Tạ ơn em

Posted: 25/05/2013 in Ngũ Lang, Truyện Ngắn

Ngũ Lang

dying_rose

Tiếng chuông vang lên lôi gã ra khỏi giấc ngủ chập chờn buổi trưa mùa đông. Gã uể oải đếm từng bước cầu thang xuống nhà dưới mở cửa. Ông bạn nhà báo lách vào mang theo cơn gió lạnh thốc tháo.

– Ông nhà báo đi đâu mà lạ thế? Trời lạnh như cắt mà sao ông siêng năng quá vậy? Gã nắm bàn tay lạnh như nước đá của ông nhà báo lắc lắc cho phải phép.

– Có gì nóng nóng cho tớ một ly coi. Bạn bè từ xa đến thăm thì “không rượu thì trà chứ”

Gã lừng khừng trả đủa:

– “Chẳng mấy khi bác tới nhà, vợ thì không có chợ thời xa…” Cà phê nhá, hay làm tí rượu cho ấm bụng?

– Gì cũng được, miễn là có uống.

– Ông lại tới vòi bài cho báo bủng của ông phải không. Nếu không vậy thì cả năm cũng chẳng thấy mặt ông đâu cả.

– Hiểu nhau quá rồi còn phải hỏi. Nhưng ông ngôn  như vậy là oan cho tôi lắm đấy. Tôi có bỏ ông bao giờ đâu.

– Ừ, ông vẫn lên lên xuống xuống một tháng đôi lần. Ậy, nhưng ta gác bút từ lâu rồi, ngồi mỏi cả lưng nặn không ra một chữ còn viết lách cái nỗi gì.

– Tôi biết, tôi biết. Bây giờ ông gõ keyboard chữ đâu còn như ngày xưa nữa mà bút mới chẳng viết. Từ ngày bà ấy bỏ ông đi ông chẳng thí cho anh em bài nào cả.

“À anh đang nói chuyện với ông nhà báo… Em bảo sao? Em khát nước hả? Ừ để anh rót nước cho em…” Gã lẩm bẩm!

– Ông đang nói chuyện với ai vậy? Ông nhà báo ngạc nhiên hỏi.

– Thì nói chuyện với người tình của ta chứ ai vào đây… “Ừ anh mang nước vào cho em ngay đây… Anh đã nói với em là anh đang nói chuyện với ông nhà báo rồi mà…”

– Ông lại lộn xộn nữa rồi phải không? Bà ấy mới mất… Mà tôi đâu có nghe tiếng ai nói đâu.

– Ông không nghe nhưng ta nghe. Mà ông vừa nói ta lộn xộn là lộn xộn cái nỗi gì mới được chứ?

– Thì ông lộn xộn với người ông đang nói chuyện ấy mà?

– Ông nói ông hay với nàng?

– Nàng nào? Ông lộn xộn với cái nàng ông đang nói chuyện đấy.

– Ta không hiểu ông muốn ám chỉ ai. Mấy chục năm nay ta chỉ có một mình nàng và chỉ yêu một mình nàng.

Ông nhà báo vội lảng sang chuyện khác nên hỏi:

– Tôi thì hư quá về chuyện tình ái, ông biết tỏng ra rồi. Tôi hỏi thực là ông có điều gì phải hối hận với bà xã không?

– Hối hận à? Ông muốn hỏi ta là có hối tiếc điều gì đã làm không đúng trong cuộc sống vợ chồng phài không? Có đấy, những điều nho nhỏ thì không kể nhưng ta đã nói một câu mà đến giờ ta ân hận quá. Số là khi ta và nàng đang vun khoén cuộc tình cho xum xuê hoa lá, lúc đó ta hút thuốc nhiều lắm, ta hút thuốc từ năm mười bảy tuổi cơ mà.

Có lần ta hỏi nàng: “Em có khó chịu khi anh ngồi bên em mà hút thuốc không?” Không biết vì nàng không muốn làm ta buồn hay thời gian đó vấn đề hút thuốc chưa được các ông bà bảo vệ sức khỏe lưu ý nên nàng đã thỏ thẻ trả lời ta như thế này: “Đàn ông cầm điếu thuốc mới thật ra vẻ là đàn ông…” Thế là từ đó ta cảm thấy thoải mái phì phèo điếu thuốc khi ngồi bên nàng mà không thắc mắc gì cả.

Nhưng kể từ khi bước chân sang nước Mỹ thì dường như chuyện hút thuốc lá của ta trở thành “có vấn đề” Một lần ta đang bực bội chuyện gì ấy mà nàng cứ càm ràm chuyện bỏ thuốc, lúc đó ta bực mình quá nên cao giọng “Anh có thể bỏ vợ nhưng không thể bỏ thuốc!” Đến bây giờ ta muốn nói với nàng một lời xin lỗi, nhưng đã muộn, đã muộn màng rồi phải không ông nhà báo! Bây giờ ta còn làm được gì ngoài sự hối hận nữa đây? Ta thương nàng quá, ta thương nàng hơn cả chính bản thân ta.

Ông nhà báo có thể nghĩ ta nói phóng lên, nhưng sự thực là như vậy. Nàng đã như một cái phao cho ta bám lấy giữa một lúc ta gần như đã chìm lĩm dưới lòng đại dương. Nàng kết nối cuộc đời với ta được trọn vẹn bốn mươi sáu năm trước khi nàng bỏ ta đi. Không biết ta có mang đến cho nàng ít hạnh phúc nào không. Đây cũng là điều ta cứ xót xa từ ngày nàng bỏ đi. Cuộc sống của một người lính không cho phép ta luôn luôn cận kề bên nàng. Một mình nàng đã thay ta làm tất cả mọi việc. Đi làm về nàng lo cơm nước cho đàn con nhỏ nên bận luôn tay. Giấc ngủ của nàng chắc cũng không yên khi những đứa con sổ mũi nhức đầu hay đói sữa lúc nửa khuya. Dù biết rằng đó là tình cảnh chung của những người có chồng khoác áo lính, nhưng ta lại là một người lính nghèo chỉ sống bằng dồng lương hàng tháng. Đến giờ ta thật hãnh diện “là một người lính sạch”

Ta về cưới nàng khi đang theo đơn vị hành quân ở Quảng Ngãi nên “Cưới nhau xong vội đi…!” Đám cưới không có lấy một tấm hình kỷ niệm và cũng chẳng có một ngày nào gọi là “Thời gian trăng mật” Mười năm trông đợi chồng về sau ngày tháng tư đau buồn của cả quê hương. Ngày ta trở về cũng là ngày ta đưa bốn đứa con đi thăm nàng trong “Lầu bát quái!” Ông nhà báo thấy có thê thảm không!

Có lẽ ta chỉ bù đắp cho nàng được phần nào trong chặng đời sau khi đưa nàng và con cái thoát khỏi nanh vuốt của những ngưòi mang danh là “cắt mạng!”

– Chắc vì vậy mà đã bao lâu nay ông cứ bị dằn vặt, ông không thể nào quên được bà ấy. Lúc nào ông cũng ngơ ngơ ngẩn ngẩn như kẻ mộng du vậy!

– Quên ư! Khi nhận kết quả khám nghiệm của nàng ta choáng váng như vừa bị trời đánh hụt! Nàng vướng vào căn bệnh quái ác và cuộc sống của nàng còn lại chỉ được tính bằng từng ngày. Cơ thể nàng lả dần, những ngày cuối nàng không còn nói được nữa. Lúc đó phần cơ thể bên trái của nàng đã bị ảnh hưởng nặng nề. Nàng biết nàng sắp xa ta vĩnh viễn nên bàn tay phải của nàng nắm thật chặt tay ta như e sợ bị vuột mất bất cứ lúc nào. Ta cầu mong nàng tránh khỏi những cơn đau thể xác mà căn bệnh này thường gây ra.

Thời gian rất ngắn ta được săn sóc nàng nhưng cũng không trọn vẹn. Những tháng năm của cuộc sống và đời tù đã vắt cạn sức lực của ta. Dìu nàng từng bước đi nặng nề đôi lúc ta cũng không gượng lại được. Những lúc siêu vẹo như vậy nàng lại thở dài:”Anh cũng yếu quá rồi!”

Nàng đã như chiếc lá mùa thu, mạch sống cạn dần, như ngọn đèn leo lét, chập chờn trước gió. Ta làm sao giữ lại chiếc lá trên cành mà nhựa sống đã khô héo, làm sao cho ngọn đèn sáng mãi khi phao dầu đã cạn!

Đã bao nhiêu đêm ta nằm trong bệnh viện để săn sóc nàng. Mệt mỏi làm ta lịm vào giấc ngủ, khi giật mình thức giấc ta hốt hoảng sờ trán nàng thấy vẫn còn hơi ấm ta mới lấy lại bình tĩnh. Những ngày sau cùng nàng không nuốt được nữa mà chỉ còn thoi thóp níu kéo lấy sự sống bằng những chai nước biển! Đôi môi nàng khô khốc, nàng không khác gì thân cây trơ trụi lá giữa mùa thu! Nhìn nàng thoi thóp trong giấc ngủ lòng ta quặn đau. Bao lần ta muốn ghì nàng trong vòng tay để truyền sang cho nàng tất cả mạch sống của chính ta.

Đâu còn nữa mái tóc dài óng mượt mà ngày xưa ta nghịch ngợm lùa những cón tay làm xõa tung. Nàng lại giận dỗi “Anh lại làm rối tung tóc em rồi đây này” Ta chùm kín mặt bằng mái tóc dài của nàng để tận hưởng hương vị mái tóc của người tình!

– Tôi nghĩ sự mất mát sẽ cho ông cảm hứng nhiều hơn để viết chứ?

– Ông nhà báo ơi, mấy ông nhà văn nhà thơ cứ lấy cớ là những người viết lách phải có cuộc sống phóng túng, buông thả; khác người. Chạy theo những đòi hỏi của xác phàm… Ta thấy đó chỉ là những cái cớ để bào chữa cho những việc làm chẳng tốt đẹp gì. Điều đó có thể đúng, nhưng ta nghĩ là mọi việc phải đến một cách tự nhiên chứ không phải là gượng ép.

Khi nỗi đau vượt quá sự chịu đựng thì hồn mình sơ cứng lại chẳng làm gì ra hồn cả đâu. Như bây giờ quanh căn nhà này, ở nơi nào dường như ta vẫn thấy nàng đang nói, đang cười; hay đang cau có giận hờn ta vì cái bản tính hơi chướng của ta.

– Ông có thấy bà ấy về với ông trong những giấc mơ không?

– Thường thì ta ngồi làm cái gì đó cho đến khi cơ thể rã rời và cặp mắt không nhướng lên nổi nữa thì ta nằm xuống. Khi đã nằm xuống thì chìm ngay vào giấc ngủ nên chẳng còn biết trời đất gì cả. Ta ngủ say như chết, một giấc đến bảnh mắt mới thức giậy.

Ta kể đến đâu rồi nhỉ? Ừ, sau khi có kết quả khám nghiệm thì ta chết điếng, lúc nào cũng như kẻ mất hồn. Mặc dù các con cháu đều không nói cho nàng biết căn bệnh, nhưng hình như nàng cảm nhận được từ sức khỏe của chính mình nên nàng thường nói với ta “Anh mở cho em nghe bài Kinh Giải Thoát”

– “Em không phiền trách gì anh cả sao? Cám ơn em, nhưng anh vẫn cảm thấy không an tâm. Em vẫn ở bên cạnh anh à. Em nói sao… Em không muốn làm anh mất ngủ?”

– Ông làm gì mà cứ lảm nhảm như người mộng du vậy? Tôi có nghe tiếng người nào đâu.

– Có thể tần số âm thanh nàng nói chỉ dành cho một mình ta nghe được mà thôi.

– Ông có thấy bà ấy không? Tôi đang nổi cả da gà lên đây này.

– Ông nhát gan quá. Hồi xưa ông mà là cấp chỉ huy trong quân đội thì mấy thằng em tiêu tùng hết trơn rồi.

– “Anh chỉ nói dỡn với ông nhà báo này thôi mà. Em không bằng lòng à… Cho anh xin lỗi vậy!”

Quay qua ông nhà báo:

– Nàng không muốn ta nói dỡn với ông như vậy. Nàng ngại ông phật lòng. Thế này nhá, chiều nay ta sẽ cố ngồi tập trung viết để cung cấp bài cho ông nhà báo. Đã mấy tháng nay ta cũng cố lắm đấy chứ, nhưng gõ được vài giòng đọc lại thấy vô duyên quá. Bỏ!

– Ông không thể quên đau buồn vì mất mát để tiếp tục vui với cuộc sống, để làm những việc ông đang theo đuổi sao?

– Quên ư, tại sao ông nhà báo cứ luẩn quẩn với quên và nhớ vậy. Ta nghĩ đôi khi quên chưa hẳn đã tốt hơn nhớ. Có những điều ta nên quên nhưng cũng có những điều phải nhớ. Vết thương sau khi lành vẫn để lại cái sẹo trên da thịt thì làm sao mà quên cho được.

Ta lấy thí dụ như ngày ba mươi tháng tư năm bảy lăm đau thưong của cả dân tộc Việt Nam thì làm sao mà quên. Có lẽ vì cái quên cố ý đó mà cho đến nay không biết bao nhiêu người về nước để ca tụng kẻ thù xưa không tiếc lời! Một nhóm khác lại rửng mỡ trở về quê hương tìm thú vui trên thân xác những người phụ nữ chỉ bằng tuồi con cháu mình! Theo ta đó là những người cố ý quên chứ không phải là khối óc không còn nhớ.

Với hoàn cảnh sống của ta hiện nay, ông nhà báo cứ nghĩ coi, mỗi buổi sáng từ trên lầu bước xuống qua phòng nàng, mỗi bữa ăn không có nàng nấu cho ta những món ăn ta thích như những ngày trước; mỗi khi lái xe đi đâu cũng không có nàng ngồi bên cạnh. Ta chẳng thể nào quên, ngay cả những lúc nàng giận hờn, trách ta điều này trách ta điều nọ cũng vẫn là những kỷ niệm bám riết vào nỗi nhớ của ta.

– Nhưng nếu ông cứ nhớ từng ly từng tí như vậy thì làm sao ông có thể vui với những ngày còn lại của đoạn đời sau?

– Ơ cái ông nhà báo này, theo ông thì nhớ không phải là một niềm vui sao. Một buổi tối ta ngồi uống cà phê bên cạnh nàng ở Time Squares. Một đàn chim bồ câu xà xuống kiếm ăn. Nhìn chúng sao mà vô tư trong khung cảnh thanh bình quá. Ông nhà báo thấy không, ở xứ này loài người sống thật gần gủi với thiên nhiên và xúc vật. Cả những con chim bồ câu cũng hòa mình vào cuộc sống ở một nơi không phân biệt được giữa đêm và ngày với những âm thanh không ngừng, lúc nhúc từng giòng người đi lên đi xuống không dứt. Đó là kỷ niệm trong lần lên thành phố New York cuối cùng. Lần này ta không bận nhiều nên đã đưa nàng tới Ground Zero, nơi toà tháp đôi bị xập. Ta còn đưa nàng tới cả toà nhà Liên Hiệp Quốc nữa.

Trên đường suối Nam ta cùng nàng ngồi xe buýt tới thăm vợ chồng người bạn ở cái thành phố nhỏ xíu với cái tên khá lạ King of Prussia trong tiểu bang Pensylvania. Sau đó về Virginia thăm vợ chồng thằng út.

Nàng dường như rất an tâm khi có ta ngồi bên cạnh. Xe vừa khởi hành nàng đã tựa đầu trên vai ta ngủ say sưa. Nàng chợt thức giấc “Em làm anh mỏi tay ?” Ta vít đầu nàng dựa trên vai “Em ngủ tiếp đi cho khỏe”

Từ ngày gặp gỡ cho đến những ngày cuối cùng của cuộc đời vẫn giữ mãi các xưng hô “Anh, Em” Có một vài người khó tính nói già rồi mà cứ giữ cách xưng hô như vậy. Kỳ! Ta chỉ cười.

Có một lần ta đưa nàng tới thăm công viên La Fayette trước tòa Bạch Ốc. Ta nói nàng xòe tay ra và đặt vào lòng bàn tay nàng mấy hạt đậu phọng. Mấy chú sóc từ trên cây nhảy phóc lên người nàng, đứng nghe ngóng trên vai nàng, rồi lần xuống ăn những hạt đậu phọng rất tự nhiên như “Người Sàigòn vậy” Ta thấy nàng co rúm lại, có lẽ e ngại chú sóc làm hỗn. Ta phải nắm lấy tay để nàng yên tâm.

Muời mấy năm nay ta chưa trở về, nghe nói cả thành phố Sàigòn bây giớ vắng cả tiếng chim hót líu lo trên cành. Cái đất nước gì mà kỳ quái, đến cả con người cũng còn e dè tìm cách lấn át hại nhau huống chi đối với loài xúc vật! Mọi người tìm đủ mọi cách trốn chạy “cái nhà nước của bầy hủi”

Đó chính là niềm vui của ta trong nỗi nhớ. Ta nhớ để trau chuốt tình yêu của nàng đã dành cho ta.

Lúc ở trại tù Z30.A ngồi tán chuyện với mấy tên bạn. Có một đứa cắc cớ đặt vấn đề: “Nếu bây giờ được thả về mà bà xã đã –  ôm cầm sang thuyền khác – thì các ông tính sao?” Ta có đưa ý kiến như thế này: “Nếu như ngày xưa viên đạn quật ngã mình ở chiến trường thì mấy bà chịu tang ba năm là quí quá rồi. Từ ngày chui vào nhà tù cộng tới nay đã chin năm dài thì chuyện mấy bà có bỏ đi lấy chồng cũng chẳng đáng trách. Chỉ mong mấy bà đừng lọt vào cái bẫy của cộng sản – Vợ ngụy ta lấy, nhà ngụy ta ở, con ngụy ta sai-  là tốt rồi. Nếu khi trở về các bà vẫn còn chờ đợi thì bọn mình phải đóng một cái ngai lên để thờ!”

Ta đã là một trong số những người có được hạnh phúc đó.

Ngày ta khăn gói quả mướp bước vào tù gia đình ta rất nghèo. Mỗi tháng lương của hai đứa lãnh ra để trong một cái hộp. Đứa nào cần thì lấy tiêu, miễn sao kéo dài đến ngày lãnh lương kế tiếp. Có ai ngờ được là “Thuở trời đất nổi cơn gió bụi” như vậy đâu! Cả nhà còn vài trăm bạc. Ta đưa cho chú tài xế cái đồng hồ Rolex mua lúc đi du học ở Mỹ nhờ chú ấy đem bán để mua hai bao gạo. Chú ấy đem về hai bao gạo loại năm chục cân và mười nghìn đồng. Ta chia cho chú ấy một nửa, nhưng chú ấy nhất định không nhận “Ông thầy cứ cầm hết để lo cho các cháu, em còn đủ sống!” Ta nhớ chú ấy tên là Quan, cấp bậc Hã Sĩ nên quen miệng gọi “Hạ Sĩ Quan” nên bây giờ vẫn nhớ. Những người lính lúc nào cũng thương nhau ông ạ.

Nàng từ bỏ thành phố Vũng Tàu về Sàigòn sau khi bị cho nghỉ việc lý do ”vợ ngụy…”. Bàn tay chỉ biết cầm cây viết phải bương chải kiếm sống nuôi bốn đứa con thơ lại còn phải tiếp tế cho chồng sống cầm hơi trong tù! Ta nghe kể lại những chuyến buôn thịt heo, thịt bò từ Tây Ninh về mà khiếp vía. Những miếng thịt được quấn quanh người để vượt qua những cặp mắt bọn “kiểm soát kinh tế” mong kiếm được bữa cơm bữa cháo sống qua ngày! Có những lần bị bắt, mất sạch!

– Độ này nói chuyện với ông như đang nói chuyện với “người cõi trên” vậy. Ông cứ muốn thoát ra khỏi cái hiện tạị để quay về với quá khứ.

– Ông nhà báo ạ, ông cứ nghĩ lại mà coi, có ai bằng lòng với cái hiện tại đâu, cả ông cũng vậy. Chính ông cũng đang mong cho tờ báo, đứa con tinh thần của ông thăng hoa với số độc giả mỗi ngày một gia tăng phải không nào? Ta muốn thoát ra khỏi cái hiện tại để tìm lại những gì đang mất mát. Một tình yêu, một quá khứ với quê hương, và ngay cả giòng sông mà thuở nhỏ một lần chút nữa là ta bị chết đuối.

Hình như có một triết gia nào đó đã phán: “Người tuổi trẻ luôn hướng đến tương lai, còn người già lại quay về sống với quá khứ” là gì. Đúng quá đi chứ. Ta đang nắm cái đuôi của quá khứ kéo lại nhưng ta cứ bị lôi tuột đi từng ngày.

Ừ ta nhớ lại một giòng sông thuở nhỏ, lúc đó ta khoảng bảy, tám tuổi gì đó. Nhìn mấy người lớn đứng trên cầu phóng xuống sông bơi lội. Ta mê quá nên cũng leo lên cầu phóng xuống…! Chìm nghỉm. May có một ông lính nhảy xuống nắm được mớ tóc của ta lôi lên. Thoát chết!

Mấy chục năm ta quên bẵng tên con sống. Ông biết tên con sông chạy ngang qua Kiến An ấy mà? Khổ nỗi là hồi đó ta học nhẩy nên cả năm chỉ lo gạo mấy môn chính, mấy môn phụ như sử địa thì ta chỉ có thì giờ lướt qua như đọc tiểu thuyết vậy nên bây giờ chẳng còn nhớ nữa.

– Có lần ông nói với tôi ông là dân di cư từ Hà Nội vào Nam cơ mà?

– Đúng thế. Ta ờ Kiến An có mấy tháng rồi theo ông cụ về Hà Nội. Ta vốn là dân đồng chua nước mặn, nhà quê nhà mùa. May nhờ mấy năm ở Hà Nội cuộc đời ta mới sáng sủa lên được một tí đấy. Về Hà Nội ta ở ngay phố Ngọc Hà, ngày nào cũng theo mấy tên nhóc tì đi bơi ở mấy cái ao trong làng Ngọc Hà. Bà mẹ ta nói người ta toàn mùi bùn! Ông nhà báo nhớ làng Ngọc Hà ở Hà Nội không? Cụ Nhất Linh và Khái Hưng đã lấy khung cảnh làng Ngọc Hà để viết cuốn Gánh Hàng Hoa ấy mà.

“…Anh nói lớn tiếng quá à. Ừ, anh xin lỗi. Em vẫn thường nói mỗi lần anh nói chuyện y như cãi nhau vậy. Cái laptop hả? Anh để trên phòng anh, để anh lấy cho em nghe giảng pháp nhá…”

– Ông lại lải nhải với ai nữa vậy?

– Nàng bảo ta mang cái laptop cho nàng nghe thuyết pháp. Ừ mà ông làm thêm tí vàng nữa cho ấm bụng nhá. Mùa đông năm nay thật hiền, mới có hai đợt tuyết mỏng. Giữa đông mà vẫn còn những mảng nắng vàng le lói. Khí hậu ở tiểu bang này cũng động cỡn lắm. Buổi sáng lạnh như cắt da cắt thịt; đến trưa lại nóng như trong sa mạc vậy. Những cơn gió lốc thì khỏi chê, xe cộ cây cối nhà cửa tan nát hết. Người ta trốn không kịp cũng bị ông thần gió này cuốn đi mất tiêu luôn.

– Tôi ở trên miền Đông Bắc, bao nhiêu năm chịu đựng những cơn bão, những trận tuyết mù trời mù đất bây giờ xuống miền Nam hưởng chút nắng ấm cũng đỡ khổ cho cái thân già.

– Ta rất mê khung cảnh mùa thu Virginia của ông nhà báo. Cứ mỗi mùa thu về ta lại kiếm cớ lên đó để hưởng cái thú lang thang một mình đi giữa khung trời mênh mông đầy mầu sắc của thiên nhiên.

Trong thời gian du học ở đất nước này ta cũng được thưởng thức ngày “Cherry blosoom Festival” thật hấp dẫn trên đường phố ở Washington DC. Đất nước này quá rộng lớn, trải dài từ đông sang tây tới bốn năm múi giờ nên thời tiết mỗi vùng một khác.

Có một lần cách nay cũng sáu bảy năm rồi. Từ New York ta đưa nàng đi thăm một tên bạn của thuở hàn vi ở thành phố Atlantic. Hai đứa đứng ngắm những đợt sóng của Đại Tây Dương phẫn nộ đập vào bờ ầm ầm trong cơn mưa lất phất. Hình như thời tiết hôm đó ảnh hưởng cơn bão rớt dưới miền Nam đưa lên. Một con sóng ập vào bờ, nước văng lên làm ướt cả áo nàng. Ta phải khoác chiếc áo lạnh của ta đang mặc cho nàng, nàng run lẩy bẩy trong vòng tay. Ngày hôm sau hai vợ chồng leo lên Greyhound về Virginia. Cơn bão đuổi theo suốt dọc đường trong cơn mưa dai dẳng không dứt. Về tới Virginia đâu khoảng sáu bảy giờ tối. Cây cối gẫy đổ ngổn ngang, đường sá tối thui vì mất điện.

Đấy là những kỷ niệm chẳng thể quên phải không ông nhà báo?

Thời tiết ở miền Nam nay đôi lúc cũng dữ dằn lắm chứ chẳng vừa đâu. Ông con nhớ cách nay hai năm lúc ông xuống đây cùng với cái ông luật sư bạn ông không? Hôm đó thành phố Dallas là một biển tuyết mênh mông, nhiệt độ xuống thật thấp. Vì đã hẹn, một mình ta trên chiếc van vượt qua đoạn đường tuyết phủ để xuống với ông.. Sau buổi “Ra mắt sách” ông lên xe về lại Virginia diệu vợi, còn ta vượt qua gần bốn giờ lái xe trong đêm để về lại Oklahoma. Hai ông phong phanh cái áo ấm mỏng dính! May mà hôm đó ta đưa cho ông cái sleeping bag và bà vợ ông bạn ta đưa cho ông bình nước nóng và phong bánh chứ không là giờ này ông hết có đến mè nheo ta nữa rồi. Hình như lần đó ông “làm nũng” với bà xã tới cả hai tuần phải không? Ta cũng lo nên cứ gọi điện thoại cho ông suốt đoạn đường băng giá cho đến khi ông về đến nhà bình yên.

– Ông có dự định gì cho tương lai không?

– Tương lai à, ta mà còn có tương lai sao? Ngày mai, tháng tới hay sang năm cũng chỉ còn là thời gian phiền muộn. Nàng đã mang theo tất cả niềm vui của ta đi mất rồi “Đời vắng em rồi vui với ai!”

Mai mốt ta sẽ phải làm “Tây ba lô” để chạy trốn kỷ niệm một thời gian. Từng giờ từng ngày cứ phải đối mặt với niềm đau mất mát ta cũng cảm thấy khá mệt mỏi.

Gã tiễn ông nhà báo ra về rồi lần bước lên căn lầu, một thế giới riêng cùng nỗi nhớ thương người vợ đã bỏ gã lại thế gian này ra đi một mình…!

Ngũ Lang
Vùng gió xoáy mùa đông 2012
Nguồn: Tác giả gửi

Đã đóng bình luận.