói với tôi như vậy những lúc hai đứa ngồi bên nhau ở Cây Xoài – quán cà phê thân thuộc mỗi lần về quê tôi luôn đẩy xe lăn đưa Bi đến đây. “Ừ, 30 vẫn còn trẻ chán! Chết gì mà chết! Làm sao mà chết được? Bi khùng quá đi!”. Tôi luôn cố tỉnh rụi mà tỏ thái độ giả vờ nổi cáu với Bi mỗi khi Bi giật mình thảng thốt trong niềm tiếc nuối/tuyệt vọng về sự sống ngắn ngủi, lẫn nỗi hoang mang/lo sợ trước cái chết đang rình rập Bi từng ngày. Từng chữ, từng câu nghẹn ngào Bi nói cứ như từng nhát đinh đau buốt chậm rãi đóng vào tim tôi, lút cán. Tôi phải nghiến chặt răng đến ê cả hàm để kiềm giữ mà không bật khóc.
Càng lớn lên Bi càng dễ ngã bệnh, thể chất Bi suy yếu dần. Cột sống cong lệch hẳn sang một bên, ép lồng ngực thóp lại khiến Bi thường xuyên bị khó thở. Các cơ quan nội tạng trong cơ thể gầy gò, héo hắt của Bi gần như đều đã hỏng. Bi thoi thóp sống qua triền miên bệnh tật trong may nhờ từng ngày. Thế nhưng, thật ngạc nhiên là Bi lại rất thông minh và học rất giỏi. Bi đã luôn cố gắng để không ngã gục giữa chừng trên con đường học vấn. Ý chí mạnh mẽ cùng khát vọng sống dữ dội trong Bi đã giúp Bi đi được trọn vẹn hết 12 năm phổ thông. Bi đã tốt nghiệp với tấm bằng loại ưu; và riêng với môn Sinh Vật, Bi đạt điểm 9, điểm cao nhất toàn tỉnh Tây Ninh năm thi ấy. Tôi vô cùng ngưỡng mộ và tự hào về Bi. Rồi cũng thật nhanh sau đó, tôi rất buồn khi biết rằng Bi không thể nào tiếp tục được nữa để đặt chân vào giảng đường Đại Học. Điều kiện gia đình không cho phép, và hơn hết là tình trạng sức khoẻ của Bi… Làm sao Bi có thể xa nhà để xuống thành phố đi học được đây? Tất cả đều nan giải. Tôi biết Bi buồn lắm, nhưng Bi chưa bao giờ nói về những nỗi buồn của mình với tôi. Bi cũng không hề nói với một ai về điều đó. Lúc nào tôi cũng thấy Bi cười, nụ cười an phận – hoặc Bi bình lặng với ánh nhìn ấm áp trong đôi mắt long lanh, đầy lạc quan/hi vọng. Gương mặt điển trai của Bi lúc nào cũng như bừng sáng, kể cả những ngày Bi nằm dài trên giường bệnh… Khi đó, thỉnh thoảng, Bi lại nói về chuyện có nhiều người sang cửa khẩu Mộc Bài tìm vận may đổi đời trong những canh bạc đỏ đen từ hàng loạt Casino mọc lên như nấm trên ấy. Thất bại, trắng tay – thậm chí lâm cảnh nợ nần – họ quẫn trí, về tới cầu Gò Dầu đã nhảy xuống sông tự vẫn. Đã có rất nhiều người chết trên sông Gò Dầu quê tôi vì tệ nạn cờ bạc chẳng ra gì như thế. Bi hay thảng thốt, ngô nghê nói với tôi: “Sao người ta lại không muốn sống? Sao lại coi thường mạng sống của mình đến như vậy được hở Bo? Mà phải chi Gò Dầu đừng có cây cầu này làm gì Bo nhỉ?! Chỉ thấy buồn thêm…”. Bi hỏi mà chẳng cần nghe câu trả lời của tôi. Bi chỉ hỏi thế thôi rồi dõi mắt xa xăm, nghĩ ngợi gì mông lung lắm! Tôi nhớ hình như Bi vẫn chưa một lần qua đến bên kia cầu…
Cuộc đời ngắn ngủi của Bi ngoài những buổi học được ba mẹ đưa đến trường, còn lại chỉ là những chuỗi ngày dài hao gầy, mòn mỏi cùng bệnh tật. Ngày qua ngày, chỉ biết quanh quẩn nhà trên/nhà dưới trong không gian nhỏ hẹp của những vách tường, Bi gắn chặt mình với chiếc xe lăn luôn cần phải có người đẩy – bởi bàn tay Bi đã quá yếu ớt, càng ngày càng co rút lại và luôn bị run lẩy bẩy đến không cầm nổi cây bút, thì biết làm sao… Tôi thương Bi quá, lần nào về tôi cũng dành hết thời gian để quanh quẩn bên Bi, đẩy Bi đi loanh quanh lên công viên hóng mát, cà phê, ăn kem,… Bi hay hỏi tôi về những nơi tôi đã đến và những vui/buồn của tôi ở từng nơi ấy. Tôi luôn rất hào hứng, huyên thuyên kể Bi nghe đủ thứ chuyện sống động về những chuyến đi đầy lý thú của tôi. Trong tất cả những nơi tôi đã kể, Bi đặc biệt thích thú Đà Lạt – tôi cũng không rõ vì sao. Từ đó về sau, Bi chỉ hỏi tôi về Đà Lạt mà thôi. Rồi có lần Bi nói: “Bi mơ ước được một lần đến Đà Lạt. Bi thích Đà Lạt quá Bo à! Đà Lạt ở ngoài chắc còn đẹp hơn cả trong lời Bo kể, Bi nghĩ vậy. Bo sướng thật! Bo được đi Đà Lạt lia lịa luôn, đi cứ như là đi chợ ấy!…”. “Ừ, thì tại Bo làm bên Du Lịch mà! Mà Bi ơi, đi Đà Lạt bây giờ cũng đâu có khó, Bi ráng khoẻ hơn rồi mình đi. Bo sẽ thu xếp để đưa Bi đi. Ok?”. Bao nỗi hân hoan, vui sướng từ đâu chợt kéo nhau về, đọng hết trong mắt Bi long lanh. Bi nhìn tôi, nhoẻn miệng cười tươi rói. Tôi khoái chí, miên man nghĩ về kế hoạch quyết phải đưa Bi lên Đà Lạt một chuyến. “Yeah! Ước mơ trong tầm tay!”, tôi tinh nghịch nháy mắt với Bi.
Ước mơ trong tầm tay? Không! Đã ngoài tầm tay với của tôi – khi Bi đột ngột ra đi, mang theo giấc mơ tươi đẹp về xứ sở ngàn thông, xa xăm như cổ tích. Bi vẫn chưa một lần được đến với Đà Lạt – và tôi, từ đó không bao giờ còn muốn tìm về nơi ấy nữa. Đà Lạt đã chôn chặt ước mơ anh tôi theo bóng mùa dật dờ bảng lãng…
Như chú dế non bị nhốt trong chiếc hộp con, Bi ngày đêm cuồng cánh. Giờ đây, Bi không chỉ có thể rời bỏ xe lăn mà đi, tôi biết, Bi còn bay được. Bi đi đến, bay đến mọi nơi Bi thích trên trái đất này, trong cõi đời này. Gần 3 năm nay, Bi đã đến những nơi đâu? Sao Bi không kể tôi nghe như những ngày tôi đã luôn ríu rít cùng Bi? Tôi biết rằng nơi Bi đến đẹp lắm, đẹp hơn Đà Lạt rất nhiều. Và ở nơi ấy, một ngày tôi đến, Bi sẽ dắt tôi đi chơi. Chúng tôi sẽ nắm tay nhau chạy tung tăng trên cánh đồng trải dài bao ước mơ phù sinh thuở nhỏ…
Xe buýt đưa tôi rời xa thị trấn, tôi ngoái lại nhìn – chỉ còn thấy cây cầu Gò Dầu như vết sẹo nhỏ, mờ nhạt cắt ngang chân trời. Nén nhang tôi vừa thắp trên mộ Bi chắc vẫn còn đang khói? Tôi nhìn thấy bóng khói nơi tim mình, nhạt xám như vết sẹo vô hình chạm khắc tuổi 30, để Bi còn nhận ra tôi – ngay cả khi tôi không còn nhận ra quê mình…
Hà Duy Phương
Nguồn: Tác giả gửi



















